Chương 1: Cơ sở lý luận của việc gắn kết quả NCKH với đào tao. Chương 2: Thực trạng ứng dụng kết quả NCKH với đào tạo của trường ĐHỌT Hong Bàng. Chương 3: Xây dựng quy chế ứng dụng kết quả NCKH vào đào tạo của trường DHQT Hồng Bàng. 15 CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA VIỆC GẮN KET QUÁ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VỚI ĐÀO TẠO 1.
Khái quát về hoạt động nghiên cứu khoa học và đào tạo 1. Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động NCKH là tông hợp tất cả hoạt động mang tính khoa học nhằm phát hiện cũng như tạo ra những quy luật, mô tả, giải thích nguyên nhân vận động của sự vật, hiện tượng hoặc sáng tạo nguyên lý, những giải pháp, bí quyết, sáng chế,. và có tính ứng dụng trong thực tiễn. Khoa học Khoa học là “hệ thống tri thức vé mọi loại quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy”.
Đây cũng là khái niệm được sử dụng rộng rãi và được UNESSCO sử dụng trong các văn bản chính thức của mình [8; tr. Nghiên cứu khoa học Hiện nay, ở nước ta còn ton tại nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm NCKH: Luật KH&CN năm 2013 đưa ra khái niệm “NCKH là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiên” [1; điều 2]. Cũng theo những quan điểm trên, Vũ Cao Đàm “NCKH là sự phát hiện bản chất sự vat, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sang tao phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới dé làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người. Về mặt thao tác, có thé định nghĩa, NCKH là quả trình hình thành và chứng mình luận điểm khoa học về một sự vật hoặc hiện tượng can khám phá” [8; tr.
Trong khuôn khổ luận văn này, NCKH là một hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm. Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,. đạt được từ các thí nghiệm NCKH để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và dé sáng tạo phương pháp và phương 16 tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn nhằm ứng dụng vào thực tiễn phục vụ mục đích của con người. Phân loại hoạt động nghiên cứu khoa hoc Theo quan niệm của Vũ Cao Đàm, NCKH được chia làm 3 loại: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai, gọi chung là nghiên cứu và triển khai, viết tắt tiếng Anh là R&D.
- Nghiên cứu cơ bản là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cau trúc, động thái các sự vật. Kết quả nghiên cứu cơ bản có thể là các khám phá, phát hiện, phát minh, dẫn tới hình thành một hệ thống lý thuyết mới. - Nghiên cứu ứng dụng là sự vận dụng quy luật được phát hiện từ nghiên cứu cơ bản để giải thích một sự vật hoặc tạo ra những nguyên lý mới về các giải pháp. - Triển khai là sự vận dụng các lý thuyết để đưa ra các vật mẫu và công nghệ sản xuất vật mẫu với những tham số khả thi về kỹ thuật.
Hoạt động triển khai gồm 3 giai đoạn: 1/.Tạo mẫu: là giai đoạn thực nghiệm nhăm tạo ra được sản pham mau, chưa quan tâm đến quy trình hình thành mẫu đó.Tạo quy trình: còn gọi là giai đoạn “làm pilot”, là giai đoạn tìm kiếm va thử nghiệm công nghệ dé sản xuất ra sản phâm theo mẫu vừa thành công trong giai đoạn thứ nhất (giai đoạn tạo mẫu).Lam thí điểm loạt nhỏ: còn gọi là lam “Série 0”. Day là giai đoạn kiêm chứng độ tin cậy của quy trình trên quy mô nhỏ [8; tr. Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động NCKH chính là các hoạt động chủ trì thực hiện chương trình, dự án, đề tài NCKH các cấp; hoạt động phát triển công nghệ, dự án sản xuất thử nghiệm, dự án ươm tạo công nghệ; thực hiện các hợp đồng KH&CN; hoạt động viết giáo trình, sách và công bố các kết quả nghiên cứu trên tạp chí khoa học, báo cáo tại các hội thảo khoa học trong và ngoài nước, hướng dẫn sinh viên NCKH. Hoạt động NCKH bao gồm các nhân tố: 17 - Chủ thể của NCKH: Theo quan điểm hàn lâm NCKH là của các nhà khoa học có pham chat tri tué va tai nang đặc biệt, được đào tao chu đáo.
Quan điểm này không sai, nhiều nhà khoa học tài năng đã có những phát minh đóng góp lớn cho khoa học của nhân loại; nhưng chúng ta không nên quan niệm NCKH là của riêng nhà khoa học “thực thụ”, trong thực tế cũng có những người sản xuất bình thường có thê NCKH, họ thử nghiệm đề tìm kiếm những cái mới phục vụ cho sản xuất và đời sống. Ngoài ra với sự cần thiết liên kết đa ngành, chủ thể nghiên cứu có khi là một tập thê. - Mục đích cia NCKH: Là tìm tòi, khám phá các quy luật vận động cua thé giới tự nhiên và xã hội, nhằm ứng dụng chúng vào sản xuất hay tạo ra những giá trị tinh thần, thỏa mãn nhu cau của con người. NCKH không chi đơn thuần đề nhận thức thế giới mà còn phục vụ lợi ích của xã hội, con người.
- Phương pháp NCKH: Là con đường, giải pháp tiếp cận dé phát hiện bản chất vấn đề. Phương pháp NCKH rat đa dạng, tùy thuộc vào lĩnh vực nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu. Có thé là tổng quan các kết quả đã có; khảo sát phân tích, đánh giá; thử nghiệm cách sản xuất mới; hệ thống hóa - mô hình hóa các quy luật khách quan, phân tích chuyên gia,. - Sản phẩm của NCKH: Tạo ra thông tin mới, sản phâm mới, lý thuyết mới,.
Cho nên có thé nói khoa học luôn hướng đến cái mới, nhiều ý tưởng khoa học độc đáo đi trước thời đại đã dẫn dắt sự phát triển của thực tiễn. Tuy nhiên cũng cần có nhận thức cái mới ở đây không phải quá lớn lao, trong điều kiện phân hóa khoa học theo từng lĩnh vực hẹp, thì cái mới có thể rất nhỏ nhưng sẽ góp phần đóng góp cho phát triển xã hội. - Giá trị khoa học: Được quyết định bởi độ tin cậy, tính ứng dụng và quy mô phạm vi áp dụng phục vụ cuộc sống. Sản phâm khoa học phải có tính khách quan, có thé kiểm tra và đánh giá được.
Hoạt động NCKH là một tiến trình thử nghiệm cái mới, do đó có thê thành công hay thất bại. Đồng thời NCKH là một hoạt động khó hạch toán kinh tế như là chi phí công sức, trí tuệ; sản pham NCKH có thé là một tài sản vô giá nhưng cũng có thé là sự chi phí tốn kém mà không đem lại kết quả gi. 18 Do đó NCKH cần được xem xét thận trọng và phân tích, dự báo can thận trước khi tiến hành để tránh rủi ro và lãng phí [22; tr. Kết quả nghiên cứu Kết quả nghiên cứu được thê hiện trên nhiều hình thức khác nhau: Có thé là những thông tin về quy luật của sự vật, là những giải pháp trong công nghệ, trong tổ chức va quản lý; cũng có thé là những vật mẫu với những thông số có giá trị khả thi về mặt kỹ thuật, v.
Bất ké giai đoạn nghiên cứu nào, bản chất sản phẩm nghiên cứu cũng là thông tin. Tuy nhiên, chúng ta chỉ có thể tiếp xúc với thông tin thông qua các loại vật mang khác nhau như các bài báo cáo khoa học, băng ghi hình, băng ghi âm, các bản mô tả quy trình, công thức, kỹ năng, bí quyét,. đối với khoa học kỹ thuật đó là những công nghệ mẫu, sản phâm mẫu [8; tr. Nói cách khác, kết quả nghiên cứu là những sản phẩm thu được sau một quá trình nghiên cứu.
Đó có thể là một bài báo khoa học, một báo cáo khoa học, một sản phẩm mẫu thu được sau quá trình thực nghiệm, cũng có thể là một mô hình tổ chức và quản ly, mô hình phương pháp giảng dạy hoặc một giải pháp xã hội nao đó [7; tr. Đặc điểm của nghiên cứu khoa học Theo Vũ Cao Đàm, đặc điểm của NCKH là sự tìm tòi những sự vật mà người nghiên cứu chưa biết, đặc điểm của NCKH bao gồm: - Tính mới: là thuộc tính quan trọng của NCKH. Quá trình NCKH luôn là quá trình hướng tới những phát hiện mới hoặc sáng tạo mới, không có sự lặp lại như cũ những phát hiện hoặc sáng tạo mà các đồng nghiệp đi trước đã thực hiện. - Tinh tin cậy: kết quả nghiên cứu phải có khả năng kiểm chứng, một kết quả thu được ngẫu nhiên dù phù hợp với giả thuyết đã được đặt ra trước đó cũng chưa thé xem là đủ tin cậy dé kết luận về bản chất của sự vật hoặc hiện tượng, cần phải kiểm chứng nhiều lần trong những điều kiện quan sát hoặc thí nghiệm hoàn toàn giông nhau.
19 - Tính thông tin: sản phẩm NCKH được thể hiện dưới dạng báo cáo khoa học, tác phẩm khoa học, mẫu sản pham mới, mô hình mới. luôn mang đặc trưng thông tin về: quy luật vận động của sự vật, một quá trình xã hội, quy trình công nghệ và các tham số đặc trưng. - Tinh khách quan: vùa là một đặc điểm của NCKH vừa là một tiêu chuẩn về pham chất của người NCKH. Dé đảm bảo tính khách quan, người nghiên cứu cần phải luôn đặt các câu hỏi ngược lại những kết luận đã được xác nhận, giúp loại bỏ những nhận định, kết luận chủ quan trong kết quả nghiên cứu.
- Tính rủi ro: sự thất bại trong NCKH hoàn toàn có thé gặp phải do quá trình khám phá bản chất sự vật và sáng tạo sự vật mới. Trong NCKH, thất bại cũng được xem là một kết quả nghiên cứu. Xét về ý nghĩa kha học, đây là một kết quả quan trọng, giúp những người nghiên cứu tiếp theo không dẫm chân lên lối mòn, lãng phi các nguồn lực nghiên cứu. - Tính kế thừa: mỗi nghiên cứu hầu hết phải kế thừa các kết quả nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học khác nhau.
Tính kế thừa có ý nghĩa quan trọng về mặt phương pháp luận nghiên cứu, hàng loạt phương hướng nghiên cứu mới và bộ môn khoa học mới xuất hiện chính là kết quả kế thừa lẫn nhau giữa các bộ môn khoa học. - Tính cá nhân: đặc điểm này thê hiện vai trò cá nhân trong NCKH. Tính cá nhân được thể hiện trong tư duy cá nhân, nỗ lực cá nhân và chủ kiến riêng của cá nhân.