Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CĂN CỨ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. VÀI NÉT SƠ LƯỢC LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Giáo dục hướng nghiệp một số nước trên thế giới Ở lĩnh vực nghề nghiệp, việc chọn nghề và nhất là mối quan hệ giữa người lao động với nghề nghiệp, đã được nhiều nhà khoa học của nhiều quốc gia quan tâm nghiên cứu nhằm giúp cho thanh thiếu niên học sinh có sự chọn lựa nghề nghiệp sao cho phù hợp với năng lực, thể lực, trí tuệ, hứng thú cá nhân và yêu cầu kinh tế của đất nước. Cộng hòa Pháp là một trong những nước đã phát triển hướng học, hướng nghiệp và tư vấn nghề sớm nhất trên thế giới.Thế kỷ 19 (năm 1848), những người làm công tác hướng nghiệp ở Pháp đã xuất bản cuốn sách: “Hướng nghiệp chọn nghề” nhằm giúp đỡ thanh niên trong việc lựa chọn nghề nghiệp để sử dụng có hiệu quả năng lực lao động của thế hệ trẻ.
Ngày 25/12/1922 Bộ Công nghiệp và Thương nghiệp Cộng hòa Pháp đã ban hành nghị định về công tác hướng học, hướng nghiệp và thành lập Sở Hướng nghiệp cho thanh niên dưới 18 tuổi; tới ngày 24/5/1938 công tác hướng nghiệp đã mang tính pháp lý thông qua quyết định ban hành chứng chỉ hướng nghiệp bắt buộc đối với tất cả thanh niên dưới 17 tuổi, trước khi trở thành người làm việc trong các xí nghiệp thủ công, công nghệ hoặc thương nghiệp. Từ năm 1960, Pháp đã tiến hành thành lập hệ thống các trung tâm thông tin hướng học và hướng nghiệp từ Bộ Giáo dục đến khu, tỉnh, huyện và cụm trường. Năm 1975, nước Pháp đã tiến hành cải cách giáo dục để hiện đại hóa nền giáo dục. Cải cách giáo dục ở Pháp chú ý đặc biệt chăm lo giảng dạy lao động và nghề nghiệp cho học sinh, khắc phục khuynh hướng và quan niệm 6 coi giáo dục lao động là một hoạt động giáo dục loại hai (tức là đứng sau các môn khoa học).
Nhà trường Pháp hiện nay đã giảm bớt tính hàn lâm trong việc cung cấp các kiến thức khoa học, tăng tỉ trọng kiến thức có ý nghĩa thực dụng và ý nghĩa hướng nghiệp để giúp cho học sinh trung học chuẩn bị đi vào đào tạo và cuộc sống nghề nghiệp. Ở Liên Xô (cũ), công tác hướng nghiệp được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm như: E. Nghiên cứu của các tác giả tập trung vào hứng thú nghề nghiệp, động cơ chọn nghề, các giá trị về nghề mà học sinh quan tâm, đồng thời đưa ra những chỉ dẫn để giúp học sinh chọn nghề tốt hơn. Ở Nhật Bản, đã từ lâu giáo dục Nhật Bản chú ý đến vấn đề hoàn thiện nội dung, hình thức dạy học kĩ thuật nhằm cung cấp tri thức, rèn luyện kĩ năng lao động nghề nghiệp và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh phổ thông.
Chính vì vậy, ở Nhật Bản trong những năm qua, nhiều cuộc cải cách giáo dục đã được tiến hành với mục đích đảm bảo cho giáo dục phổ thông đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế cụ thể của đất nước. Trong đó có nhiều biện pháp đã được áp dụng để nâng cao trình độ đào tạo về hướng nghiệp và khoa học tự nhiên trong các trường phổ thông. Về giáo dục hướng nghiệp, quan điểm của UNESCO cũng cho rằng giáo dục trung học là giai đoạn mà thế hệ trẻ lựa chọn cho mình con đường bước vào cuộc sống lao động thực sự. Hướng nghiệp tạo điều kiện cho học sinh lựa chọn một trong nhiều con đường khác nhau.
Vào những năm đầu của thế kỷ XX, các nước như Pháp, Mỹ, Anh đã thành lập các phòng hướng nghiệp, với các trắc nghiệm, họ đã tư vấn cho thanh niên ở đó chọn được những nghề thích hợp với khả năng của bản thân và các nghề đang có nhu cầu tuyển dụng trong xã hội. Giáo dục hướng nghiệp và vấn đề tạo nguồn cán bộ DTTS ở Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta rất coi trọng việc vận dụng sáng tạo các quan điểm giáo dục của chủ nghĩa Mác - Lê nin nhằm đào tạo lớp người lao động mới. Từ năm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Trong việc giáo dục và học tập phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật, lao động và sản xuất”. Người cũng đã khẳng định: “Nhà trường xã hội chủ nghĩa là nhà trường: - Học đi với lao động - Lý luận đi với thực hành - Cần cù đi với tiết kiệm.
Trong bài báo “Học hay, cày giỏi”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến một yếu tố mới của giáo dục. Đó là, “Việc cung cấp cho học sinh những tri thức cơ bản về kỹ thuật sản xuất công nghiệp và nông nghiệp” và “Những ngành sản xuất chủ yếu” trong xã hội. Đó cũng chính là những nội dung giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp của giáo dục nước ta lúc bấy giờ. Ngày 19/3/1981, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 126/CP về “Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng học sinh các cấp phổ thông cơ sở và phổ thông trung học tốt nghiệp ra trường”.
Có thể coi quyết định này là một mốc quan trọng đối với sự phát triển giáo dục trong hệ thống nhà trường phổ thông, bởi từ thời điểm ấy, hướng nghiệp được chính thức coi như là một môn học và đồng thời được coi như một hoạt động có trong các tiết dạy của các môn học. Những vấn đề GDHN ở trường THPT đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đề cập tới ở nhiều góc độ khác nhau như: Phạm Tất Dong [10, 11], Trần Khánh Đức [13], Hà Thế Truyền [36,37], Đặng Danh Ánh [01, 02], Nguyễn Viết Sự [26, 27], Nguyễn Bá Minh [22], Nguyễn Đức Trí [34,35], 8 Nguyễn Văn Lê - Hà Thế Truyền - Bùi Văn Quân [19]. Trong các công trình nghiên cứu về công tác hướng nghiệp đã tập trung vào những vấn đề như: + Vấn đề lịch sử phát triển hệ thống công tác hướng nghiệp ở các nước trên thế giới và ở Việt nam. + Bản chất khoa học của công tác hướng nghiệp + Mục đích, nhiệm vụ, vai trò của công tác hướng nghiệp + Nội dung cơ bản và các hình thức hướng nghiệp.
+ Vấn đề tổ chức và điều khiển công tác hướng nghiệp. + Quan điểm mới về giáo dục hướng nghiệp, coi hướng nghiệp là loại hoạt động của nhiều cơ quan khác nhau nhằm giúp cho con người chọn nghề phù hợp với nhu cầu của xã hội và nguyện vọng, sở trường của cá nhân. Đổi mới nội dung hướng nghiệp trong nhà trường hiện nay đang là một yêu cầu ngày càng cấp thiết và xác định trong những năm tới, công tác hướng nghiệp phải đóng góp hơn nữa vào việc giải quyết việc làm cho thanh thiếu niên, định hướng thế hệ trẻ vào những lĩnh vực sản xuất cần phát triển, tạo ra cho mỗi thanh, thiếu niên nhiều khả năng để tự tạo ra việc làm. Nhìn chung các công trình của các tác giả đều tập trung vào nghiên cứu cơ sở lý thuyết và thực tiễn của hoạt động hướng nghiệp với mục đích, ý nghĩa, nội dung, hình thức tổ chức hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.
Về lĩnh vực nghiên cứu giáo dục hướng nghiệp và vấn đề tạo nguồn đào tạo cán bộ đối với trường THPT, riêng về mảng phổ thông Dân tộc nội trú đã có các tác giả và nhóm nghiên cứu: Phạm Đình Thái [28], Trần Thanh Phúc [24, 25], Bùi Thị Ngọc Diệp [12]. Các công trình nghiên cứu đều tập trung vào các vấn đề: + Tổng kết và đánh giá công tác giáo dục toàn diện cho học sinh DTNT và vấn đề tạo nguồn đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số cho các địa phương ở hệ 9 thống trường PTDTNT + Đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo và đổi mới phương thức đào tạo cho các trường PTDTNT nhằm đáp ứng được yêu cầu của giáo dục học sinh dân tộc trong thời kỳ mới + Nghiên cứu về lý luận GDHN cho học sinh dân tộc nội trú đặc biệt là học sinh THPT ở trường DTNT Tỉnh + Đánh giá thực trạng giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề ở các trường PTDTNT trên toàn quốc và đề ra các giải pháp thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu về nguồn cán bộ dân tộc cho các địa phương. Các công trình nghiên cứu đã đề cập tương đối toàn diện tới các mặt giáo dục đào tạo của trường PTDTNT đặc biệt là công tác hướng nghiệp dạy nghề cho học sinh được coi là một trong những hoạt động cơ bản hình thành nhân cách người cán bộ dân tộc nhằm thực hiện nhiệm vụ chính trị của trường PTDTNT tạo nguồn đào tạo cán bộ cho các địa phương từ năm 1990 trở lại đây. Song hiện nay, trong bối cảnh KT - XH của đất nước có nhiều thay đổi, yêu cầu về nguồn cán bộ dân tộc được nâng lên cả về số lượng với những tiêu chí cao hơn về năng lực và phẩm chất cộng với sự cải cách về quản lý hành chính đang được thực hiện ở khắp các địa phương trên cả nước thì nhu cầu về nguồn cán bộ cấp xã trở nên cấp thiết.
Giáo dục hướng nghiệp để đáp ứng nhu cầu này trong các trường THPT là vấn đề chưa được đề cập một cách sâu sắc và có tính rộng rãi trong các công trình nghiên cứu nêu trên. Các trường THPT trong huyện thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương là đào tạo học sinh theo hướng nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực nên công tác GD nói chung và GDHN nói riêng phải đáp ứng được yêu cầu của GD THPT, đồng thời đáp ứng nhiệm vụ tạo nguồn đào tạo nhân lực cho địa phương. Đó chính là quan điểm mà nhóm nghiên cứu đề tài đúc rút được qua các công trình nêu 10 trên để thực hiện trong việc giải quyết các nhiệm vụ đã đặt ra. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG TỈNH LÀO CAI 1.
Giáo dục hướng nghiệp và quản lý giáo dục hướng nghiệp 1. Giáo dục Hướng nghiệp 1) Quan niệm về Giáo dục hướng nghiệp “GDHN là hệ thống các biện pháp giáo dục của nhà trường, gia đình và xã hội nhằm chuẩn bị cho thế hệ trẻ tư tưởng, tâm lý, tri thức, kỹ năng để họ có thể sẵn sàng đi vào ngành nghề, vào lao động sản xuất và cuộc sống. GDHN góp phần phát huy năng lực, sở trường của từng người, đồng thời góp phần điều chỉnh nguyện vọng của cá nhân sao cho phù hợp với nhu cầu phân công lao động trong xã hội.