Chương 1, Luận văn đề cập đến cơ sở lý luận, thực tiễn và pháp lý về triển khai và thúc đây hoạt động hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học. Đánh giá hiệu quả hoạt động hợp tác quốc tế về giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng ở trong khu vực ASEAN từ năm 1956 đến năm 1990. Trong bồi cảnh hợp tác sâu rộng về kinh tế, phát triển giao lưu văn hóa và luân chuyên nguồn nhân lực mạnh mẽ, luận văn cũng dé cập vai trò và ý nghĩa của hợp tác quốc tế trong đào tạo phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trong giáo dục đại học. Tại Chương 2, qua nghiên cứu các tài liệu của Ban Thư ký ASEAN, báo cáo thường niên của AUN về các hoạt động hợp tác nội khối và đa phương, nghiên cứu đánh giá hiệu quả và mô hình hợp tác trong mạng lưới AUN, tác giả đã tom lược chiến lược hợp tác giáo dục đại học và kết quả hoạt động hợp tác theo các lĩnh vực ưu tiên, lĩnh vực liên ngành trong và cấp thiết 16 trong khu vực ASEAN.
Chương 3, tác giả có nhận định về chiến lược hợp tác giáo dục đại học của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, đặc biệt, nhóm các nước phát triển hơn. Đây là các quốc gia có nền kinh tế phát triển hàng đầu khu vực: Singapore, Thái lan, Malaysia, Philippine, Indonesia. Cùng với sự phát triển và cạnh tranh trong kinh tế tri thức, các quốc gia trên cũng thể hiện sự cạnh tranh quyền lực mềm — cạnh tranh trong giáo dục đại học (thu hút nhân lực trình nghiên cứu độ cao, thu hút sinh viên tài năng, thu hút nguồn lực tai chính, tiếp nhận và chuyền giao công nghệ tiến tiến, tăng cường hợp tác hiệu quả giữa Chính quyền — Dai học — Doanh nghiệp — Đối tác Quốc tế. Từ đó, tác giả đưa ra một số đề xuất cho công tác hợp tác quốc tế của giáo dục đại học Việt Nam, mà cụ thể là đối với Đại học Quốc gia Hà Nội trong khu vực ASEAN.
Cuối cùng, tại phần Kết luận, tác giả nhân mạnh thông qua hợp tác song phương và đa phương về giáo dục, các quốc gia và dân tộc sẽ thê hiện sức mạnh mềm trong quan hệ quốc tế ; khăng định vai trò quan trọng của Mạng lưới các đại học ASEAN — AUN trong duy trì sự bền vững và phát triển của các đại học khu vực nói riêng và sự độc lập trong xây dựng chính sách kinh tế, đối ngoại và phát triển nguồn nhân lực cho khu vực ASEAN nói chung ; khăng định triển vọng hợp tác giáo dục ASEAN trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4. CO SỞ PHÁP LY VÀ THUC TIEN VE HOẠT DONG HOP TAC GIAO DUC DAI HOC TRONG ASEAN 1. Cơ sở pháp lý về nhu cầu hợp tác giáo dục đại học trong bối cảnh toàn cầu hóa 1. Cơ sở pháp lý của hop tác quốc tế về giáo dục đại học Ngay sau khi giành được Độc lập năm 1945, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, mặc dù còn nhiều khó khăn, thiếu thốn nhưng đã có quyết định thành lập Đại học Việt Nam (tiền thân của Đại học Quốc gia Hà Nội ngày nay).
Cùng với các giai đoạn phát triển đặc thù của đất nước, giáo dục đại học Việt Nam đã có nhiều đóng góp vào công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển kinh tế — xã hội của đất nước, đặc biệt khi chuyển đổi từ mô hình kinh tế tập trung bao cấp sang mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN. Đảng và Chính phủ Việt Nam đã triển khai nhiều chủ trương, chính sách hội nhập giáo dục đại học quốc tế, trong đó có thé kế dé những quyết định quan trọng như thành lập Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 1993), thành lập Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (1995) — hai đại học đa nghành, đa lĩnh vực theo mô hình đại học tiên tiến, hiện đại. Từ đó, các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam từng bước chuyên đổi mô hình giáo dục đại học đơn ngành chuyên sâu (mô hình Liên xô trước đây) sang mô hình các đại học liên ngành, đa ngành, đáp ứng các yêu cầu phát triển mới của kinh tế — xã hội Việt Nam, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ chuyên môn tốt, phát triển kỹ năng mềm và có nền tảng kiến thức liên ngành. Cùng với việc chuyên đổi mô hình, hàng loạt nghị quyết, chỉ thị quan trọng của Dang và Nhà nước, thé hiện sự sáng suốt va tầm nhìn của những người hoạch định chính sách, yêu cầu sự thay đổi thực sự trong cách tiếp cận phát triển hệ thống giáo dục đào tạo nhân lực chất lượng cao cũng như day 18 nhanh quá trình quôc tê hóa giáo dục đại học Việt Nam, có thê nêu ra một sô văn bản quan trọng như: i.
Nghị quyết 14/2005/NQ-CP về đổi mới toàn diện và cơ bản giáo dục đại học Việt Nam 2006-2010 ban hành ngày 02 tháng 11 năm 2005 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 14) [Nghị quyết 14/2005/NQ-CP]. Nghị quyết đã mở đường thành lập các trường đại học quốc tế tại Việt Nam. Thực hiện Nghị quyết 14, Trường Đại học Việt Đức (VGU) và Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Việt Pháp (USTH) đã được thành lập trong giai đoạn thực hiện Nghị quyết 14. Quyết định 711/QĐ-TTg phê duyệt "Chiến lược phát triển giáo dục 2011 — 2020 ban hành ngày 13 tháng 6 năm 2012.
Nghị quyết 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về Hội nhập quốc tế do Tổng Bí thư ký ban hành ngày 10 tháng 4 năm 2013. Nghị quyết 29/NQ-TW của BCH TW Đảng khóa XI về về đổi mới căn bản, toàn điện Giáo dục và Dao tạo, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế do Tổng Bi thư ký ngày 04 tháng 11 năm 2013 (Nghị quyết số 29-NQ/TW). Quyết định số 2448/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Dé án hội nhập quốc tế về giáo dục và dạy nghề đến năm 2020 ban hành ngày 16 tháng 12 năm 2013. Nghị định 86/2018/NĐ-CP quy định về hợp tác, đầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục ban hành ngày 06 tháng 6 năm 2018.
Nghị quyết 29/NQ-TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI là văn bản quan trọng về đôi mới căn bản, toàn diện giáo dục va đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Mục tiêu tổng quát của 19 nhiệm vụ là phần đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam nói chung va giáo dục đại học nói riêng, phải đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. “Đối với giáo dục dai hoc, tập trung dao tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học. Hoàn thiện mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, cơ cầu ngành nghề và trình độ dao tạo phù hợp với quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia; trong đó, có một số trường và ngành đào tạo ngang tam khu vực và quốc tế.
Da dạng hóa các cơ sở đào tạo phù hop với nhu câu phát triển công nghệ và các lĩnh vực, ngành nghề; yêu cau xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế” [Nghị quyết 29/NQ-TW]. Đây chính là định nghĩa toàn diện nhất về mục tiêu của hợp tác giáo dục đại học tại Việt Nam trong tình hình hiện nay. Chính vì vậy, việc hợp tác quốc tế về giáo dục đại học nói chung và hợp tác giáo dục trong nội khối ASEAN nói riêng là một định hướng ưu tiên, quan trọng. Trong 35 năm đổi mới toàn diện, giáo dục Việt Nam đã theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tẾ, trong đó có nội dung về chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về giáo dục và dao tạo, phù hop với chuẩn mực chung, đồng thời khẳng định nhiệm vụ quan trọng của giáo dục và đào tạo — đó là phải đáp ứng các yêu cầu hội nhập quốc tế, đặc biệt trong nền kinh tế tri thức dé góp phan phát triển toàn diện đất nước, trong thời đại số hóa.
Một trong số những khái niệm và giải pháp quan trọng đã được chỉ ra, đó là: - Chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hop tác quốc té trong giáo dục, đào tạo. Cụ thé: “Chủ động hội nhập quốc tế về giáo dục, đào tạo trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tỉnh hoa văn hóa và thành tựu khoa học, công nghệ của nhân loại. 20 - Hoàn thiện cơ chế hợp tác song phương và đa phương, thực hiện các cam kết quốc tế về giáo dục, đào tạo. Tăng quy mô đào tạo ở nước ngoài bang ngân sách nha nước đối với giảng viên các ngành khoa học cơ bản và khoa học mũi nhọn, đặc thù.
Khuyến khích việc học tập và nghiên cứu ở nước ngoài bang các nguồn kinh phí ngoài ngân sách nhà nước. Mở rộng liên kết đào tạo với những cơ sở đào tạo nước ngoài có uy tín, chủ yếu trong giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp; đồng thời quản lý chặt chẽ chất lượng đào tạo. Có cơ chế khuyến khích các tổ chức quốc tế, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài tham gia hoạt động đảo tạo, nghiên cứu, ứng dụng, chuyền giao khoa học và công nghệ ở Việt Nam. - Tăng cường giao lưu văn hóa và học thuật quốc tế.
Có chính sách hỗ trợ, quản lý việc học tập và rèn luyện của học sinh, sinh viên Việt Nam đang học ở nước ngoài và tại các cơ sở giáo dục, đào tạo có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam.