phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn đƣợc trình bày trong ba chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nƣớc về Giáo dục trung học cơ sở. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về Giáo dục trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Lào Cai tỉnh Lào Cai. Chƣơng 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc về Giáo dục trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Lào Cai tỉnh Lào Cai.
Luan van 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ GIÁO DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Khái niệm cơ bản 1. Biện pháp Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng “Biện pháp là cách làm, cách thức tiến hành” một vấn đề cụ thể nào đó. Theo định nghĩa của Triết học thì biện pháp là cách thức, là con đƣờng chuyển tải nội dung.
Theo định nghĩa khái quát thì biện pháp là cách thức, con đƣờng để giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó nhằm đạt mục đích nhất định. Nhƣ vậy, chúng ta cần phân biệt các khái niệm biện pháp và giải pháp. Giải pháp là một khái niệm rộng, bao quát hơn khái niệm biện pháp, nó mang tính chất lý luận và có ý nghĩa định hƣớng cho nhiều biện pháp nhằm giải quyết vấn đề cụ thể theo mục đích nhất định. Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một công việc cụ thể.
So với giải pháp, biện pháp bao giờ cũng có tính chất cụ thể hơn, nó đƣợc sáng tạo ra và đúc kết lại từ trong thực tiễn. Vì vậy sự phân biệt các khái niệm, biện pháp, giải pháp chỉ có nghĩa tƣơng đối. Nhƣ vậy chúng ta có thể hiểu: Biện pháp là cách làm, cách giải quyết vấn đề cụ thể, nhƣ: biện pháp hành chính, biện pháp kỹ thuật, biện pháp quản lý… Vậy biện pháp là “Cách thức tiến hành thực hiện giải quyết vấn đề”. Giáo dục và Đào tạo Theo giáo trình “Quản lý nhà nƣớc về Văn hóa, Giáo dục, Y tế” của Học viện Hành chính, Nhà xuất bản Khoa học kĩ thuật, Hà Nội, 2009, giáo dục là “quá trình trang bị và nâng cao kiến thức hiểu biết về thế giới khách Luan van 11 quan, khoa học, kĩ thuật, kỹ năng, kỹ xảo trong hoạt động nghề nghiệp cũng nhƣ hình thành nhân cách con ngƣời” [11, tr.
Giáo dục đảm bảo sự kế thừa phát triển giữa các thế hệ. Quá trình giáo dục là sự truyền thụ kinh nghiệm, lịch sử xã hội của thế hệ trƣớc cho thế hệ sau, nhằm chuẩn bị điều kiện cho họ bƣớc vào cuộc sống xã hội và lao động sản xuất. Giáo dục diễn ra thƣờng xuyện, liên tục ở mọi môi trƣờng hoạt động của con ngƣời: trong gia đình, nhà trƣờng, nơi làm việc, trong quan hệ xã hội… trong đó môi trƣờng giáo dục ở nhà trƣờng có vai trò quan trọng. Theo mục tiêu và đối tƣợng giáo dục, giáo dục đƣợc phân thành giáo dục phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp (còn gọi là lĩnh vực đào tạo) Giáo dục phổ thông là trang bị những kiến thức, hiểu biết cơ bản, chủ yếu cho lớp vị thành niên trƣớc khi bƣớc vào tham gia quá trình giáo dục chuyên nghiệp, bao gồm các kiến thức về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và đạo đức [9, tr.66] Đào tạo là lĩnh vực trang bị kiến thức kĩ năng, kĩ xảo và hình thành nghề nghiệp chuyên môn cho con ngƣời trong tƣơng lai [11, tr.
Đào tạo đề cập đến việc dạy các kĩ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để ngƣời học lĩnh hội và nắm những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho ngƣời đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận đƣợc một công việc nhất định. Khái niệm đào tạo có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục, đào tạo đề cập đến giai đoạn sau, khi một ngƣời đã đạt đến một độ tuổi nhất định, có một trình độ nhất định.Trong lĩnh vực đào tạo, ngƣời ta phân ra rất nhiều loại khác nhau tùy theo nội dung, mức độ và hình thức đào tạo. Theo nội dung đào tạo, đào tạo đƣợc phân ra thành đào tạo mới và đào tạo lại, đào tạo tiếp tục (hay bồi dƣỡng) Luan van 12 Theo trình độ (mức độ) đào tạo, đào tạo đƣợc phân ra thành đào tạo nghề, đào tạo trung cấp chuyên nghiệp, đào tạo đại học và đào tạo sau đại học. Theo hình thức đào tạo, đào tạo có thể phân ra thành đào tạo chính quy, vừa học vừa làm, đào tạo từ xa, tự học có hƣớng dẫn….
Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo Tùy theo môi trƣờng, lĩnh vực khác nhau mà ta có các khái niệm quản lý khác nhau. Nhƣng tựu chung lại quản lý đƣợc hiểu nhƣ sau: Quản lí là sự tác động có tổ chức, có hƣớng đích của chủ thể quản lí lên đối tƣợng và khách thể quản lí nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt đƣợc mục tiêu đề ra trong điều kiện môi trƣờng luôn biến động [1]. QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nƣớc và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do cơ quan trong bộ máy nhà nƣớc thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội [12, tr. Quản lí GD&ĐT có thể chia ra làm 2 mảng: QLNN về GD&ĐT và quản lý sự nghiệp trong các cơ sở giáo dục và đào tạo.
Theo giáo trình QLNN về Văn hóa- Giáo dục – Y tế, Học viên Hành chính quốc gia, Nhà xuất bản Khoa học và Kĩ thuật, Hà Nội, 2009: “ Quản lí nhà nƣớc về GD&ĐT là sự tác động, điều chỉnh thƣờng xuyên của nhà nƣớc, bằng quyền lực nhà nƣớc đối với toàn bộ hoạt động GD&ĐT của một quốc gia nhằm định hƣớng, thiết lập trật tự, kỉ cƣơng của hoạt động GD&ĐT, hƣớng đến mục tiêu và yêu cầu của sự phát triển nguồn nhân lực quốc gia” [11, tr.74] Luan van 13 Chủ thể QLNN về GD&ĐT là nhà nƣớc đối với hệ thống các cơ quan quyền lực của nó mà trực tiếp là Chính phủ và hệ thống bộ máy QLNN về GD&ĐT từ trung ƣơng đến địa phƣơng. Khách thể của QLNN về GD&ĐT là hệ thống các cơ sở giáo dục, đào tạo những ngƣời tham gia vào quá trình giáo dục, đào tạo. Quản lý sự nghiệp GD&ĐT là sự tác động điều khiển của ngƣời đứng đầu cơ sở giáo dục đào tạo và bộ máy quản lý các hoạt động GD&ĐT của đơn vị trên cơ sở chính sách pháp luật về quản lý GD&ĐT của Nhà nƣớc và hệ thống nội quy, quy chế hoạt động của tổ chức nhằm nâng cao chất lƣợng GD&ĐT thực hiện tốt kế hoạch GD&ĐT đề ra [11, tr.74] Nhƣ vậy, chúng ta cần phân định rõ hai nội dung QLNN với quản lý sự nghiệp và kết hợp hai nội dung này để phát triển sự nghiệp GD&ĐT. Phân cấp quản lý đƣợc hiểu là sự chuyển giao nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan QLNN cấp trên cho cơ quan QLNN cấp dƣới thực hiện thƣờng xuyên, lâu dài, ổn định chức năng nhiệm vụ trên cơ sở các quy định của pháp luật; là việc xác định đƣợc phạm vi quản lý của mỗi cấp sao cho công việc hoặc hoạt động đƣợc giao cho cấp nào đó quản lý phù hợp, có lợi ích nhất, đạt hiệu quả quản lý cao nhất [19, tr.65] Phân cấp quản lý GD&ĐT là việc chuyển giao quyền hạn, quyền ra quyết định cho cấp dƣới thông qua các tổ chức GD&ĐT.
Phân cấp quản lý GD&ĐT đƣợc thực hiện gắn với nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành, lĩnh vực và quản lý theo lãnh thổ. Có 4 cấp đƣợc chuyển giao quyền hạn là: Cấp Trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp nhà trƣờng. Nội dung phân cấp QLNN về GD&ĐT ở nƣớc ta đƣợc thể hiện trong các văn bản sau - Hiến pháp nƣớc Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 - Luật tổ chức chính phủ ngày 25/12/2001 Luan van 14 - Luật tổ chức chính quyền địa phƣơng ngày 19/6/2015. - Luật giáo dục năm 2005 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật giáo dục 2009.
- Nghị định 115/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ quy định trách nhiệm QLNN về giáo dục. - Nhƣ vậy, QLNN về GD&ĐT trên địa bàn cấp huyện là sự tác động, điều chỉnh thƣờng xuyên của UBND và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện đối với toàn bộ hoạt động GD&ĐT trên địa bàn cấp huyện nhằm định hƣớng thiết lập trật tự kỉ cƣơng của hoạt động GD&ĐT, tổ chức điều khiển, thống nhất mọi lực lƣợng xã hội trên địa bàn phát huy tiềm năng xã hội định hƣớng đến mục tiêu “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài” phục vụ cho sự nghiệp phát triển KT- XH của địa phƣơng. Hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo Hiệu quả quản lý là mối tƣơng quan giữa kết quả thu đƣợc tối đa so với chi phí thực hiện kết quả đó ở mức tối thiểu. Từ khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu hiệu quả QLNN về giáo dục và đào tạo là kết quả quản lí đạt đƣợc của cơ quan QLNN về giáo dục và đào tạo trong sự tƣơng quan với mức độ chi phí các nguồn lực, trong mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội.
Nhƣ vây, hiệu quả quản lý nhà nƣớc về giáo dục và đào tạo đƣợc thể hiện trên các phƣơng diện sau - Đạt đƣợc mục tiêu QLNN về giáo dục và đào tạo nhất định với mức độ chi phí càng ít càng tốt - Với một mức độ chi phí các nguồn lực nhất định việc QLNN về GD&ĐT đạt đƣợc kết quả cao nhất. Luan van 15 - Đạt đƣợc mục tiêu không chỉ trong quan hệ với chi phí các nguồn lực (Tài chính, nhân lực, vật lực, thời gian….) mà còn trong quan hệ với hiệu quả xã hội. Để đạt đƣợc hiệu quả QLNN về GD&ĐT trên địa bàn cấp huyện, các cơ quan QLNN cần chỉ đạo, định hƣớng và tạo điều kiện tốt nhất để các cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở trên địa bàn khai thác tiềm năng, thế mạnh nhằm nâng cao chất lƣợng GD&ĐT với chi phí và mức đầu tƣ hợp lí nhất. Giáo dục trung học cơ sở trong hệ thống giáo dục quốc dân 1.