Chương 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Hiện nay, xu hướng mới trong dạy học nói chung và dạy học Vật lí nói riêng là dạy học định hướng phát triển NL của HS. Theo định hướng này, HS không còn tiếp thu kiến thức thụ động do GV cung cấp mà phải tự chiếm lĩnh kiến thức thông qua hoạt động học tập. Xuất phát từ mục tiêu dạy học theo định hướng phát triển NL nói trên, chúng tôi nhận thấy NLTN là một trong những NL quan trọng, cần thiết phải bồi dưỡng cho HS khi còn ngồi trên ghế nhà trường.
Do đó, trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi nghiên cứu việc tổ chức dạy học theo các giai đoạn của PPTN để hình thành và phát triển NLTN cho HS. Hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về NLTN trên nhiều lĩnh vực như luận văn của: Nguyễn Huy Thái (2016) “Xây dựng và sử dụng thí nghiệm ảo phần dao động cơ, Vật lí 12 bằng phần mềm Macromedia Flash nhằm nâng cao năng lực thực nghiệm cho học sinh”; Trương Xuân Cảnh (2015) “Xây dựng và sử dụng bài tập để phát triển năng lực thực nghiệm cho học sinh trong dạy học cơ thể thực vật – sinh học 11 Trung học phổ thông”; Vũ Tiến Tình (2017) “Sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học một số khái niệm hóa học sơ bản ở trường Trung học cơ sở nhằm phát triển năng lực thực nghiệm cho học sinh”. Ngoài ra, còn có một số bài báo công bố kết quả nghiên cứu về NLTN như: “Xây dựng chuyên đề thí nghiệm mở để bồi dưỡng năng lực thực nghiệm cho học sinh THPT chuyên” của Nguyễn Văn Biên; “Biện pháp hình thành năng lực thực nghiệm cho sinh viên Sư phạm Vật lí” của Trần Thị Thanh Thư; “Xây dựng các tiêu chí đánh giá năng lực thực nghiệm dựa trên thí nghiệm tự tạo” của Nguyễn Hoàng Anh. Qua đó cho thấy, nghiên cứu về định hướng phát triển NLTN cho HS đã có nhiều tác giả quan tâm.
Tuy nhiên, hướng nghiên cứu về tổ chức dạy học theo các giai đoạn của PPTN nhằm phát triển NLTN của HS chưa có tác giả nào đề cập đến. Vì vậy, trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu về việc tổ Luan van 7 chức dạy học chương “Chất khí” Vật lí 10 THPT theo các giai đoạn của PPTN nhằm phát triển NLTN cho HS. Năng lực thực nghiệm 1. Khái niệm năng lực thực nghiệm Trong từ điển Tiếng Việt, khái niệm NLTN được định nghĩa như sau: NLTN là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống.
Theo Trương Xuân Cảnh, “NLTN của HS THPT là sự làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ và vận hành chúng một cách hợp lí để thực hiện thành công nhiệm vụ thực nghiệm trong quá trình học tập ở trường THPT” (Trương Xuân Cảnh, 2015). Theo Phạm Hữu Tòng, “NLTN với tư cách là NL nhận thức khoa học, được hiểu là năng lực nghĩ ra (thiết kế) phương án TN khả thi cho phép đề xuất hoặc kiểm tra những giả thuyết hay phỏng đoán khoa học và thực hành được TN thành công để rút ra kết luận cần thiết (chứ không đơn thuần là NL thao tác TN, hiểu theo nghĩa là NL thực hiện các thao tác bằng tay, quan sát và đo đạc)” (Phạm Hữu Tòng, 2004). Dựa vào những định nghĩa trên, chúng tôi thấy rằng khó có thể đưa ra một định nghĩa chung nhất về NLTN, vì vậy trong nghiên cứu này chúng tôi đưa ra định nghĩa NLTN mang tính liệt kê như sau: NLTN là khả năng thiết kế, tiến hành, xử lí kết quả TN nhằm kiểm chứng tính đúng đắn của giả thuyết (dự đoán) đã đề ra. Cấu trúc năng lực thực nghiệm NLTN là một trong những NL quan trọng nhất mà HS cần hình thành và phát triển thông qua dạy học Vật lí.
Khi muốn nghiên cứu và đánh giá NLTN, nhà nghiên cứu cần phải làm rõ các yếu tố cấu trúc nên nó. Mỗi yếu tố cấu trúc chúng tôi gọi là NL thành phần (thành tố) của NLTN. Trong mô hình khám phá khoa học như sự nghiên cứu kép (Scientific Discovery as Dual Search – SDSS, 2000), Klahr đề xuất mô hình phát triển NL, theo đó NLTN gồm 3 thành tố: tìm kiếm giả thuyết, kiểm chứng giả thuyết và đánh Luan van 8 giá bằng chứng. Quan điểm của các nhà nghiên cứu cho thấy NLTN bao gồm 4 thành tố sau (Nguyễn Văn Biên, 2013): - NL xác định vấn đề cần nghiên cứu và đưa ra dự đoán, giả thuyết; - NL thiết kế các phương án TN; - NL tiến hành phương án TN đã thiết kế; - NL phân tích, xử lí và trình bày kết quả.
Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi dựa vào 4 thành tố đã nêu ở trên để đánh giá NLTN của HS. Vì vậy, chúng tôi sẽ tiến hành phân tích và làm rõ từng thành tố dựa trên công trình nghiên cứu của Trương Xuân Cảnh (Trương Xuân Cảnh, 2015) như sau: NL xác định vấn đề nghiên cứu và đưa ra dự đoán, giả thuyết - Giả thuyết thực nghiệm là một nhận định sơ bộ, một kết luận giả định có giá trị về bản chất sự vật được đưa ra để chứng minh hoặc bác bỏ. - NL hình thành giả thuyết thực nghiệm là khả năng người học đưa ra những nhận định sơ bộ hay kết luận giả định có giá trị về bản chất sự vật. NL thiết kế các phương án TN - Phương án TN là những dự kiến về cách thức, trình tự tiến hành thực nghiệm trong hoàn cảnh, điều kiện nhất định nào đó để thu được kết quả thực nghiệm mong muốn.
- NL thiết kế phương án TN là khả năng người học đề xuất được các yếu tố cần thiết cho việc triển khai thực nghiệm; bố trí TN và xác định quy trình tiến hành thực nghiệm để thu được kết quả mong muốn. NL tiến hành phương án TN đã thiết kế - NL tiến hành phương án TN là khả năng người học sử dụng hợp lí, có hiệu quả các thiết bị, dụng cụ và quy trình thao tác kĩ thuật để tiến hành thực nghiệm và quan sát, ghi chép, thu thập kết quả trong quá trình thực nghiệm. NL phân tích, xử lí và trình bày kết quả Luan van 9 - NL phân tích, xử lí và trình bày kết quả là khả năng người học xử lí được kết quả thực nghiệm thu được, trình bày mối liên hệ giữa các dữ liệu thực nghiệm (vẽ bảng biểu, sơ đồ, biều đồ, đồ thị), phân tích mối quan hệ nhân quả để rút ra tính quy luật và đưa ra những kết luận có tính giá trị từ kết quả thực nghiệm thu được. Khi muốn đánh giá sự phát triển NLTN, nhà nghiên cứu cần làm rõ nội hàm bằng cách chỉ ra các thành tố cấu trúc nên nó.
Sau đó, xây dựng công cụ đánh giá thông qua các tiêu chí cụ thể của từng thành tố. Mỗi thành tố của NLTN bao gồm các tiêu chí được trình bày cụ thể trong bảng 1. Các tiêu chí đánh giá ứng với từng thành tố của NLTN Thành tố Tiêu chí đánh giá 1. NL xác định vấn đề nghiên 1.
Quan sát, nhận ra dấu hiệu chung của sự cứu và đưa ra dự đoán, giả vật hiện tượng. Nhận ra vấn đề cần nghiên cứu. Đặt ra những câu hỏi về vấn đề cần nghiên cứu. Phát biểu vấn đề cần nghiên cứu.
Đề xuất giả thuyết 1. Từ giả thuyết, suy luận ra hệ quả có thể kiểm tra bằng TN. NL thiết kế các phương án TN 2. Xác định mục đích TN.
Xác định đại lượng cần đo. Đề xuất cách thay đổi và cách đo các đại lượng có trong TN. Xác định các dụng cụ TN cần sử dụng. Mô tả cách bố trí TN.
NL tiến hành phương án TN 3. Lắp ráp dụng cụ TN. Tiến hành TN. Quan sát hiện tượng xảy ra.
Luan van 10 Thành tố Tiêu chí đánh giá 3. Đọc giá trị các đại lượng cần đo. Ghi lại kết quả vào bảng kết quả TN. Năng lực phân tích, xử lí và 4.
Tính toán kết quả đo được. trình bày kết quả 4. Tính toán sai số 4. Biểu diễn kết quả đo được dưới dạng đồ thị.
Nhận xét tính đúng đắn của giả thuyết đã đề xuất và kết luận rút ra từ khái quát hóa kết quả TN. Đánh giá, cải tiến phép đo. Những biểu hiện của các thành tố cấu trúc nên NLTN được cụ thể hóa qua 3 phương diện của học sinh: Kiến thức, kĩ năng và thái độ trong quá trình học tập bộ môn Vật lí được trình bày trong sơ đồ 1. Luan van 11 NĂNG LỰC THỰC NGHIỆM KĨ NĂNG KIẾN THỨC + Kiến thức vật lí liên + Thiết kế phương án TN quan đến quá trình khảo + Chế tạo dụng cụ sát.
+ Kiến thức về thiết bị, + Lựa chọn dụng cụ an toàn. + Kiến thức về xử lí số + Lắp ráp dụng cụ TN liệu, kiến thức về sai số + Kiến thức về biểu diễn + Thay đổi các đại lượng số liệu dưới dạng bảng + Sử dụng dụng cụ đo: hiệu chỉnh biểu, đồ thị. dụng cụ đo, đọc số liệu + Sửa chữa các sai hỏng thông thường + Quan sát diễn biến hiện tượng + Ghi lại kết quả THÁI ĐỘ + Biểu diễn kết quả bằng bằng + Thái độ kiên nhẫn bảng biểu, đồ thị + Thái độ trung thực + Tính toán sai số + Thái độ tỉ mỉ + Biện luận, trình bày kết quả + Thái độ hợp tác + Tự đánh giá, cải thiện phép đo + Thái độ tích cực Sơ đồ 1. Chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ của NLTN Luan van 12 1.
Đánh giá năng lực thực nghiệm Đánh giá NLTN về cơ bản là đánh giá tham chiếu tiêu chí. Dựa trên những tiêu chí ứng với từng thành tố của NLTN, chúng tôi sẽ tiến hành phân tích biểu hiện của mỗi cá nhân HS để đánh giá sự phát triển NLTN. Tuy nhiên, biểu hiện của mỗi HS ở các mức độ là khác nhau. Vì vậy, muốn đánh giá NLTN cần chia ra các mức độ theo thứ tự tăng dần ứng với mỗi biểu hiện.
Theo khung đánh giá NLTN này, ứng với mỗi tiêu chí chúng tôi đề xuất 4 mức độ cụ thể như sau: - Mức 0 (0 điểm). HS không thực hiện được nhiệm vụ nào - Mức 1 (1 điểm). HS hoàn thành được nhiệm vụ hoặc một phần của nhiệm vụ dưới sự hỗ trợ của GV - Mức 2 (2 điểm). HS tự hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn sai sót nhỏ.
HS tự hoàn thành tốt nhiệm vụ Bảng 1.