phần mở đầu, kết luận, luận văn có kết cấu gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan và cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực giảng viên Chƣơng 2: Phƣơng pháp luận và thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Phân tích thực trạng nguồn nhân lực giảng viên trƣờng ĐH LĐXH Chƣơng 4: Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực giảng viên trƣờng ĐH LĐXH 3 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC GIẢNG VIÊN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1.1 Nghiên cứu trong nước Để thực hiện chiến lƣợc phát trển đất nƣớc nhất là trong thời đại kinh tế tri thức, Việt Nam cần có nguồn nhân lực đƣợc đào tạo chất lƣợng cao đủ khả năng cạnh tranh và hội nhập quốc tế thành công. Để làm đƣợc điều đó, trƣớc hết cần có đội ngũ giảng viên chất lƣợng cao đảm bảo đủ về cơ cấu, số lƣợng và chất lƣợng. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về phát triển đội ngũ giảng viên, các tác giả đã chỉ ra cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển đội ngũ giảng viên của các trƣờng Cao đẳng, Đại học, Học viện.
- Luận văn thạc sĩ “Phát triển đội ngũ giảng viên của Trường Đại học Đại Nam giai đoạn 2011 - 2015” của tác giả Trịnh Thị Mai. Luận văn đã nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giảng viên trong đào tạo Đại học, đề xuất các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên ở trƣờng Đại học Đại Nam. - Luận văn “Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trong các trường đại học khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh khu vực phía Bắc” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng. Luận văn đánh giá một cách khoa học thực trạng của đội ngũ giảng viên các trƣờng đại học kinh tế và quản trị kinh doanh khu vực phía Bắc nƣớc ta hiện nay.
- Luận văn “Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá cán bộ giảng dạy trong trƣờng đại học” của tác giả Nguyễn Văn Thủy. Luận văn đã bƣớc đầu xây dựng cơ sở lý thuyết và thực tiễn cho việc xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên trong trƣờng đại học. - “Xây dựng đội ngũ giảng viên trong trường đại học – Thực trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hƣơng đăng trên tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học 28(2012)110-116. Bài viết đã đánh giá thực trạng đội ngũ và công tác quản lý đội ngũ giảng viên trong trƣờng đại học hiện nay, tác giả đã đề 4 z xuất những giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ giảng viên trong trƣờng đại học hiện nay ở nƣớc ta.
- “ Phát triển năng lực giảng viên nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong các trường đại học và cao đẳng trong điều kiện toàn cầu hóa và bùng nổ tri thức” của TS.Nguyễn Hữu Lam trung tâm Nghiên cứu và Phát triển quản trị - Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả đã chỉ ra những xu hƣớng đổi mới trong hệ thống đại học Hoa Kỳ, những thực tiễn tại Việt Nam và những kiến nghị cho việc phát triển đội ngũ giảng viên – nhân tố có tính sống còn trong việc nâng cao chất lƣợng giáo dục và đào tạo. Tác giả đã đƣa ra 3 năng lực mà ngƣời giảng viên cần phải có để làm tốt công việc của mình đó là: năng lực chuyên môn, năng lực giảng dạy, năng lực nghiên cứu. Nhƣ vậy, đã có nhiều nghiên cứu khẳng định ý nghĩa và tầm quan trọng của phát triển nguồn nhân lực giảng viên.
Tuy nhiên hiện tại chƣa có công trình nghiên cứu khoa học nào về việc phát triển đội ngũ giảng viên tại trƣờng Đại học Lao động Xã hội. Chính vì vậy việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực giảng viên tại trƣờng Đại học Lao động Xã hội là cấp thiết nhằm nâng cao hơn khả năng quản lý xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên của trƣờng.2 Nghiên cứu ngoài nước Trong những thập niên cuối của thế kỷ XX, các nghiên cứu về đội ngũ GV thƣờng gắn với nghiên cứu tổng thể giáo dục, cải cách giáo dục ở các nƣớc phát triển nhƣ Mỹ, Anh, Đức, Nhật Bản và Australia, đáng kể là: - Công trình nghiên cứu của nhóm công tác “Giáo dục là một ngành chuyên trách” của diễn đàn giáo dục và kinh tế Carnergie (Mỹ) đã đề xuất việc “Chính phủ chuẩn bị cho việc đào tạo GV thế kỷ XXI”. Trong đó, có các nội dung cơ bản liên quan đến đội ngũ GV nhƣ: + Khái quát về thời đại của sự biến động, những thử thách và thời cơ đối với ngƣời GV. + Nhà trƣờng của thế kỷ XXI với các nội dung: Ý tƣởng mới; 5 z Mục tiêu dạy học chuyên nghiệp; Các tiêu chuẩn mới về dạy học chất lƣợng cao; Cải cách cơ cấu giáo dục sƣ phạm; GV dân tộc ít ngƣời; Khuyến khích, thành tích và hiệu ích kinh tế; Tiền lƣơng và phúc lợi GV.
- Báo cáo nghiên cứu “Thực trạng giáo dục Nhật Bản” do nhóm công tác nghiên cứu giáo dục Nhật Bản thuộc Văn phòng nghiên cứu và cải cách giáo dục, Bộ Giáo dục Mỹ, thực hiện từ 1983 đến 1987. Trong nội dung, báo cáo nghiên cứu ghi nhận một trong sáu thành công của giáo dục Nhật Bả n là “Bồi dƣỡng một đội ngũ GV chuyên nghiệp hợp thức, có tinh thần hiến thân, đƣợc mọi ngƣời tôn kính, đƣợc ƣu đãi”. Trong báo cáo có đề cập đến “Nghề giáo viên” với các nội dung: + Thành phần và tƣ cách đội ngũ GV; + GV tiền nhậm chức; 10 + Đào tạo tại chức; + Công hội GV Nhật Bản; + Địa vị xã hội và kinh tế. Báo cáo nghiên cứu cũng đề cập đến cải cách giáo dục quốc gia Nhật Bản với các nội dung: Chẩn đoán của Hội đồng cải cách giáo dục với các vấn đề giáo dục, kiến nghị và kết luận của Hội đồng.
Hội đồng cải cách giáo dục khẳng định một trong tám nhiệm vụ chủ yếu của cải cách giáo dục là “Nâng cao chất lƣợng nguồn GV”. Kết thúc báo cáo nghiên cứu, Thứ trƣởng Bộ Giáo dục Mỹ W. Bennett đã liên hệ “Gợi mở cho giáo dục Mỹ”, với đề xuất 12 nguyên tắc, trong đó có 2 nguyên tắc: + Môi trƣờng nhà trƣờng và lớp học phải phản ảnh mục đích cần đạt đƣợc. + Một trƣờng học tốt cần có GV hợp thức, có tinh thần hiến thân.
Nếu một xã hội có thể trả cho GV thù lao hợp lý, trong xã hội GV đƣợc kính trọng, môi t rƣờng dạy học trật tự nghiêm chỉnh, quan hệ và trách nhiệm bình đẳng và có cơ hội để họ bổ 6 z túc nghiệp vụ, thì xã hội đó không những có thể thu hút mà còn có thể giữ chân đƣợc rất nhiều GV có năng lực. Kinh nghiệm của Nhật Bản cho thấy không phải chỉ thông qua Học viện giáo dục để đào tạo nguồn GV, có nhiều cách thức khác nhau để họ nắm tri thức cho chuyên ngành của mình và có năng lực truyền thụ tri thức cho học sinh. Trong nhà trƣờng ở Nhật Bản, mỗi lớp khi mở chƣơng trình đều có trên 5 ngƣời xin làm GV điều đó thể hiện cần có hệ thống chính sách tạo động lực thu hút giáo viên cho nhà trƣờng. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu phục vụ đào tạo nguồn nhân lực khoa học-kỹ thuật ở các nƣớc phát triển thể hiện quan điểm: + Chất lƣợng nguồn nhân lực là yếu tố quyết định tăng trƣởng kinh tế; + Đội ngũ GV là yếu tố quyết định chất lƣợng đào tạo nguồn nhân lực của mỗi quốc gia.
Kinh nghiệm của các nƣớc phát triển cho thấy: Một hệ thống đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu nhân lực có chất lƣợng của thị trƣờng l ao động cần phải dựa trên hệ thống chính sách phát triển ĐNGV hiệu quả. Đó là kinh nghiệm quý báu và thực tiễn để Việt Nam nghiên cứu vận dụng.Các khái niệm cơ bản 1. Nguồn nhân lực Có thể nói, khái niệm nguồn nhân lực hiện nay không còn xa lạ với nền kinh tế nƣớc ta. Tuy nhiên cho đến nay, quan niệm về vấn đề này hầu nhƣ chƣa thống nhất.
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về nguồn nhân lực: Theo giáo trình nguồn nhân lực của trƣờng Đại học Lao động – Xã hội do Nguyễn Tiệp chủ biên, in năm 2005 thì:“Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cƣ có khả năng lao động” [9. Khái niệm này chỉ nguồn nhân lực với tƣ cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. “Nguồn nhân lực đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cƣ trong độ tuổi lao động có khả năng lao động” [9. Khái niệm này chỉ khả năng đảm đƣơng lao động chính của xã hội.
7 z Theo giáo trình kinh tế nguồn nhân lực của trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân do Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh chủ biên, in năm 2008 thì: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội đƣợc biểu hiện ra là số lƣợng và chất lƣợng nhất định tại một thời điểm nhất định” [1. “Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cƣ, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng nhƣ trong tƣơng lai. Sức mạnh và khả năng đó đƣợc thể hiện thông qua số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu dân số, nhất là số lƣợng và chất lƣợng con ngƣời có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội” [1. Những khái niệm trên chỉ nguồn nhân lực ở phạm vi vĩ mô của nền kinh tế.
Tuy nhiên đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là vấn đề phát triển nguồn nhân lực giảng viên. Vậy trong phạm vi tổ chức, nguồn nhân lực đƣợc hiểu nhƣ thế nào? Theo giáo trình Quản trị nhân lực, đại học kinh tế quốc dân do Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân chủ biên xuất bản năm 2004 thì khái niệm này đƣợc hiểu nhƣ sau: “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những ngƣời lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực đƣợc hiểu là nguồn lực của mỗi con ngƣời mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực” [7. Nhƣ vậy, có rất nhiều ý kiến, quan niệm, và cách hiểu khác nhau về nguồn nhân lực.