Luận văn thạc sĩ về tích hợp chương trình vật lý lớp 10 và 11 THPT

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật phân tích xây dựng một số chủ đề tích hợp chương trình vật lý lớp 10 và 11 thpt, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi cho thực

Chuyên ngành

Phương Pháp Dạy Học Vật Lý

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp đại học

2016

171
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC TÍCH HỢP

1.1. Dạy học tích hợp

1.2. Năng lực – Phẩm chất

1.3. Chủ đề tích hợp

1.4. Tình hình vận dụng dạy học tích hợp

1.4.1. Trên thế giới

1.4.2. Ở Việt Nam

1.5. Ưu điểm của dạy học tích hợp

1.5.1. Đối với học sinh

1.5.2. Đối với giáo viên

1.6. Khó khăn của dạy học tích hợp

1.7. Nội dung chương trình

1.7.1. Đối với giáo viên

1.8. Thực trạng nền giáo dục ở Việt Nam

1.9. Nguyên tắc của dạy học tích hợp

1.10. Các mức độ của dạy học tích hợp

1.10.1. Kết hợp, lồng ghép

2. CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT SUY NGHĨ CỦA SINH VIÊN VÀ GIÁO VIÊN VỀ DẠY HỌC TÍCH HỢP

2.1. Tình hình thực hiện của giáo viên

2.1.1. Ở bậc trung học phổ thông

2.1.2. Ở bậc Đại học

2.2. Thực hiện khảo sát sinh viên và giáo viên

2.2.1. Mục tiêu khảo sát

2.2.2. Đối tượng, cách thức và thời gian khảo sát

2.2.3. Nội dung khảo sát

2.2.4. Kết quả khảo sát và nhận xét

3. CHƯƠNG 3: QUY TRÌNH XÂY DỰNG CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP – MỘT SỐ CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP

3.1. Quy trình xây dựng chủ đề tích hợp

3.2. Rà soát chương trình

3.3. Lựa chọn chủ đề

3.4. Xác định vấn đề – Tạo tình huống thực tiễn

3.5. Xác định kiến thức của chủ đề

3.6. Xây dựng mục tiêu của chủ đề

3.7. Xây dựng tiến trình giảng dạy cho chủ đề

3.8. Tổ chức dạy học và đánh giá lại chủ đề

3.9. Một số chủ đề tích hợp

3.9.1. Chủ đề 1: Bóng đá – Hành trình bí ẩn

3.9.2. Chủ đề 2: Triều cường – Người bạn khó tính

3.9.3. Chủ đề 3: Sản phẩm ống nhòm – Thương trường khốc liệt

4. CHƯƠNG 4: TIẾN TRÌNH GIẢNG DẠY CÁC CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP

4.1. CHỦ ĐỀ 1: BÓNG ĐÁ – HÀNH TRÌNH BÍ ẨN

4.2. CHỦ ĐỀ 2: TRIỀU CƯỜNG – NGƯỜI BẠN KHÓ TÍNH

4.3. CHỦ ĐỀ 3: SẢN PHẨM ỐNG NHÒM – THƯƠNG TRƯỜNG KHỐC LIỆT

KIẾN NGHỊ VÀ HƯỚNG MỞ RỘNG

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1 – PHIẾU BỔ TRỢ CHỦ ĐỀ 1

PHỤ LỤC 2 – PHIẾU BỔ TRỢ CHỦ ĐỀ 2

PHỤ LỤC 3 – PHIẾU BỔ TRỢ CHỦ ĐỀ 3

Tóm tắt

I. Tổng quan về dạy học tích hợp

Dạy học tích hợp (DHTH) là một phương pháp giáo dục hiện đại, nhằm kết nối các kiến thức từ nhiều lĩnh vực khác nhau để tạo ra một hệ thống giáo dục đồng bộ và hiệu quả. Theo UNESCO, DHTH giúp học sinh (HS) hiểu rõ hơn về sự thống nhất trong tư tưởng khoa học, đồng thời giảm thiểu việc tách biệt các lĩnh vực kiến thức. Việc áp dụng DHTH trong chương trình vật lý lớp 10vật lý lớp 11 không chỉ giúp HS tiếp thu kiến thức một cách toàn diện mà còn phát triển các năng lực cần thiết cho cuộc sống. DHTH còn tạo cơ hội cho HS vận dụng kiến thức vào thực tiễn, từ đó hình thành những phẩm chất và năng lực cần thiết cho sự phát triển cá nhân và xã hội.

1.1. Khái niệm và ý nghĩa của dạy học tích hợp

DHTH được định nghĩa là sự liên kết các đối tượng giảng dạy và nội dung học tập khác nhau vào cùng một kế hoạch giảng dạy. Điều này không chỉ giúp HS có cái nhìn tổng quát về các vấn đề mà còn khuyến khích sự sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề. Việc tích hợp các chủ đề trong chương trình vật lý giúp HS phát triển khả năng tư duy phản biện và kỹ năng làm việc nhóm, điều này rất quan trọng trong bối cảnh giáo dục hiện đại.

1.2. Tình hình dạy học tích hợp trên thế giới

Trên thế giới, nhiều quốc gia đã áp dụng DHTH trong chương trình giáo dục của họ. Các chương trình này thường được thiết kế để kết nối các môn học khác nhau, từ đó tạo ra một môi trường học tập phong phú và đa dạng. Ví dụ, ở Pháp, các chủ đề hội tụ đã được đưa vào chương trình học cho HS cấp THCS, giúp HS có cơ hội áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Điều này cho thấy rằng DHTH không chỉ là một xu hướng mà còn là một yêu cầu cần thiết trong giáo dục hiện đại.

II. Khảo sát suy nghĩ của sinh viên và giáo viên về dạy học tích hợp

Khảo sát được thực hiện nhằm thu thập ý kiến của sinh viên và giáo viên về DHTH trong chương trình vật lý. Kết quả cho thấy, phần lớn giáo viên nhận thức rõ về tầm quan trọng của DHTH trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy. Họ cho rằng việc tích hợp các chủ đề sẽ giúp HS dễ dàng hơn trong việc tiếp thu kiến thức và áp dụng vào thực tiễn. Tuy nhiên, một số giáo viên cũng bày tỏ lo ngại về việc thiếu tài liệu hỗ trợ và phương pháp giảng dạy phù hợp. Điều này cho thấy cần có sự đầu tư và hỗ trợ từ phía các cơ quan giáo dục để DHTH được triển khai hiệu quả hơn.

2.1. Ý kiến của sinh viên

Sinh viên cho rằng DHTH giúp họ có cái nhìn tổng quát hơn về môn học, từ đó dễ dàng hơn trong việc liên kết các kiến thức. Họ cũng cảm thấy hứng thú hơn khi học các chủ đề tích hợp, vì nó giúp họ áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Tuy nhiên, một số sinh viên cũng cho rằng việc thiếu tài liệu và hướng dẫn cụ thể từ giáo viên là một rào cản lớn trong việc học tập.

2.2. Ý kiến của giáo viên

Giáo viên nhận thấy rằng DHTH có thể giúp nâng cao chất lượng giảng dạy và tạo động lực cho HS. Họ cũng nhấn mạnh rằng việc tích hợp các chủ đề trong chương trình vật lý sẽ giúp HS phát triển các kỹ năng cần thiết cho cuộc sống. Tuy nhiên, họ cũng bày tỏ lo ngại về việc thiếu tài liệu và phương pháp giảng dạy phù hợp, điều này cần được khắc phục để DHTH có thể được áp dụng hiệu quả hơn.

III. Quy trình xây dựng chủ đề tích hợp

Quy trình xây dựng chủ đề tích hợp trong chương trình vật lý lớp 10vật lý lớp 11 bao gồm nhiều bước quan trọng. Đầu tiên, cần rà soát chương trình hiện tại để xác định các chủ đề có thể tích hợp. Sau đó, giáo viên cần lựa chọn chủ đề phù hợp và xác định các vấn đề thực tiễn liên quan. Việc xác định kiến thức cần thiết cho chủ đề cũng rất quan trọng, nhằm đảm bảo rằng HS có thể tiếp thu và áp dụng kiến thức một cách hiệu quả. Cuối cùng, giáo viên cần xây dựng tiến trình giảng dạy và tổ chức dạy học sao cho phù hợp với từng chủ đề.

3.1. Rà soát chương trình

Rà soát chương trình là bước đầu tiên trong quy trình xây dựng chủ đề tích hợp. Giáo viên cần xem xét nội dung chương trình hiện tại để xác định các chủ đề có thể tích hợp. Việc này giúp đảm bảo rằng các chủ đề được lựa chọn có sự liên kết chặt chẽ với nhau và phù hợp với mục tiêu giáo dục.

3.2. Lựa chọn chủ đề

Lựa chọn chủ đề là bước quan trọng tiếp theo. Giáo viên cần cân nhắc các yếu tố như sự phù hợp với nội dung chương trình, khả năng áp dụng vào thực tiễn và sự hứng thú của HS. Các chủ đề nên được thiết kế sao cho sinh động và gần gũi với cuộc sống hàng ngày của HS, từ đó tạo động lực học tập cho các em.

25/01/2025
Luận văn thạc sĩ xây dựng một số chủ đề tích hợp chương trình vật lý lớp 10 và 11 thpt

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC TÍCH HỢP 1. Tích hợp Theo từ điển tiếng Việt: “Tích hợp có nghĩa là lắp ráp, nối kết các thành phần của một hệ thống để tạo nên một hệ thống đồng bộ” [1, tr. Theo từ điển giáo dục học: “Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch giảng dạy” [2, tr. Theo từ điển giáo dục học có hai kiểu tích hợp là tích hợp dọc (vertical integration) và tích hợp ngang (horizontal integration).

Tích hợp dọc là “tích hợp dựa trên cơ sở liên kết hai hoặc nhiều môn học thuộc cùng một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực gần nhau” còn tích hợp ngang là “tích hợp dựa trên cơ sở liên kết các đối tượng học tập, nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau” xung quanh một chủ đề [2, tr. Trong tiếng Anh, tích hợp được viết là “integration” có nguồn gốc từ tiếng La tinh, có nghĩa là xác lập lại cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở những bộ phận riêng lẻ. Nên tích hợp có thể được hiểu là sự phối hợp các hoạt động khác nhau, các thành phần khác nhau của một hệ thống để bảo đảm sự hài hòa chức năng và mục tiêu hoạt động của hệ thống ấy. Vì thế, trong dạy học, tích hợp có thể định nghĩa là sự liên kết các đối tượng giảng dạy, nội dung học tập khác nhau vào cùng một kế hoạch giảng dạy mà vẫn bảo đảm sự đồng bộ, hài hòa, trọn vẹn của hệ thống dạy học nhằm đạt mục tiêu giáo dục tốt hơn.

Dạy học tích hợp Tháng 09/1968, “Hội nghị tích hợp việc giảng dạy các khoa học” đã được Hội đồng Liên quốc gia về giảng dạy khoa học tổ chức tại Varna (Bungari), với sự bảo trợ của UNESCO. Theo đó, DHTH được UNESCO định nghĩa như sau: “Một cách trình bày các khái niệm và nguyên lý khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau”[3]. Định nghĩa của UNESCO nhấn mạnh quan điểm cần giảm Luan van 2 thiểu việc tách riêng các kiến thức, các lĩnh vực khoa học khác nhau. Quá trình DHTH bao gồm những hoạt động tích hợp, xuất phát từ những tình huống thực tế, tạo cơ hội để HS biết cách phối hợp các kiến thức, kỹ năng và thao tác một cách có hệ thống, từ đó hình thành những năng lực ở trình độ cao, đáp ứng yêu cầu của xã hội.

Nói một cách khác, DHTH là hướng dẫn, định hướng cho HS cách sử dụng kiến thức, kỹ năng của mình để giải quyết và ứng dụng trong những tình huống cụ thể, với mục đích phát triển năng lực người học. Theo Xavier Roegiers, “Lý thuyết sư phạm tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập trong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành ở HS những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho HS, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập tương lai, hoặc nhằm hòa nhập HS vào cuộc sống lao động. Lý thuyết sư phạm tích hợp tìm cách làm cho quá trình học tập có ý nghĩa” [4]. Xavier Roegiers còn cho rằng giáo dục nhà trường phải chuyển từ đơn thuần dạy kiến thức sang phát triển ở HS các năng lực hành động, xem năng lực là khái niệm cơ sở của sư phạm tích hợp.

Các định nghĩa trên cũng đã nêu rõ mục tiêu chính của việc DHTH là hình thành và phát triển năng lực của người học. Trong dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể được Bộ GD – ĐT ban hành tháng 08/2015 [21], đã đề cập đến quan niệm DHTH như sau “dạy học tích hợp là định hướng dạy học giúp HS phát triển khả năng huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng,… thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết có hiệu quả các vấn đề trong học tập và trong cuộc sống, được thực hiện ngay trong quá trình lĩnh hội tri thức và rèn luyện kỹ năng; phát triển được những năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề”. Và quan điểm xây dựng của chương trình là “trên cơ sở giáo dục toàn diện và hài hòa đức, trí, thể, mỹ; mục tiêu chương trình giáo dục phổ thông xác định những yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực của HS ở từng cấp học; mục tiêu chương trình môn học xác định những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ, hướng đến hình thành những phẩm chất, năng lực đặc thù môn học và các phẩm chất, năng lực khác ở từng lớp, từng cấp học, coi đó là cam kết bảo đảm chất lượng của cả hệ thống và từng cơ sở giáo dục, là căn cứ để chỉ đạo, giám sát và đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông”. Năng lực – Phẩm chất Luan van 3 Năng lực là “khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,…” [21].

Năng lực của cá nhân được đánh giá qua phương thức và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống. Năng lực đặc thù môn học là “năng lực mà môn học (đó) có ưu thế hình thành và phát triển”. Một năng lực có thể là năng lực đặc thù của nhiều môn học khác nhau. Phẩm chất là “những tính tốt thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử trong đạo đức, lối sống, ý thức pháp luật, niềm tin, tình cảm,.

của con người”. Phẩm chất cùng với năng lực tạo nên nhân cách con người. Schneckenberg và Wildt cho rằng việc hình thành năng lực phải trải qua một quá trình có nhiều giai đoạn, giai đoạn trước là tiền đề cho giai đoạn sau [5]. Quá trình đó có thể được mô hình hóa bằng sơ đồ “bậc thang” như sau: (Hình 1.

- Bước 1: Thu thập, tiếp nhận thông tin. - Bước 2: Xử lý thông tin để hình thành kiến thức. - Bước 3: Áp dụng kiến thức vào những bối cảnh cụ thể để hình thành khả năng. - Bước 4: Khả năng kết hợp với thái độ (động cơ, niềm tin, …) để hình thành hành động có ý nghĩa.

- Bước 5: Hành động có ý nghĩa phù hợp với các tiêu chuẩn nhất định sẽ hình thành năng lực. Để hình thành sự chuyên nghiệp và năng lực nghề nghiệp thì còn cần kết hợp thêm một số yếu tố khác: - Bước 6: Năng lực kết hợp với tính trách nhiệm sẽ dẫn đến sự chuyên nghiệp, thành thạo. - Bước 7: Sự chuyên nghiệp kết hợp với học hỏi kinh nghiệm sẽ hình thành năng lực nghề nghiệp. Luan van 4 Năng lực nghề Chuyên nghiệp Năng lực Kinh Hành động Trách nghiệm Khả năng Phù nhiệm Kiến thức Thái hợp Thông tin Áp độ Xử lý dụng Hình 1.

Các bước hình thành năng lực [6]. Chương trình giáo dục phổ thông mới sau năm 2015 sẽ được cấu trúc lại theo định hướng nhằm hình thành và phát triển cho HS 3 phẩm chất và 8 năng lực chủ yếu sau: (Bảng 1. Các phẩm chất và năng lực cơ bản. PHẨM CHẤT NĂNG LỰC Sống yêu thương.

Năng lực tự học. Sống tự chủ. Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Sống trách nhiệm.

Năng lực thẩm mỹ. Năng lực thể chất. Năng lực giao tiếp. Năng lực hợp tác.

Năng lực tính toán. Năng lực công nghệ thông tin và truyền thông (ICT). Do mục tiêu giáo dục không còn đặt nặng vào việc truyền thụ kiến thức mà là tập trung, chú trọng hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cần thiết cho HS nên việc thay đổi quan điểm giáo dục là điều tất yếu. Và quan điểm DHTH là phù hợp việc đáp ứng được mục tiêu hình thành và phát triển năng lực ở HS, nhất là năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo – năng lực cần thiết nhất trong thời buổi hội nhập, năng lực mà trong quan điểm dạy học truyền thống chưa được tập trung chú trọng.

Chủ đề tích hợp Chủ đề tích hợp là những chủ đề có nội dung kiến thức liên quan đến hai hay nhiều mảng khác nhau của một môn học; hai hay nhiều môn học khác nhau, thể hiện ở sự ứng dụng của chúng trong cùng một hiện tượng, quá trình trong tự nhiên hay xã hội. Luan van 5 Các chủ đề tích hợp cần phải gắn với thực tiễn nên sinh động, và cụ thể đối với HS, có ưu thế trong việc tạo ra động cơ, hứng thú học tập cho HS. Với các chủ đề tích hợp, HS được tăng cường vận dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyết các tình huống thực tiễn, tránh việc ghi nhớ kiến thức một cách máy móc, nhờ đó năng lực và phẩm chất của HS được hình thành và phát triển. Ngoài ra, dạy học các chủ đề tích hợp giúp cho HS tăng cường sự hiểu biết tổng quát cũng như khả năng ứng dụng của kiến thức tổng hợp vào thực tiễn [7].

Tình hình vận dụng dạy học tích hợp 1. Trên thế giới Không chỉ hiện tại, từ những năm giữa thế kỉ 20, chương trình đào tạo của nhiều nước đã được xây dựng theo quan điểm tích hợp, đặc biệt là ở các cấp tiểu học và trung học cơ sở. Theo thống kê của UNESCO, từ năm 1960 đến 1974 trên thế giới đã có 208 chương trình dạy các môn khoa học theo quan điểm tích hợp ở những mức độ khác nhau. Và các nước có nội dung chương trình thể hiện rõ quan điểm này là Pháp, Nga, Hoa Kì, … Từ năm 2006, các chủ đề hội tụ được Bộ giáo dục Quốc gia Pháp chính thức đưa vào chương trình học cho HS cấp THCS trên toàn quốc.

Các chủ đề hội tụ ở Pháp là những đề tài rất thiết thực, gắn liền với thực tiễn đời sống, và được Bộ giáo dục và đào tạo Pháp chọn lựa rất kĩ lưỡng [22]. Hầu hết các nước trong khu vực Đông Nam Á đã thực hiện quan điểm tích hợp để dạy các kiến thức về tự nhiên và xã hội ở cấp tiểu học và THCS với những mức độ nhất định. Điển hình có thể đề cập đến, trong chương trình của Singapore, Thái Lan, môn “Khoa học” gồm những chủ đề nhất định xuyên suốt từ tiểu học tới THCS (lớp 9 hoặc lớp 10) [8]. Ở Việt Nam Ở nước ta đã có nhiều môn học, cấp học quan tâm vận dụng tư tưởng DHTH vào quá trình dạy học để nâng cao chất lượng giáo dục.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận văn thạc sĩ về tích hợp chương trình vật lý lớp 10 và 11 THPT" của tác giả Trần Thanh Thảo, dưới sự hướng dẫn của ThS. Lê Hải Mỹ Ngân tại Trường Đại Học Sư Phạm Tp.Hồ Chí Minh, tập trung vào việc xây dựng một số chủ đề tích hợp trong chương trình dạy học vật lý cho học sinh trung học phổ thông. Nghiên cứu này không chỉ giúp cải thiện phương pháp giảng dạy mà còn nâng cao khả năng tiếp thu kiến thức của học sinh, từ đó phát triển tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề trong lĩnh vực vật lý.

Để mở rộng thêm kiến thức về phương pháp dạy học vật lý, bạn có thể tham khảo bài viết Luận Án Tiến Sĩ Về Dạy Học Vật Lí Theo Quy Trình Nghiên Cứu Khoa Học Chương Điện Từ Học, nơi trình bày quy trình nghiên cứu khoa học trong giảng dạy vật lý, hoặc Luận án tiến sĩ: Xây dựng và sử dụng phim học tập trong dạy học phần cơ học vật lý lớp 10 nhằm bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề của học sinh, nghiên cứu về việc sử dụng phim học tập để nâng cao năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 10. Cả hai tài liệu này đều liên quan đến phương pháp dạy học vật lý và có thể cung cấp thêm góc nhìn hữu ích cho bạn.