Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về chính sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao tại viện nghiên cứu. Cơ sở lý luận về chính sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao tại viện nghiên cứu trên cơ sở tiếp cận di động xã hội. Hiện trạng chính sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao của các viện nghiên cứu tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Vận dụng tiếp cận di động xã hội trong chính sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao của các viện nghiên cứu. Một số hạn chế của luận án - Luận án chưa chỉ ra được tác động của bối cảnh với sự thay đôi trong triết lý, trong chính sách phát triển nhân lực KH&CN chất lượng cao trong viện nghiên cứu. - Luận án chưa đi sâu vào đặc điểm của các loại hình viện nghiên cứu khác nhau và những chính sách phát triển nhân lực KH&CN chất lượng cao đặc thù. - Luận án cũng chưa đánh giá được các yếu tô ảnh hưởng đến phát triển nhân lực KH&CN chất lượng cao tại viện nghiên cứu trong bối cảnh mới, đặc biệt là gắn với những tác động của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư.
- Luận án chưa có những phát hiện chuyên sâu với di động xã hội của từng đối tượng nhân lực KH&CN chất lượng cao tại viện nghiên cứu (chuyên gia nước ngoài, nhân lực KH&CN trẻ, nhân lực KH&CN là nữ giới.) Một số hạn chế trên sẽ được tác giả tiếp tục nghiên cứu và phát triển ở các định hướng nghiên cứu tiếp theo trong thời gian tới. TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VE CHINH SACH PHAT TRIEN NHAN LUC KHOA HOC VA CONG NGHE CHAT LƯỢNG CAO TẠI VIEN NGHIÊN CỨU Nội dung của Chương | tập trung trình bày tổng quan nghiên cứu về van đề nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao, vấn đề di động xã hội và chính sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao. Điểm chung của các nghiên cứu đều chỉ ra vai trò của lực lượng lao động đặc biệt này trong việc góp phần tạo ra các tiềm lực khoa học và công nghệ quốc gia và các nước đang đứng trước những thách thức trong cuộc cạnh tranh nhân lực chất lượng cao, nhân tài trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới. Các nghiên cứu gần đây cũng nhận định những thay đổi về bối cảnh của hoạt động khoa học và công nghệ hiện nay, đặc biệt là những tác động của CMCN lần thứ tư tới nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao.
Những phân tích về tình hình tổng quan nghiên cứu và việc chỉ ra các khoảng trống trong nghiên cứu giúp luận án chỉ ra những vấn đề nghiên cứu mới trong chính sách phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao tại viện nghiên cứu. Các nghiên cứu về nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao 1. Nghiên cứu quốc tế về nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao Đã có rất nhiều nghiên cứu về nhân lực KH&CN chất lượng cao. Trong đó, một định nghĩa khá phổ biến theo nghiên cứu của Tổ chức Hợp tác va Phát triển kinh tế (OECD) năm 1995 về “The Manual on the Measurement of Human Resources devoted to S&T (the “Canberra Manual’) (tam dich: Cam nang về do lường nguon nhân lực KH&CN) thi nhân lực KH&CN bao gồm những người đáp ứng được một trong các điều kiện sau: - Đã tốt nghiệp trường đào tạo trình độ nhất định nào đó về một chuyên môn KH&CN (từ công nhân có bằng cấp tay nghé trở lên) hay còn được gọi là trình độ 3 trong hệ giáo dục đào tạo; (Cao đăng, cử nhân/kỹ sư, thạc sĩ, tiễn sĩ, tiến sĩ khoa học); 17 - Hoặc không được đào tạo chính thức như đã nói ở trên nhưng làm một nghề trong lĩnh vực khoa học và công nghệ và đòi hỏi trình độ tương đương với một trong các trình độ nêu trên.
Kỹ năng tay nghề ở đây được đảo tạo tại nơi làm việc [OECD, 1995]. Theo UNESCO, nhân lực KH&CN được hiểu là “nhitng người trực tiếp tham gia vào hoạt động KH&CN trong một cơ quan, tổ chức và được trả lương hay thù lao cho lao động cua họ, bao gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực phi trợ” [UNESCO, 2007]. Trong báo cáo của Elaine D.Pulakos năm 2005 về “Selection Assessment Methods-A guide to implementing formal assessments to build a highquality workforce” (tam dịch: Các phương pháp đánh giá lựa chọn - Một hướng dan dé thực hiện các đánh giá chính thức dé xây dung một lực lượng lao động chat luong cao), thuộc Hiệp hội Quan lý Nguồn nhân lực đưa ra một bản báo cáo về những nghiên cứu trong cách thức đánh giá nguồn nhân lực có liên quan đến sử dụng đánh giá, bao gồm cả chế độ quản lý, tiện ích và các vấn đề pháp lý [Pulakos, E. Theo nhóm tác gia German Cubas, B.
Ravikumar va Gustavo Ventura (2013) về “Talent, Labor Quality, and Economic Development” (tam dich: Tai năng, chất lượng lao động va phát triển kinh tế), các tác giả đã do lường chất lượng lao động và rút ra ý nghĩa cho tầm quan trọng của TFP (viết tắt của Total Factor Productivity - Nhân tố năng suất tổng thể). Họ quan sát trực tiếp trên những thành tựu của các cá nhân có được trước khi gia nhập vào lực lượng lao động như một đầu vào ngoại sinh cho một lý thuyết về chất lượng lao động. Cụ thể, các tác giả đã xây dựng một khung tiêu dùng chi li trong các quốc gia có sự khác biệt ở hai khía cạnh chính - là tài năng và TFP. Xây dựng thước đo tài năng sử dụng số điểm kiểm tra quan sát được từ Chương trình Đánh giá Học sinh Quốc tế (PISA).
Sau đó các tác giả định lượng vai trò tương đối của nó tới TFP để giải thích cho sự khác biệt giữa các quốc gia về sản lượng của mỗi nhân công [German Cubas & B. Ravikumar & Gustavo Ventura, 2013]. 18 Có thê thấy rằng hiện chưa có một khái niệm quốc tế thống nhất chung với nhân lực khoa học và công nghệ và chất lượng cao. Các nghiên cứu từ các tiếp cận về xã hội học, kinh tế học chỉ ra các điểm nhận diện “chất lượng cao” vừa là ở khâu đầu vào (trình độ), nhưng cũng phụ thuộc vào những đóng góp của lực lượng lao động đặc biệt này trong phát triển tô chức.
Các nghiên cứu trong nước về nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao Theo nghiên cứu của tác giả Hồ Bá Thâm trong tác phẩm “Khoa học con người và phát triển nguồn nhân luc, bỗn đặc trưng chính của nhân lực chất lượng cao bao gồm trí tuệ, nhân cách, tay nghề vượt trội và có năng lực thực tế hoàn thành nhiệm vụ được giao một cách xuất sắc nhất trong một bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội cụ thé [Hồ Bá Thâm, 2003]. Trong cuốn sách của Nguyễn Hữu Dũng năm 2003 về “Si dung hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam ' đã đưa ra quan niệm về nhân lực chất lượng cao là một người lao động cụ thể có trình độ lành nghề “về chuyên môn kỹ thuật” ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn kỹ thuật nhất định [Nguyễn Hữu Dũng, 2003]. Trong nghiên cứu của Phạm Tat Dong năm 2005 về “Tri thie Việt Nam thực tiễn và triển vọng”, tác giả đã đưa ra các khái niệm về trí thức, trí thức Việt Nam; phân tích sự hình thành và phát triển của đội ngũ trí thức Việt Nam. Tác giả cũng chỉ ra sự phát triển của trí thức Việt Nam trong bối cảnh mới còn nhiều điểm hạn chế, từ đó phân tích những triển vọng và đề xuất giải pháp phát triển đội ngũ này trong thời kỳ mới [Phạm Tất Dong, 2005].
Trong bài viết của Dam Đức Vượng năm 2012 về “Thực trang và giải pháp phát triển nhân lực Việt Nam” nhân lực chất lượng cao được hiểu là đội ngũ nhân lực KH&CN, trong đó bao gồm các chuyên gia, tổng công trình sư, kỹ sư dau ngành, công nhân có tay nghé cao, có trình độ chuyên môn - kỹ thuật tương đương với các nước tiên tiến trong khu vực, có đủ năng lực nghiên cứu, tiếp nhận, chuyên giao và đề xuất những giải pháp khoa học, công nghệ, kỹ thuật, giải quyết những van đề cơ bản của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [Đàm Đức Vượng, 2012]. 19 Trong nghiên cứu của Hồ Ngọc Luật năm 2017 về “Nhân lực khoa học và x A công nghệ: Từ khái niệm của các tổ chức quốc tế đến khả năng vận dụng cho Việt Nam” đã so sánh khái niệm nhân lực KH&CN theo quan điểm của UNESCO và OECD. Nghiên cứu cũng chi ra răng phạm vi của định nghĩa “nguồn nhân lực KH&CN” của Việt Nam hẹp hơn so với khái niệm “nhân lực KH&CN” của OECD. “Nguồn nhân lực KH&CN” của Việt Nam không bao gồm những người có trình độ dưới cao đăng (trung cấp) và tương đương, nhưng lại làm nghề thuộc chuyên ngành KH&CN (như là các nhóm nghề tương đương với nhóm 2, nhóm 3 và nhóm nghề 122, 123 và 131 theo Danh mục phân loại nghề quốc tế 1988 đòi hỏi trình độ tương đương cao dang trở lên; và không bao gồm những người có trình độ tương đương đại học trở lên.
Bởi vì, Việt Nam chưa có quy định công nhận trình độ chuyên môn thông qua nghề thuộc chuyên ngành KH&CN tương đương với trình độ học vấn. Từ đó, tác giả cũng đã tông quan và đề xuất quan điểm tiếp cận đề dần đến thống nhất sử dụng khái nệm về nhân lực KH&CN phù hợp điều kiện của Việt Nam và có khả năng tương thích quốc tế [Hồ Ngọc Luật, 2017]. Một số nghiên cứu trong giai đoạn gần đây của các tác giả cũng đặt ra những van đề đánh giá chất lượng cao không chỉ là trình độ cao. Chất lượng cao còn thé hiện qua các kết quả nghiên cứu, uy tín, các đóng góp của nhân lực khoa học và công nghệ với sự phát triển của tô chức, của lĩnh vực, ngành mà họ theo đuổi.
Một yêu cầu kỹ năng nghề nghiệp về việc “hội nhập, thích ứng và kết nối” cũng là chủ đề mà nhiều tác giả quan tâm khi phân tích về đánh giá “chất lượng cao” đối với nguồn nhân lực khoa học và công nghệ hiện nay. Các nghiên cứu về di động xã hội của nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao 1.