phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng Chƣơng 1: Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Chƣơng 2: Sử dụng phƣơng pháp nêu và giải quyết vấn đề nhằm phát huy tính tích cực trong dạy học hoá học Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 7 luan an CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC HOÁ HỌC Ở TRƢỜNG PHỔ THÔNG 1. Phƣơng hƣớng đổi mới phƣơng pháp dạy học hoá học 1. Cơ sở Tâm lí học và Lí luận dạy học hiện đại [11, tr.126] Tâm lí học và Lí luận dạy học hiện đại khẳng định: Con đƣờng có hiệu quả nhất để làm cho HS nắm vững kiến thức và phát triển năng lực sáng tạo là phải đƣa HS vào vị trí của chủ thể nhận thức, thông qua hoạt động tự lực của bản thân mà chiếm lĩnh kiến thức, phát triển năng lực sáng tạo và hình thành quan điểm đạo đức. Xu hƣớng đổi mới PPDH hiện nay: Tổ chức cho ngƣời học đƣợc học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực, sáng tạo trong đó cốt lõi là xây dựng PP hoạt động sáng tạo.
Nghiên cứu tâm lí về khả năng lƣu giữ thông tin của HS : + Đọc: 5% + Nghe: 15 % + Nhìn: 20 % + Nghe và nhìn: 25% + Thảo luận 55 % + Tiếp nhận bằng hành động: 75 % + Dạy lại cho ngƣời khác : có thể đến 90% Nhƣ vậy, việc tự học ở trên ghế nhà trƣờng hôm nay phải chuẩn bị tích cực cho việc học tập lâu dài sau này. Do đó ngƣời giáo viên (GV) cần chú ý việc dạy học và dạy cách học cho HS. Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học hóa học[13, tr 13-18 ] Để nâng cao chất lƣợng dạy học, thích ứng với nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trƣờng, sự phát triển của khoa học kĩ thuật hòa nhập với trào 8 luan an lƣu phát triển của các nƣớc trên thế giới và trong khu vực, đòi hỏi phải đổi mới PPDH hóa học theo các hƣớng sau: * Hoàn thiện chất lƣợng các PPDH hiện có: + Tổ chức cho ngƣời học học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo. + Tăng cƣờng sử dụng thí nghiệm và các phƣơng tiện trực quan và phải dạy cho HS biết tự nghiên cứu và tự học khi sử dụng chúng.
+ Tăng cƣờng năng lực vận dụng trí thức đã học vào cuộc sống và sản xuất luôn đổi mới. * Sáng tạo ra các PPDH mới, bằng cách: + Liên kết nhiều PPDH riêng rẽ thành những PPDH phức hợp có hiệu quả cao hơn. + Liên kết PPDH với các phƣơng tiên kĩ thuật dạy học hiện đại + Chuyển hoá PP khoa học thành PPDH đặc thù của bộ môn. * Chuyển đổi chức năng: + Chức năng PPDH từ thông báo tái hiện đại trà chung cho cả lớp chuyển sang tính chất tìm tòi- ơrixtic, phân hóa, cá thể hóa cao độ, tiến lên theo nhịp độ cá nhân,….
+ Chuyển mô hình dạy học một chiều sang mô hình dạy học 2 chiều. Phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh qua giảng dạy hóa học ở trƣờng phổ thông 1. Tính tích cực nhận thức (TTCNT) 1. Học tập của HS là quá trình nhận thức tích cực Nhƣ chúng ta đã biết nhận thức là sự phản ánh không nhƣ tấm gƣơng phản chiếu những hiện tƣợng, sự kiện và quá trình của hiện thực vào đầu óc con ngƣời.
Hình ảnh của đối tƣợng hiện thực xuất hiện trong ý thức thông qua sự phản ánh có tính chất cải tạo bao gồm trong đó cả sự sáng tạo. Đó có thể là sự phản ánh giống hệt của những đối tƣợng trong hiện thực và cũng có thể tạo 9 luan an nên hình ảnh mới của sự vật, hiện tƣợng, quá trình chƣa có trong thế giới khách quan bằng cách xây dựng từ những hình ảnh, bộ phận khác nhau của sự vật, hiện tƣợng, quá trình đang tồn tại trong hiện thực. Vì vậy, bất kì một quá trình nhận thức nào cũng là một quá trình tích cực, thể hiện ở chỗ: - Sự phản ánh sự vật, hiện tƣợng diễn ra trong quá trình hoạt động của các bộ phận tích cực của vỏ não. Sự phản ánh bản chất của đối tƣợng đòi hỏi trải qua hoạt động tƣ duy phức tạp dựa trên những thao tác logic.
- Sự phản ánh đó đòi hỏi sự lựa chọn từ vô số những sự vật, hiện tƣợng của hiện thực. Chủ thể nhận thức phải tích cực lựa chọn chỉ những cái trở thành đối tƣợng phản ánh. Với sự tiếp cận lịch sử nhân văn chúng ta nhận thấy rằng, muốn tồn tại và phát triển, con ngƣời bằng hoạt động cơ bản của bản thân mình là lao động đã chế ngự, cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội. Trong quá trình đó con ngƣời tích lũy đƣợc những kinh nghiệm mà chúng đƣợc kết tinh dƣới dạng đặc biệt: văn hóa vật chất, và văn hóa đó tồn tại khách quan ngoài mỗi con ngƣời.
Song nó lại là nguồn gốc tâm lí của mỗi con ngƣời cụ thể, là cái khả năng (dƣới dạng tiềm năng) nhƣ là nguyên liệu của sản phẩm tƣơng lai. Tính tích cực nhận thức – yếu tố quyết định chất lƣợng và hiệu quả quá trình học tập của HS [13 , tr.136- 140] Tính tích cực: Một khái niệm quan trọng trong lý luận dạy học, dƣới góc độ triết học, bản chất tính tích cực là thái độ cải tạo của chủ thể với khách thể, đối với những sự vật, hiện tƣợng xung quanh. Khi nói về sự cần thiết phát huy tính tích cực của HS trong quá trình học tập, I.Kharlamôp đã nêu: “tính tích cực là trạng thái hoạt động của chủ thể, nghĩa là của ngƣời hành động” “TTCNT là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua huy động ở mức cao các chức năng tâm lí nhằm giải quyết những nhiệm vụ học tập. TTCNT vừa là mục đích, phƣơng tiện, kết quả của hoạt động vừa là phẩm chất hoạt động của cá nhân.
Tùy theo việc huy động chủ yếu những chức 10 luan an năng tâm lí nào và mức độ sự huy động những chức năng tâm lí đó, mà có thể diễn ra tính tích cực tái hiện, tính tích cực tìm tòi, tính tích cực sáng tạo” Học tập là một trƣờng hợp riêng của nhận thức, một sự nhận thức đã đƣợc làm cho dễ dàng đi, và đƣợc thực hiện dƣới sự chỉ đạo của GV. Do đó, tính tích cực học tập thực chất là TTCNT. Tính tích cực của HS biểu hiện trong những hoạt động khác nhau: học tập, lao động, thể dục thể thao… trong đó học tập là hoạt động chính, chủ yếu của lứa tuổi học đƣờng. Trong mỗi dạng hoạt động nói trên, tính tích cực bộc lộ với những đặc điểm riêng.
Những dấu hiệu của tính tích cực học tập : + HS khao khát, tự nguyện tham gia trả lời các câu hỏi của GV, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích đƣợc phát biểu ý kiến của mình về vấn đề nêu ra. + HS hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề GV trình bày chƣa đủ rõ. + HS chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức kĩ năng đã học để nhận thức những vấn đề mới. + HS mong muốn đƣợc đóng góp với thầy, với bạn những thông tin mới lấy từ nhiều nguồn khác nhau, có khi vƣợt ra ngoài phạm vi bài học, môn học.
Ba cấp độ biểu hiện tính tích cực học tập: Tính tích cực tái hiện: Đó là mức độ bắt chƣớc, gắng sức làm theo các mẫu hành động của GV, của bạn. HS cố gắng bắt chƣớc hành động, thao tác của GV, của bạn cho kì đƣợc, đạt tới mức thành thạo. Tính tích cực tìm tòi: Đặc trƣng bằng sự bình phẩm, phê phán, tìm tòi tích cực về mặt nhận thức, óc sáng kiến, lòng khao khát hiểu biết, hứng thú học tập, độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm những cách giải quyết khác nhau về một vấn đề. 11 luan an HS tìm cách độc lập, tự giải quyết bài tập nêu ra, mò mẫm những cách giải khác nhau để tìm cho đƣợc lời giải hợp lý nhất.
Tính tích cực sáng tạo: Đặc trƣng bằng sự khẳng định con đƣờng riêng của mình thể hiện ở việc tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo và hữu hiệu. Tính tích cực sáng tạo biểu thị khả năng tự mình tìm kiếm những PP giải quyết mới; khả năng sử dụng những kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo vào những tình huống, hoàn cảnh mới một cách hữu hiệu. Tính tích cực sáng tạo là mức độ cao nhất của TTCNT. Nó đặc trƣng bằng con đƣờng riêng của mình, không giống với con đƣờng chung của mọi ngƣời đã đƣợc thừa nhận, đã trở thành chuẩn hóa, để đạt đƣợc mục đích.
Để có đƣợc sự sáng tạo thì cần thiết phải có tính tự lực. Tính tự lực là sẵn sàng tâm lí cho sự tự học, tự tìm hiểu. Biểu hiện của tính tích cực sáng tạo: HS nghĩ ra cách giải mới độc đáo, đề xuất những giải pháp có hiệu quả, có sáng kiến thực hiện những thí nghiệm chứng minh bài học. Mức độ sáng tạo của HS là có hạn nhƣng đó là mầm mống để phát triển trí sáng tạo sau này.Tổ chức quá trình nhận thức của HS với tƣ cách là chủ thể hoạt động, chủ thể nhận thức trong quá trình học tập TTCNT trong hoạt động học tập liên quan trƣớc hết với động cơ học tập.
Động cơ đúng sẽ tạo ra hứng thú. Hứng thú là tiền đề của tự giác. Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lí tạo nên tính tích cực, tính tích cực phát triển đến mức nào đó thì làm nảy sinh tƣ duy độc lập. Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo.
Nhƣ vậy, tùy theo mức độ của TTCNT, quá trình phát triển của TTCNT trải qua các giai đoạn chủ yếu sau: Tính tự giác nhận thức: Là giai đoạn xác định ý thức thái độ, tinh thần trách nhiệm học tập. Khi có tính tự giác HS sẽ ý thức đƣợc đầy đủ mục đích, nhiệm vụ học tập, qua đó HS nỗ lực nắm vững kiến thức. 12 luan an Tính tích cực nhận thức: Là giai đoạn tiếp theo, ở mức độ cao hơn với những đặc điểm của TTCNT (đã nêu ở trên). Tính độc lập nhận thức: Là giai đoạn cao nhất của tính tích cực, đặc trƣng ở chỗ, HS tự phát hiện đƣợc vấn đề, tự đƣa ra cách giải quyết và tự giải quyết vấn đề.