Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về giáo dục pháp luật cho sinh viên 1. Khái niệm quản lý nhà nước về giáo dục pháp luật cho sinh viên 1. Giáo dục pháp luật cho sinh viên Để tiếp cận với GDPL, trước hết các nhà khoa học xuất phát từ khái niệm giáo dục.
Theo quan niệm của khoa học sư phạm, giáo dục được tiếp cận dưới hai nghĩa khác nhau: - Theo nghĩa rộng: Giáo dục là quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch, thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa người giáo dục với người được giáo dục, nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh kinh nghiệm của xã hội loài người - Theo nghĩa hẹp: Giáo dục là một phần của quá trình sư phạm, quá trình giáo dục theo nghĩa rộng – Là quá trình hình thành niềm tin, lý tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ, những nét tính cách của nhân cách XHCN, những hành vi và thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội. Từ khái niệm giáo dục có thể thấy GDPL là hình thức giáo dục cụ thể, là “cái riêng”, “cái đặc thù” trong mối quan hệ với giáo dục nói chung. Với tư cách là một bộ phận trong hệ thống giáo dục, GDPL vừa mang những chung của giáo dục, sử dụng các hình thức, phương pháp của giáo dục vừa có những nét đặc thù. Những nét riêng đó được thể hiện ở mục đích giáo dục là hình thành tri thức (mục đích nhận thức), hình thành tình cảm, lòng tin với pháp luật (mục đích cảm xúc) và xây dựng thói quen thực hiện hành vi hợp pháp (mục đích hành vi).
GDPL là vấn đề lý luận cơ bản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc nhận thức hình thành ý thức pháp luật. Khái niệm GDPL có thể thấy là một dạng hoạt động gắn liền với việc triển khai thực hiện pháp luật cũng như trong hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật [30]. 8 luan an - Quan niệm thứ nhất cho rằng: GDPL là một bộ phận của giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức. Theo quan niệm này khi tiến hành giáo dục chính trị tư tưởng cho nhân dân thì tự nó sẽ hình thành nên ý thức pháp luật, tức là nếu làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục đạo đức sẽ có được sự tôn trọng pháp luật của công dân - Quan niệm thứ hai cho rằng: không có khái niệm GDPL.
Quan điểm này cho rằng, pháp luật là quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung và mọi chủ thể có nghĩa vụ phải tuân thủ pháp luật; do vậy, không cần đặt ra vấn đề GDPL nữa. - Quan niệm thứ ba: đồng nhất GDPL với tuyên truyền, phổ biến hay giải thích pháp luật - Quan niệm thứ tư: đồng nghĩa GDPL với dạy và học pháp luật ở các trường học, còn việc tuyên truyền phổ biến pháp luật ở ngoài xã hội thì không phải là GDPL. Trong quá trình phát triển của con người thì GDPL là một nội dung, một hoạt động không thể thiếu. So sánh với tuyên truyền và phổ biến pháp luật thì GDPL có tính toàn diện hơn.
Tính toàn diện đó thể hiện ở chỗ GDPL vừa có tính định hướng rõ ràng, vừa có tính hệ thống để bảo đảm đối tượng giáo dục được nâng cao cả về kiến thức pháp luật, kỹ năng thực hiện pháp luật và thái độ tôn trọng pháp luật. GDPL phải nhằm đạt tới sự hình thành ý thức tự giác trên cơ sở hiểu biết đầy đủ về pháp luật và các vấn đề liên quan [14]. Kết quả của GDPL không chỉ ở chỗ đối tượng biết pháp luật quy định như thế nào mà còn hiểu vì sao lại quy định như vậy để họ vận dụng pháp luật một cách chủ động, sáng tạo và chính xác. Theo đó, GDPL là một phạm trù rộng lớn, là nhiệm vụ chung của toàn xã hội, của gia đình và nhà trường, trong đó vai trò định hướng, dẫn dắt bởi các nội dung và hình thức giáo dục trong nhà trường có tầm quan trọng đặc biệt.
Từ các phân tích nêu trên có thể định nghĩa: Giáo dục pháp luật là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục một cách có hệ thống và thường xuyên nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm pháp lý và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của pháp luật hiện hành [30]. 9 luan an Thuật ngữ "sinh viên" có nguồn gốc từ tiếng La-tinh "Student" có nghĩa là người làm việc, học tập nhiệt tình, người đi tìm kiếm, khai thác tri thức. Theo ngôn ngữ Hán Việt thì "sinh viên" là người bước vào cuộc sống, cuộc đời. Còn theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm "sinh viên" được dùng để chỉ những người học ở bậc đại học [29] Theo Điều 59, Luật Giáo dục Đại học số: 08/2012/QH13 thì: "sinh viên" được hiểu là người học của các cơ sở giáo dục đại học theo chương trình đào tạo cao đẳng và chương trình đào tạo đại học.
GDPL cho sinh viên là rất quan trọng và cần thiết, vì sinh viên là đại diện của một nhóm xã hội cơ động. Đặc biệt, đó là nhóm những người đang chuẩn bị bước vào lao động sản xuất. Đứng về mặt quan hệ xã hội thì thời kỳ sinh viên là sự quá độ của tuổi thanh niên từ những giai cấp và nhóm xã hội khác nhau chuyển thành một nhóm xã hội mới: giới trí thức. Vì thế, sinh viên vừa là một bộ phận hữu cơ của thanh niên, vừa là một bộ phận của giới trí thức[14] Từ khái niệm chung về GDPL nói trên có thể hình thành khái niệm về GDPL cho sinh viên: Giáo dục pháp luật cho sinh viên là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể giáo dục pháp luật tác động tới sinh viên thông qua hoạt động giáo dục chính khóa và ngoại khóa bằng các phương thức giáo dục khác nhau nhằm mục đích trang bị cho họ tri thức pháp luật cơ bản, định hướng phát triển nhân cách và tư cách công dân, nâng cao nhận thức, góp phần điều chỉnh hành vi, hình thành thói quen tự giác xử sự đúng pháp luật, có ý thức tuân thủ pháp luật và có tri thức pháp luật về chuyên môn nghiệp vụ, ngành nghề, lĩnh vực mà mình được đào tạo [14] 1.
Quản lý nhà nước và quản lý nhà nước về giáo dục Khoa học về quản lý định nghĩa: “Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… thông qua hệ thống pháp luật, chính sách, các nguyên tắc, các quy định và bằng các biện pháp cụ thể, nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng quản lý”. Như vậy, hiểu một cách đơn giản nhất, quản lý 10 luan an chính là sự tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý thông qua các công cụ quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra. Sự ra đời của nhà nước đã dẫn đến sự xuất hiện QLNN. QLNN phụ thuộc vào chế độ lịch sử, chính trị, đặc điểm văn hóa, trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia qua các giai đoạn lịch sử.
Trong toàn bộ hệ thống xã hội, có nhiều chủ thể tham gia quản lý xã hội như: tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức kinh tế, các đoàn thể nhân dân, các hiệp hội.Trong các chủ thể quản lý xã hội đó thì Nhà nước là một chủ thể đặc biệt và QLNN có những điểm khác biệt sau: Thứ nhất, chủ thể QLNN (theo nghĩa rộng) là các cơ quan, cá nhân trong bộ máy nhà nước được trao quyền gồm: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp. Thứ hai, đối tượng QLNN là tất cả các cá nhân, tổ chức sinh sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, công dân làm việc bên ngoài quốc gia. Thứ ba, QLNN là quản lý toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao. Thứ tư, QLNN mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng công cụ pháp luật và các chính sách của nhà nước để quản lý xã hội.
Thứ năm, mục tiêu của QLNN là phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của toàn xã hội. Từ những đặc điểm trên, có thể hiểu QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển xã hội [24, tr. Theo nghĩa hẹp, QLNN là hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền (chủ yếu là cơ quan hành chính nhà nước) trên cơ sở Hiến pháp, luật để tổ chức đời sống xã hội theo Hiến pháp và luật. Như vậy, QLNN là một hình thức hoạt động của nhà nước được thực hiện chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước, có nội dung là bảo đảm sự chấp hành luật, pháp luật, nghị quyết của cơ quan quyền lực 11 luan an nhà nước để tổ chức và chỉ đạo một cách trực tiếp và thường xuyên công cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa - xã hội và hành chính - chính trị.
[30] Từ khái niệm QLNN, có thể đưa đến khái niệm QLNN về giáo dục: QLNN về giáo dục là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các hoạt động giáo dục do các cơ quan quản lý có trách nhiệm về giáo dục của nhà nước từ Trung ương đến địa phương tiến hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục, duy trì kỷ cương, thỏa mãn nhu cầu giáo dục của nhân dân, thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà nước. Quản lý nhà nước về giáo dục pháp luật cho sinh viên QLNN trong lĩnh vực GDPL cho sinh viên đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là một công việc trọng tâm, thường xuyên và liên tục của các cơ quan nhà nước và của các cấp, các ngành.