Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về giáo dục tiểu học tư thục. 9 Luan van Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về giáo dục tiểu học tư thục trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
Giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước về giáo dục tiểu học tư thục trên địa bàn Thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay. 10 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ GIÁO DỤC TIỂU HỌC TƢ THỤC 1.1 Cơ sở lý luận về quản lý Nhà nƣớc về giáo dục tiểu học tƣ thục 1.1 Khái niệm quản lý nhà nƣớc Theo Giáo trình quản lý hành chính Nhà nước: “Quản lý Nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN” (Nguyễn Vũ Tiến, 2006) Hoặc có quan điểm cho rằng ”Quản lý Nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực Nhà nước và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy Nhà nước thực hiện nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. Như vậy, quản lý Nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực Nhà nước, được sử dụng quyền lực để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Quản lý Nhà nước được xem là một hoạt động chức năng của Nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt.
Quản lý Nhà nước được hiểu theo hai nghĩa: + Theo nghĩa rộng: quản lý Nhà nước là toàn bộ hoạt động của bộ máy Nhà nước, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tư pháp. + Theo nghĩa hẹp: quản lý Nhà nước chỉ bao gồm hoạt động hành pháp. Quản lý Nhà nước được đề cập trong đề tài này là khái niệm quản lý Nhà nước theo nghĩa rộng; quản lý Nhà nước bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tượng quản lý cần thiết của Nhà nước. Hoạt động quản lý Nhà nước chủ yếu và trước hết 11 Luan van được thực hiện bởi tất cả các cơ quan Nhà nước, song có thể các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được nhà nước uỷ quyền, trao quyền thực hiện chức năng của Nhà nước theo quy định của pháp luật.2 Tổng quan về giáo dục tiểu học tƣ thục: 1.1 Khái niệm giáo dục và giáo dục tiểu học tư thục Trong quá trình tồn tại và phát triển của xã hội loài người, việc thế hệ trước chuẩn bị cho thế hệ sau bước vào cuộc sống là một chức năng không thể thiếu, chức năng đó chính là giáo dục.
Trong giáo dục học, khái niệm giáo dục có thể được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng: “Giáo dục là quá trình tác động của nhà giáo dục lên các đối tượng giáo dục nhằm hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách toàn diện (trí tuệ, đạo đức, thẩm mĩ, thể chất, kĩ năng lao động,…)”. Quá trình giáo dục theo nghĩa rộng được thực hiện trong nhà trường còn được gọi là quá trình sư phạm tổng thể, bao gồm hai quá trình bộ phận, đó là quá trình dạy học và quá trình giáo dục. Giáo dục hiểu theo nghĩa hẹp: “Giáo dục là quá trình tác động của nhà giáo dục lên các đối tượng giáo dục để hình thành cho người học ý thức,thái độ và hành vi ứng xử với cộng đồng, xã hội”.
Với nghĩa hẹp, khái niệm giáo được đặt ngang hàng với khái niệm dạy học. Khái niệm giáo dục nghĩa hẹp đề cập đến quá trình giáo dục các phẩm chất đạo đức, hành vi, lối sống cho học sinh. Giáo dục theo quan điểm của các chuyên gia hàng đầu của UNESCO: “Giáo dục là một trong những công cụ mạnh nhất mà chúng ta có trong tay để sáng tạo lên tương lai” (Jacques DoLoss – 1995). Hệ thống giáo dục của nước ta bao gồm giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học, giáo dục thường xuyên.
Trong giáo dục phổ thông có hai cấp: Cấp tiểu học và cấp trung học. Cấp tiểu học bao gồm tất cả các trường tiểu học (ở mọi loại hình) tổ chức 12 Luan van giảng dạy và giáo dục theo nội dung, chương trình quy định, bao gồm các lớp từ lớp Một đến lớp Năm. “Giáo dục tiểu học là cấp học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân có nhiệm vụ giúp học sinh phát triển toàn diện về tình cảm, đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt nam xã hội chủ nghĩa.” Giáo dục tiểu học là giai đoạn thứ nhất của giáo dục bắt buộc. Nó theo sau giáo dục mầm non (nhà trẻ và mẫu giáo) và nắm trước giai đoạn giáo dục trung học.
Đây là bậc giáo dục cho trẻ em từ lớp một (5 hoặc 6 tuổi) tới hết lớp năm (hoặc lớp sáu, tùy theo các quốc gia). Đây là bậc học quan trọng đối với sự phát triển của trẻ em, thời gian hình thành nhân cách và năng lực (trí tuệ và thể chất). Ở Việt Nam, tiểu học là bậc học cao hơn mầm non và thấp hơn trung học cơ sở. Trước đây ở miền Bắc (Việt Nam), tiểu học còn được gọi là phổ thông cơ sở cấp một.
Mục tiêu chính của giáo dục tiểu học là giúp tất cả học sinh biết đọc, biết viết, và biết tính toán với những con số ở mức độ căn bản, cũng như thiết lập những hiểu biết căn bản về khoa học, toán, địa lý, lịch sử, và các môn khoa học xã hội khác. Cơ sở giáo dục tư thục được quy định tại Khoản 3 Điều 18 Nghị định 75/2006/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Giáo dục như sau: Cơ sở giáo dục tư thục do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép. Nguồn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động của cơ sở giáo dục tư thục là nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước. Vậy, Giáo dục tiểu học tư thục là các trường học, các cơ sở giáo dục do các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế hoặc các cá nhân bỏ nguồn vốn ngoài ngân sách thành lập khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép, và giành cho trẻ em từ lớp 1 đến hết lớp 5, giúp cho học sinh biết đọc, biết viết và biết tính toán với những con số ở mức độ căn bản.2 Vị trí, vai trò của giáo dục, giáo dục tiểu học Tại tất cả các quốc gia trên thế giới, con người ngày càng ý thức rõ được vai trò quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển xã hội, ý thức được sản phẩm của giáo dục là con người, nhân tố chủ yếu sản sinh ra các nguồn lực khác; giáo dục trong xã hội phát triển vừa trở thành điều kiện, vừa trở thành động lực thúc đẩy mạnh mẽ xã hội phát triển.
Từ nhận thức đúng đắn về vị trí và vai trò của giáo dục đối với sự phát triển của xã hội. Quốc gia nào có nền giáo dục chất lượng cao sẽ thúc đẩy sự thịnh vượng về kinh tế và sự tiến bộ về xã hội của quốc gia đó. Trong một công trình nghiên cứu ứng dụng vào thực tiễn về những ưu tiên và chiến lược cho giáo dục năm 1997, Ngân hàng Thế giới đã có kết luận: “Đầu tư vào giáo dục sẽ tích lũy vốn con người, là chìa khóa để thay thế sự tăng trưởng kinh tế và tăng thu nhập. Giáo dục, đặc biệt là giáo dục cơ bản cũng góp phần làm giảm đói nghèo, nhờ tăng năng suất lao động của tầng lớp lao động nghèo, giảm sinh đẻ và tăng cường sức khỏe, giúp mọi người cùng có cơ hội tham gia đầy đủ vào hoạt động xã hội và phát triển kinh tế”.
Đại hội lần thứ VII Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: “Giáo dục – Đào tạo (GĐ – ĐT) phải được xem là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tố con người, động lực trực tiếp của sự phát triển.” Đại hội lần thứ XI, Đảng đã đề ra những định hướng lớn về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Trong đó nêu rõ: “GD-ĐT có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam. Phát triển GD-ĐT cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho GD-ĐT là đầu tư phát triển. Đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT theo nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng vào bảo vệ Tổ quốc.
Đẩy 14 Luan van mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời.” Nghị quyết Hội nghị trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, khẳng định mục tiêu tổng quát tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tót nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả. Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực ngiệp, dạy tốt, học tốt, quản lí tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lí, gắn với xây dựng xã hội học tập, bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng, chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế, hệ thống giáo dục và đào tạo, giữ vững định hướng xã hôi chủ nghĩa bản sắc dân tộc.