CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA DỰ BÁO GIÁO DỤC VÀ DỰ BÁO NHU CẦU GIÁO VIÊN 1. MỘT SỐ NÉT VỀ LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Trong lịch sử giáo dục học, những yếu tố dự báo sư phạm được tìm thấy trong hệ thống sư phạm của các nhà giáo dục học xuất sắc. Các nhà Triết học - Văn hóa trong thời đại Phục Hưng (Rabelais, Campanella, Thomas More, Montaigne.)- Các nhà sư phạm trong thời kỳ mới (Komensky, Pestalozzi, Disterveg, Usinski. Các nhà xã hội học không tưởng (Saint Simon, Charles, Fourrier, Robeit Owen,.) đều đã đưa ra những ý kiến về nền giáo dục và nhà trường tương lai gắn với những mong ước tốt đẹp về một xã hội hợp lý và những con người toàn thiện toàn mỹ.
Với lý luận và phương pháp khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, khoa học giáo dục đã tiến hành các nghiên cứu dự báo về nền giáo dục và nhà trường tương lai. Đặc biệt là từ giữa thập kỷ 70, các nghiên cứu đó được đẩy mạnh với sự phối hợp của nhiều nước XHCN và đã có những kết quả đáng chú ý về sự phát triển của nhà trường và xu hướng phát triển giáo dục của M.Genashunsky, Avadialavlev, Iu. ở các nước Tư bản Âu-Mỹ và Tổ chức giáo dục, khoa học, văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO) đã có khá sớm những công trình nghiên cứu đề cập những dự báo về giáo dục. Ở nước ta, việc nghiên cứu dự báo giáo dục, trong đó có dự báo quy mô phát triển giáo dục được tiến hành từ năm 1984, và từ đó đến nay đã có nhiều tác giả sử dụng nhiều phương pháp dự báo làm cơ sở cho việc xây dựng định hướng chiến lược phát triển giáo dục: Tiến sĩ Đỗ Văn Chấn, Giáo sư Lê Thạc Cán, Giáo sư Hà Thế Ngữ, Cử nhân Nguyễn Đông Hạnh.
Nhìn chung, lịch sử dự báo giáo dục đã có từ lâu, được các nhà giáo dục trong và ngoài nước quan tâm; dự báo xu thế phát triển giáo dục và nhà trường tương lai như dự báo về vị trí, vai trò và mục tiêu của giáo dục và đào tạo, về nội dung, phương pháp giáo dục, phương pháp học tập trong nhà trường hiện đại, các loại hình nhà trường, cơ sở vật chất kỹ thuật của nhà trường.Đặc biệt, dự báo quy mô phát triển Giáo dục - Đào tạo là một trong những nội dung 15 được khai thác với những đề tài ở nhiều cấp độ, phạm vi khác nhau và được ứng dụng trong thực tiễn, làm cơ sở cho việc xây dựng các chiến lược, kế hoạch về Kinh tế - Xã hội, Giáo dục - Đào tạo. Tuy nhiên, các bài viết và các công trình nghiên cứu được công bố như đã nêu ở trên ít quan tâm đến việc nghiên cứu về đội ngũ giáo viên nói chung và đội ngũ giáo viên THCS Tây Ninh nói riêng.Vì thế, tôi đi vào nghiên cứu "Dự báo nhu cầu giáo viên THCS tỉnh Tây Ninh đến năm 2010". Kết quả nghiên cứu sẽ đóng góp một phần cơ sở khoa học cho định hướng phát triển Giáo dục - Đào tạo của Tây Ninh trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước những năm đầu của thế kỷ XXI. NHỮNG KHÁI NIỆM CHỦ YẾU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI DỰ BÁO 1.
Khái niệm dự báo a. Khái niệm Dự báo được hiểu là những kiến giải có căn cứ khoa học về các trạng thái khả dĩ của đối tượng dự báo trong tương lai, về các con đường khác nhau, thời hạn khác nhau để đạt tới các trạng thái tương lai đó. Dự báo gắn liền với một khái niệm rộng hơn, đó là sự tiên đoán. Tùy theo mức độ cụ thể và đặc điểm tác động đến sự phát triển của hiện tượng hoặc quá trình được nghiên cứu, có thể chia ra 3 cấp độ tiên đoán là Giả thuyết, Dự báo và Kế hoạch.
Dự báo là một tài liệu tiền kế hoạch bao gồm nhiều phương án, trong đó kết quả dự báo không mang tính pháp lệnh mà chỉ mang tính chất của các khuyến cáo. Phân loại dự báo Có thể phân loại dự báo theo những tiêu thức khác nhau, chẳng hạn theo phạm vi, thời gian, đối tượng.Dưới đây xin trình bày một số loại dự báo chủ yếu: + Phân loại dự báo theo phạm vi của đối tượng Theo sự phân loại này, ta có thể có các loại dự báo vĩ mô, dự báo vi mô, dự báo liên ngành, dự báo khu vực, dự báo xí nghiệp, dự báo sản phẩm. + Phân loại dự báo theo thời gian 16 Tùy theo thời hạn lập dự báo có thể có những loai dự báo như: dự báo tác nghiệp, dự báo ngắn hạn, dự báo trung hạn và dự báo dài hạn. - Thời hạn dự báo dưới hoặc 2 năm được xếp vào loại dự báo tác nghiệp, chẳng hạn dự báo thời tiết, dự báo giá cả trong thời kỳ sôi động, dự báo mùa màng, dự báo nhu cầu sản phẩm.
Trong giáo dục, những dự báo về sĩ số, số học sinh bỏ học hằng năm cũng được xếp vào loại dự báo tác nghiệp. - Thời hạn dự báo 2 đến 5 năm thường coi là dự báo ngắn hạn. Những dự báo loại này thường được dùng trong những trường hợp dự báo ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật có nhiều triển vọng nhất, trong việc dự báo nhu cẩu về một loại sản phẩm mới xuất hiện, dự báo những chỉ tiêu kinh tế tổng hợp lớn. - Thời hạn dự báo từ 5 đến 10 năm được coi là dự báo trung hạn.
- Thời hạn dự báo trên 10 năm được coi là dự báo dài hạn. Những dự báo dài hạn chủ yếu dành cho những đối tượng có tầm ảnh hưởng tương đối lớn, có triển vọng đối với tương lai của một lĩnh vực kinh tế, khoa học, kỹ thuật, xã hội. Những dự báo có thời hạn trên 20 năm thường chỉ xác định ở mức khái quát cao khả năng phát triển của đối tượng. Việc phân loại dự báo theo thời gian như trình bày ở trên cũng chỉ mang tính tương đối, vì với đối tượng này, thời hạn dự báo 5 năm có thể là trung hạn nhưng với đối tượng khác có thể là ngắn hạn.
Bởi vậy, sự phân chia thời hạn dự báo còn tùy thuộc vào sự phân loại dự báo theo đối tượng được nêu dưới đây. + Phân loại dự báo theo đặc trưng của đối tượng Theo các đối tượng dự báo có thể phân loại như sau: - Dự báo sự vận động, phát triển của các quan hệ sản xuất. - Dự báo tiến bộ khoa học- công nghệ. - Dự báo các tiền đề và điều kiện kinh tế-xã hội của tiến bộ khoa học - công nghệ.
- Dự báo tiến bộ xã hội. - Dự báo động thái kinh tế quốc dân. 17 - Dự báo tái sản xuất nguồn lao động, đào tạo cán bộ. - Dự báo sử dụng tài nguyên thiên nhiên.
- Dự báo đầu tư xây dựng cơ bản. - Dự báo nâng cao mức sống nhân dân, dự báo dân số, dự báo sinh thái. + Phân loại dự báo theo chức năng Theo chức năng dự báo, có các loại dự báo như sau: - Dự báo tìm kiếm: hay còn gọi là dự báo khởi nguyên (genetic), dựa trên cơ sở tiếp tục trong tương lai những xu thế phát triển đã có trong quá khứ và hiện tại, không tính đến những điều kiện có thể làm biến dạng những xu thế này. Nhiệm vụ của dự báo tìm kiếm là làm sáng tỏ xem đối tượng nghiến cứu sẽ phát triển, biến đổi như thế nào trong tương lai nêu giữ nguyên những xu thế đã có.
- Dự báo định chuẩn: được xây dựng trên cơ sở những mục tiêu đã xác định trước. Nhiệm vụ của loại dự báo này là phát hiện những con đường và thời hạn đạt tới những mục tiêu đã định của đối tượng dự báo. Nhu cầu giáo viên Nhu cầu giáo viên của yêu cầu phát triển giáo dục ở một thời kỳ nào đó là số lượng giáo viên cần thiết nhằm đáp ứng những yêu cầu của sự nghiệp phát triển giáo dục của ngành, của địa phương, của trường học trong thời kỳ đó cả về mặt số lượng, chất lượng và cơ cấu trình độ của đội ngũ. Nói cách khác, nhu cầu giáo viên theo nghĩa rộng được hiểu là những đặc trưng về số lượng, về chất lượng và về cơ cấu đào tạo đội ngũ giáo viên xuất phát từ yêu cầu của ngành giáo dục ở từng địa phương và các đơn vị trường học.
Nhu cầu giáo viên được phân ra các loại như sau: 1. Nhu cầu chung (nhu cầu toàn bộ) là "tổng số giáo viên cần thiết cho ngành giáo dục trong thời kỳ kế hoạch (năm, 5 năm, dài hạn) để đảm bảo hoàn thành kế hoạch giáo dục. Nhu cầu phát triển là số lượng giáo viên cần được tăng thêm trong suốt thời kỳ kế hoạch nhằm đảm bảo nhu cầu giáo viên theo nhu cầu toàn bộ. Nhu cầu thay thế là số lượng giáo viên cần được tăng thêm để thay thế số giáo viên bị chết, về hưu, mất sức lao động, thôi việc hoặc vì một lý do nào đó không tiếp tục làm việc được trong thời kỳ kế hoạch.
Nhu cẩu thay thế còn bao gồm số giáo viên cần được tăng thêm để thay thế dần từng bộ phận giáo viên trong thực tế đang công tác trong ngành giáo dục. Tổng nhu cầu phát triển và nhu cầu thay thế trong thời kỳ kế hoạch được gọi là nhu cầu bổ sung giáo viên trong thời kỳ kế hoạch. Phụ thuộc vào độ dài của thời kỳ kế hoạch, nhu cầu (toàn bộ và bổ sung) giáo viên được phân ra nhu cầu thường xuyên và nhu cầu triển vọng. Phụ thuộc vào trình độ giáo dục chuyên nghiệp, người ta phân ra nhu cầu giáo viên có trình độ đại học, cao đẳng và nhu cầu giáo viên có trình độ trung học chuyên nghiệp.
Tỷ lệ giữa số lượng giáo viên có trình độ đại học, cao đẳng và số lượng giáo viên có trình độ trung học chuyên nghiệp được gọi là cơ cấu trình độ giáo viên. Nhu cầu giáo viên có trình độ đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp trên phương diện các ngành được đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp hình thành cơ cấu giáo viên theo bộ môn. Ta có thể biểu diễn mối liên hệ giữa nhu cầu chung, nhu cầu phát triển, nhu cầu thay thế, nhu cầu bổ sung bằng sơ đồ 1 sau đây: 19 1. Khái niệm dự báo giáo dục, dự báo nhu cầu giáo viên và ý nghĩa cửa chúng Từ khái niệm dự báo nói chung, chúng ta có thể quan niệm dự báo giáo dục như sau: Dự báo giáo dục là xác định trạng thái tương lai của hệ thống giáo dục.
đào tạo với một xác suất nào đó.