CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC TÍCH HỢP 1. Tích hợp Theo từ điển tiếng Việt: “Tích hợp có nghĩa là lắp ráp, nối kết các thành phần của một hệ thống để tạo nên một hệ thống đồng bộ” [1, tr. Theo từ điển giáo dục học: “Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch giảng dạy” [2, tr. Theo từ điển giáo dục học có hai kiểu tích hợp là tích hợp dọc (vertical integration) và tích hợp ngang (horizontal integration).
Tích hợp dọc là “tích hợp dựa trên cơ sở liên kết hai hoặc nhiều môn học thuộc cùng một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực gần nhau” còn tích hợp ngang là “tích hợp dựa trên cơ sở liên kết các đối tượng học tập, nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau” xung quanh một chủ đề [2, tr. Trong tiếng Anh, tích hợp được viết là “integration” có nguồn gốc từ tiếng La tinh, có nghĩa là xác lập lại cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở những bộ phận riêng lẻ. Nên tích hợp có thể được hiểu là sự phối hợp các hoạt động khác nhau, các thành phần khác nhau của một hệ thống để bảo đảm sự hài hòa chức năng và mục tiêu hoạt động của hệ thống ấy. Vì thế, trong dạy học, tích hợp có thể định nghĩa là sự liên kết các đối tượng giảng dạy, nội dung học tập khác nhau vào cùng một kế hoạch giảng dạy mà vẫn bảo đảm sự đồng bộ, hài hòa, trọn vẹn của hệ thống dạy học nhằm đạt mục tiêu giáo dục tốt hơn.
Dạy học tích hợp Tháng 09/1968, “Hội nghị tích hợp việc giảng dạy các khoa học” đã được Hội đồng Liên quốc gia về giảng dạy khoa học tổ chức tại Varna (Bungari), với sự bảo trợ của UNESCO. Theo đó, DHTH được UNESCO định nghĩa như sau: “Một cách trình bày các khái niệm và nguyên lý khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau”[3]. Định nghĩa của UNESCO nhấn mạnh quan điểm cần giảm Luan van 2 thiểu việc tách riêng các kiến thức, các lĩnh vực khoa học khác nhau. Quá trình DHTH bao gồm những hoạt động tích hợp, xuất phát từ những tình huống thực tế, tạo cơ hội để HS biết cách phối hợp các kiến thức, kỹ năng và thao tác một cách có hệ thống, từ đó hình thành những năng lực ở trình độ cao, đáp ứng yêu cầu của xã hội.
Nói một cách khác, DHTH là hướng dẫn, định hướng cho HS cách sử dụng kiến thức, kỹ năng của mình để giải quyết và ứng dụng trong những tình huống cụ thể, với mục đích phát triển năng lực người học. Theo Xavier Roegiers, “Lý thuyết sư phạm tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập trong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành ở HS những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho HS, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập tương lai, hoặc nhằm hòa nhập HS vào cuộc sống lao động. Lý thuyết sư phạm tích hợp tìm cách làm cho quá trình học tập có ý nghĩa” [4]. Xavier Roegiers còn cho rằng giáo dục nhà trường phải chuyển từ đơn thuần dạy kiến thức sang phát triển ở HS các năng lực hành động, xem năng lực là khái niệm cơ sở của sư phạm tích hợp.
Các định nghĩa trên cũng đã nêu rõ mục tiêu chính của việc DHTH là hình thành và phát triển năng lực của người học. Trong dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể được Bộ GD – ĐT ban hành tháng 08/2015 [21], đã đề cập đến quan niệm DHTH như sau “dạy học tích hợp là định hướng dạy học giúp HS phát triển khả năng huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng,… thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết có hiệu quả các vấn đề trong học tập và trong cuộc sống, được thực hiện ngay trong quá trình lĩnh hội tri thức và rèn luyện kỹ năng; phát triển được những năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề”. Và quan điểm xây dựng của chương trình là “trên cơ sở giáo dục toàn diện và hài hòa đức, trí, thể, mỹ; mục tiêu chương trình giáo dục phổ thông xác định những yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực của HS ở từng cấp học; mục tiêu chương trình môn học xác định những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ, hướng đến hình thành những phẩm chất, năng lực đặc thù môn học và các phẩm chất, năng lực khác ở từng lớp, từng cấp học, coi đó là cam kết bảo đảm chất lượng của cả hệ thống và từng cơ sở giáo dục, là căn cứ để chỉ đạo, giám sát và đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông”. Năng lực – Phẩm chất Luan van 3 Năng lực là “khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,…” [21].
Năng lực của cá nhân được đánh giá qua phương thức và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống. Năng lực đặc thù môn học là “năng lực mà môn học (đó) có ưu thế hình thành và phát triển”. Một năng lực có thể là năng lực đặc thù của nhiều môn học khác nhau. Phẩm chất là “những tính tốt thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử trong đạo đức, lối sống, ý thức pháp luật, niềm tin, tình cảm,.
của con người”. Phẩm chất cùng với năng lực tạo nên nhân cách con người. Schneckenberg và Wildt cho rằng việc hình thành năng lực phải trải qua một quá trình có nhiều giai đoạn, giai đoạn trước là tiền đề cho giai đoạn sau [5]. Quá trình đó có thể được mô hình hóa bằng sơ đồ “bậc thang” như sau: (Hình 1.
- Bước 1: Thu thập, tiếp nhận thông tin. - Bước 2: Xử lý thông tin để hình thành kiến thức. - Bước 3: Áp dụng kiến thức vào những bối cảnh cụ thể để hình thành khả năng. - Bước 4: Khả năng kết hợp với thái độ (động cơ, niềm tin, …) để hình thành hành động có ý nghĩa.
- Bước 5: Hành động có ý nghĩa phù hợp với các tiêu chuẩn nhất định sẽ hình thành năng lực. Để hình thành sự chuyên nghiệp và năng lực nghề nghiệp thì còn cần kết hợp thêm một số yếu tố khác: - Bước 6: Năng lực kết hợp với tính trách nhiệm sẽ dẫn đến sự chuyên nghiệp, thành thạo. - Bước 7: Sự chuyên nghiệp kết hợp với học hỏi kinh nghiệm sẽ hình thành năng lực nghề nghiệp. Luan van 4 Năng lực nghề Chuyên nghiệp Năng lực Kinh Hành động Trách nghiệm Khả năng Phù nhiệm Kiến thức Thái hợp Thông tin Áp độ Xử lý dụng Hình 1.
Các bước hình thành năng lực [6]. Chương trình giáo dục phổ thông mới sau năm 2015 sẽ được cấu trúc lại theo định hướng nhằm hình thành và phát triển cho HS 3 phẩm chất và 8 năng lực chủ yếu sau: (Bảng 1. Các phẩm chất và năng lực cơ bản. PHẨM CHẤT NĂNG LỰC Sống yêu thương.
Năng lực tự học. Sống tự chủ. Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Sống trách nhiệm.
Năng lực thẩm mỹ. Năng lực thể chất. Năng lực giao tiếp. Năng lực hợp tác.
Năng lực tính toán. Năng lực công nghệ thông tin và truyền thông (ICT). Do mục tiêu giáo dục không còn đặt nặng vào việc truyền thụ kiến thức mà là tập trung, chú trọng hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cần thiết cho HS nên việc thay đổi quan điểm giáo dục là điều tất yếu. Và quan điểm DHTH là phù hợp việc đáp ứng được mục tiêu hình thành và phát triển năng lực ở HS, nhất là năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo – năng lực cần thiết nhất trong thời buổi hội nhập, năng lực mà trong quan điểm dạy học truyền thống chưa được tập trung chú trọng.
Chủ đề tích hợp Chủ đề tích hợp là những chủ đề có nội dung kiến thức liên quan đến hai hay nhiều mảng khác nhau của một môn học; hai hay nhiều môn học khác nhau, thể hiện ở sự ứng dụng của chúng trong cùng một hiện tượng, quá trình trong tự nhiên hay xã hội. Luan van 5 Các chủ đề tích hợp cần phải gắn với thực tiễn nên sinh động, và cụ thể đối với HS, có ưu thế trong việc tạo ra động cơ, hứng thú học tập cho HS. Với các chủ đề tích hợp, HS được tăng cường vận dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyết các tình huống thực tiễn, tránh việc ghi nhớ kiến thức một cách máy móc, nhờ đó năng lực và phẩm chất của HS được hình thành và phát triển. Ngoài ra, dạy học các chủ đề tích hợp giúp cho HS tăng cường sự hiểu biết tổng quát cũng như khả năng ứng dụng của kiến thức tổng hợp vào thực tiễn [7].
Tình hình vận dụng dạy học tích hợp 1. Trên thế giới Không chỉ hiện tại, từ những năm giữa thế kỉ 20, chương trình đào tạo của nhiều nước đã được xây dựng theo quan điểm tích hợp, đặc biệt là ở các cấp tiểu học và trung học cơ sở. Theo thống kê của UNESCO, từ năm 1960 đến 1974 trên thế giới đã có 208 chương trình dạy các môn khoa học theo quan điểm tích hợp ở những mức độ khác nhau. Và các nước có nội dung chương trình thể hiện rõ quan điểm này là Pháp, Nga, Hoa Kì, … Từ năm 2006, các chủ đề hội tụ được Bộ giáo dục Quốc gia Pháp chính thức đưa vào chương trình học cho HS cấp THCS trên toàn quốc.
Các chủ đề hội tụ ở Pháp là những đề tài rất thiết thực, gắn liền với thực tiễn đời sống, và được Bộ giáo dục và đào tạo Pháp chọn lựa rất kĩ lưỡng [22]. Hầu hết các nước trong khu vực Đông Nam Á đã thực hiện quan điểm tích hợp để dạy các kiến thức về tự nhiên và xã hội ở cấp tiểu học và THCS với những mức độ nhất định. Điển hình có thể đề cập đến, trong chương trình của Singapore, Thái Lan, môn “Khoa học” gồm những chủ đề nhất định xuyên suốt từ tiểu học tới THCS (lớp 9 hoặc lớp 10) [8]. Ở Việt Nam Ở nước ta đã có nhiều môn học, cấp học quan tâm vận dụng tư tưởng DHTH vào quá trình dạy học để nâng cao chất lượng giáo dục.