Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ (mã số 9340 412.01) của nghiên cứu sinh Đỗ Thị Lâm Thanh, được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2023 dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Văn Khánh và PGS. Đào Thanh Trường, tập trung vào đề tài: "Chính sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao trong các viện nghiên cứu trên cơ sở tiếp cận lý thuyết di động xã hội (Nghiên cứu trường hợp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam)".
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và tác động của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư, khoảng cách về trình độ khoa học và công nghệ (KH&CN) giữa Việt Nam với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại. Thực tế này dẫn đến sự không đồng đều trong tiếp cận nguồn lực, thúc đẩy hiện tượng di động xã hội của nguồn nhân lực nghiên cứu. Đội ngũ nhân lực KH&CN chất lượng cao có khả năng thích ứng nhanh về chuyên môn và kỹ năng công nghệ, làm gia tăng nguy cơ chảy chất xám tại các tổ chức KH&CN công lập.
Di động xã hội là đặc tính cố hữu của nhân lực KH&CN chất lượng cao, tạo điều kiện tiếp cận tiến bộ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và khai thác nguồn lực quốc tế. Tuy nhiên, nếu thiếu cơ chế quản lý phù hợp, hiện tượng này sẽ tạo ra áp lực lớn khi các luồng "đến – đi" không bảo đảm tính tuần hoàn, dẫn đến việc mất mát nhân lực có trình độ. Tại Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (sau đây viết tắt là Viện Hàn lâm) là cơ sở nghiên cứu và đào tạo hàng đầu, đang đối mặt trực tiếp với sự phân hóa và dịch chuyển nhân lực sang khu vực doanh nghiệp, viện nghiên cứu tư nhân hoặc ra nước ngoài. Do đó, việc xây dựng chính sách phát triển nguồn nhân lực này dựa trên tiếp cận lý thuyết di động xã hội nhằm bảo đảm tuần hoàn chất xám là yêu cầu cấp thiết.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu: Xây dựng khung chính sách nhằm phát triển nhân lực KH&CN chất lượng cao của viện nghiên cứu dựa trên cơ sở tiếp cận lý thuyết di động xã hội.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Phân tích cơ sở lý luận về chính sách phát triển nhân lực KH&CN chất lượng cao dựa trên cơ sở tiếp cận lý thuyết di động xã hội.
- Phân tích thực trạng và chính sách phát triển nhân lực KH&CN chất lượng cao hiện nay tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
- Đề xuất khung chính sách về phát triển nhân lực KH&CN chất lượng cao của viện nghiên cứu dựa trên cơ sở tiếp cận lý thuyết di động xã hội.
Câu hỏi nghiên cứu
- 6.1. Câu hỏi chủ đạo: Cần xây dựng khung chính sách phát triển nhân lực KH&CN chất lượng cao tại các viện nghiên cứu từ việc áp dụng lý thuyết di động xã hội như thế nào?
- 6.2. Câu hỏi phụ: Việc thực hiện chính sách phát triển nhân lực KH&CN chất lượng cao tác động như thế nào đến di động xã hội của nhân lực KH&CN chất lượng cao tại viện nghiên cứu (nghiên cứu trường hợp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam)?
Giả thuyết nghiên cứu
- 7.1. Giả thuyết chủ đạo: Cần xây dựng khung chính sách phát triển nhân lực KH&CN chất lượng cao tại các viện nghiên cứu từ việc áp dụng lý thuyết di động xã hội. Trong đó, chính sách thu hút, chính sách tự đào tạo, chính sách sử dụng, chính sách hỗ trợ là những chính sách ưu tiên nhằm tích cực tạo ra các luồng di động xã hội đến – đi và các luồng di động trở về của nhân lực tại các viện nghiên cứu, tạo ra sự liên kết chất xám. Tuần hoàn chất xám trong tổ chức cần được bảo đảm nhờ quá trình quản lý di động xã hội của nhân lực KH&CN chất lượng cao trong các viện nghiên cứu.
- 7.2. Giả thuyết phụ: Chính sách phát triển nhân lực KH&CN chất lượng cao tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam hiện nay đã tạo ra các loại hình di động dọc, di động ngang, di động kèm di cư và không kèm di cư. Tuy nhiên, việc quản lý các luồng di động đến và đi vẫn chưa thực sự hiệu quả, hiện tượng chảy chất xám vẫn còn phổ biến.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chính sách phát triển nhân lực KH&CN chất lượng cao của viện nghiên cứu.
- Đối tượng khảo sát: Nhân lực có trình độ tiến sĩ trở lên, cùng các đối tượng đáp ứng đồng thời hai điều kiện: (1) có trình độ thạc sĩ và (2) đang là nghiên cứu sinh.
- Phạm vi không gian: Khảo sát tại 29 viện nghiên cứu trên tổng số 33 viện/trung tâm nghiên cứu trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (đạt tỷ lệ 87,9%).
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2015–2023 (điều tra dữ liệu năm 2019 và cập nhật bổ sung đến năm 2023).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 3 nhóm nội dung chính:
Các nghiên cứu về nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao
- Nghiên cứu quốc tế:
- Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD, 1995) trong Cẩm nang Canberra (The Canberra Manual) xác định nhân lực KH&CN qua hai tiêu chí: tốt nghiệp bậc 3 theo phân loại giáo dục quốc tế hoặc làm công việc chuyên môn đòi hỏi trình độ tương đương.
- UNESCO (2007) định nghĩa nhân lực KH&CN là những người trực tiếp tham gia hoạt động KH&CN và được hưởng thù lao, gồm nhà khoa học, kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực hỗ trợ.
- Elaine D. Pulakos (2005) nghiên cứu về các phương pháp đánh giá lựa chọn nhân lực chất lượng cao trong tổ chức.
- German Cubas, B. Ravikumar và Gustavo Ventura (2013) phân tích mối quan hệ giữa tài năng, chất lượng lao động dựa trên điểm kiểm tra PISA và nhân tố năng suất tổng thể (TFP).
- Nghiên cứu trong nước:
- Hồ Bá Thâm (2003) xác định 4 đặc trưng của nhân lực chất lượng cao gồm trí tuệ, nhân cách, tay nghề vượt trội và năng lực hoàn thành nhiệm vụ.
- Nguyễn Hữu Dũng (2003) tiếp cận dưới góc độ trình độ chuyên môn kỹ thuật theo phân loại lao động.
- Phạm Tất Dong (2005) phân tích sự hình thành, phát triển và những hạn chế của đội ngũ trí thức Việt Nam.
- Đàm Đức Vượng (2012) nhấn mạnh vai trò của đội ngũ chuyên gia, tổng công trình sư, kỹ sư đầu ngành đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Hồ Ngọc Luật (2017) so sánh khái niệm nhân lực KH&CN giữa UNESCO, OECD với thực tiễn Việt Nam, chỉ ra khái niệm của Việt Nam hẹp hơn do chưa công nhận trình độ chuyên môn thông qua nghề nghiệp tương đương học vấn.
Các nghiên cứu về di động xã hội của nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao
- Nghiên cứu quốc tế:
- Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF, 2020) phân tích 10 trụ cột thúc đẩy di động xã hội.
- Sami Mahroum (2000) nghiên cứu di động khoa học (scientific mobility), định nghĩa đây là sự dịch chuyển vật lý qua biên giới trên 1 năm, hình thành các "cực khoa học" và trung tâm tri thức dựa trên uy tín học thuật.
- Grit Laudel (2005) phân tích dòng di cư của các nhóm khoa học ưu tú do nhu cầu khẳng định bản thân và tìm kiếm điều kiện nghiên cứu.
- Euiseok Kim (2005) đo lường tác động của di động liên ngành đến năng suất khoa học, chỉ ra khoa học tự nhiên có mức di động ngành thấp nhất (19%) nhưng tỷ lệ bằng cấp cùng lĩnh vực cao nhất (94%), trong khi khoa học đời sống có mức di động ngành cao nhất (77%).
- Ander Ekeland và cộng sự (2005) khảo sát dòng dịch chuyển nhân lực nghiên cứu tại Thụy Điển, Na Uy, Phần Lan sang các khu vực công, tư và sản xuất.
- Báo cáo của Manpower (2006) chỉ ra khu vực Mỹ Latinh tăng trưởng di động có tay nghề 155% giai đoạn 1990–2007, Châu Phi tăng 152,4%, Châu Á tăng 144,8%.
- Andrés Solimano (2006) tổng kết các yếu tố tác động đến di động quốc tế của nhân tài như cơ cấu khen thưởng, mạng lưới xã hội, chính sách thị thực và môi trường chính trị.
- Richard Woolly và Carolina Cañibano (2008) xây dựng khung kinh tế - xã hội, phân định tri thức khoa học mang tính hàng hóa công còn nhân lực mang tri thức có tính chất hàng hóa tư.
- Institut Montaigne (2010) khảo sát làn sóng giáo sư kinh tế Pháp sang Hoa Kỳ (4/6 nhà nghiên cứu hàng đầu).
- Ana Delicado (2010) chỉ ra 29% nhà khoa học Bồ Đào Nha có bằng tiến sĩ nước ngoài, nhưng chỉ 8,3% nhà khoa học cao cấp muốn hồi hương do rào cản chính sách lao động (65,1%), cơ sở vật chất (58,2%) và lương thấp (46,5%).
- Fernando Lozano-Ascencio và Luciana Gandini (2012) khảo sát tình trạng thất thoát chất xám từ Mỹ Latinh và Caribê sang Hoa Kỳ (chiếm 84,3% số di cư trình độ cao).
- Báo cáo của Liên minh Châu Âu (2011) và Richard Van Noorden (2012) ghi nhận Trung Quốc dẫn đầu về tỷ lệ nhà nghiên cứu cơ bản và số người di động ra nước ngoài.
- Open Doors (2015) chỉ ra xu hướng gia tăng sinh viên quốc tế tại Hoa Kỳ và hiện tượng lưu trú làm việc sau tốt nghiệp của tiến sĩ khoa học kỹ thuật từ Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc.
- Nghiên cứu trong nước:
- Đặng Nguyên Anh (2005) và Tống Văn Chung (2005) nghiên cứu di dân và chuyển cư trong nước gắn với công nghiệp hóa, phân tầng xã hội.
- Cục Lãnh sự - Bộ Ngoại giao (2011) công bố số liệu hơn 100.000 du học sinh tại 50 quốc gia, trong đó 60–70% du học sinh tự túc ở lại nước ngoài làm việc.
- Đỗ Thiên Kính (2018) phân tích nguyên nhân phi cấu trúc trong phân tầng và di động xã hội.
- Võ Tuấn Nhân (2001, 2011) nghiên cứu động thái di động của cộng đồng khoa học tại miền Trung, chỉ ra xu hướng suy giảm chất lượng do "hành chính hóa" hoạt động nghiên cứu.
- Đào Thanh Trường và Nguyễn Thị Quỳnh Anh (2017) đề xuất mô hình "UBER nhân lực R&D" nhằm quản lý linh hoạt sự lưu chuyển nhân lực trên nền tảng kỹ thuật số.
- Nguyễn Nghĩa, Mai Hà, Nguyễn Văn Hòa (2018) nhận diện xu thế di động chia sẻ và luồng hồi hương của nhân lực KH&CN.
- Đặng Kim Khánh Ly và cộng sự (2019) nghiên cứu hiện tượng di động xã hội không kèm di cư ("chảy chất xám tại chỗ") tại Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
Các nghiên cứu về chính sách phát triển nhân lực KH&CN từ tiếp cận di động xã hội
- Shirley L. Chang (1992) và Kevin O’Neil (2003) phân tích kinh nghiệm của Đài Loan trong đảo ngược dòng chảy chất xám thông qua việc thành lập Hội đồng Thanh niên Quốc gia (1970), xây dựng Công viên khoa học Hsinchu và tăng ngân sách giáo dục lên 33%.
- World Bank (1993) phân tích chính sách công phát triển nhân lực của 8 nền kinh tế Đông Á (HPAEs).
- Devesh Kapur và John McHale (2005) cùng Çaglar Özden và Maurice Schiff (2006) phân loại chính sách quản lý chảy chất xám thành nhóm "hạn chế" và "đền bù".
- Giovanni Peri và Gianmarco I. Ottaviano (2005) cùng Boucher, Stark và Taylor (2009) bổ sung hai nhóm chính sách là "sáng tạo" và "mạng lưới xã hội".
- Jean-Christophe Dumont và Georges Lemaître (2005), Pier Paolo Giannoccolo (2005), OECD (2008) phân tích các chính sách thu hút nhân tài của châu Âu thông qua cơ chế Thẻ Xanh (Blue Card), ưu đãi thuế và hỗ trợ nhập cư cho gia đình nhà khoa học.
- Richard Van Noorden (2009) phân tích Chương trình "Một nghìn nhân tài" của Trung Quốc.
- Simona Milio và cộng sự (2012) khảo sát vai trò của Quỹ Khoa học Quốc gia Ý trong việc tài trợ nhà nghiên cứu trẻ và duy trì mạng lưới học giả quốc tế.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết
Phần lớn các công trình trong nước chủ yếu tiếp cận nhân lực KH&CN dưới góc độ di dân nói chung hoặc quản lý hành chính nguồn nhân lực, chưa đi sâu vào các viện nghiên cứu chuyên ngành công lập – nơi có độ tập trung cao của nhân lực trình độ tiến sĩ. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: Vận dụng lý thuyết di động xã hội để xây dựng khung chính sách tích hợp các luồng di động (đến, đi, quay trở lại và tuần hoàn chất xám tại chỗ) áp dụng cho mô hình viện nghiên cứu tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Hệ thống khái niệm công cụ: Luận án làm rõ các khái niệm: nhân lực KH&CN, nhân lực KH&CN chất lượng cao (người có trình độ tiến sĩ trở lên, hoặc thạc sĩ đang làm nghiên cứu sinh có năng lực nghiên cứu độc lập), chính sách phát triển nhân lực KH&CN chất lượng cao, và di động xã hội của nhân lực KH&CN chất lượng cao (sự thay đổi vị thế học thuật, chức danh nghề nghiệp, đơn vị công tác hoặc dịch chuyển địa lý).
- Tiếp cận lý thuyết di động xã hội: Luận án vận dụng các quy luật di động dọc (thăng tiến học hàm, học vị, vị trí quản lý), di động ngang (chuyển đổi đơn vị, lĩnh vực chuyên môn), di động kèm di cư (ra nước ngoài làm việc, tu nghiệp) và di động không kèm di cư (hợp tác đa cơ quan, làm việc kiêm nhiệm từ xa) để luận giải cơ chế tuần hoàn chất xám.
- Khung phân tích: Khung chính sách của luận án bao gồm 4 trụ cột can thiệp chính: (1) Chính sách thu hút, (2) Chính sách đào tạo – bồi dưỡng, (3) Chính sách sử dụng, và (4) Chính sách hỗ trợ gắn với chuyển giao và thương mại hóa sản phẩm; vận hành trên 3 nhóm điều kiện bảo đảm: Quyền tự chủ, Điều kiện – môi trường làm việc, và Thiết chế phục vụ cộng đồng khoa học.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phân tích các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo thống kê của Viện Hàn lâm; kế thừa có chọn lọc dữ liệu từ Đề tài cấp quốc gia mã số KX01.01/16-20 ("Chính sách quản lý di động xã hội đối với nguồn nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế").
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
- Công thức xác định mẫu:
$$n = \frac{N \cdot Z^2 \cdot p(1-p)}{N \cdot e^2 + Z^2 \cdot p(1-p)}$$
Với quy mô tổng thể $N = 3500$ cán bộ (năm 2019), tỷ lệ thạc sĩ và tiến sĩ $p = 68% = 0{,}68$, độ tin cậy $95%$ ($Z = 1{,}96$), sai số $e = 0{,}05$, kích thước mẫu tối thiểu xác định được là $n = 306$.
- Thực hiện điều tra: Tác giả phát ra 380 phiếu khảo sát, thu về 324 phiếu hợp lệ (đạt tỷ lệ 85,3% > 306, bảo đảm tính đại diện) tại 29/33 viện nghiên cứu chuyên ngành thuộc Viện Hàn lâm. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS.
- Cơ cấu mẫu khảo sát:
| Tiêu chí phân loại |
Phân loại chi tiết |
Số lượng (người) |
Tỷ lệ (%) |
| Giới tính |
Nam |
204 |
63,0 |
|
Nữ |
120 |
37,0 |
| Trình độ học vấn |
Thạc sĩ |
153 |
47,3 |
|
Tiến sĩ |
166 |
51,2 |
|
Tiến sĩ khoa học |
5 |
1,5 |
| Học hàm |
Phó Giáo sư |
33 |
10,2 |
|
Giáo sư |
3 |
0,9 |
| Chế độ làm việc |
Biên chế |
256 |
79,0 |
|
Hợp đồng không xác định thời hạn |
47 |
14,5 |
|
Hợp đồng thời hạn 3 năm |
12 |
3,7 |
|
Hợp đồng thử việc 1 năm |
5 |
1,5 |
|
Hợp đồng công việc |
4 |
1,2 |
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn sâu 10 đối tượng gồm các chuyên gia, Trưởng phòng Quản lý tổng hợp, cán bộ phụ trách công tác tổ chức cán bộ và các nhà khoa học trực tiếp chủ trì nhiệm vụ KH&CN tại Viện Hàn lâm.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về chính sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao tại viện nghiên cứu
Chương này tổng thuật toàn diện các hệ thống lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước về nhân lực KH&CN chất lượng cao, các luồng di động xã hội và các chính sách can thiệp. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu quốc tế đã chuyển trọng tâm từ việc ngăn chặn "chảy chất xám" sang thúc đẩy "tuần hoàn chất xám" và "liên kết mạng lưới chất xám". Tại Việt Nam, nghiên cứu về di động xã hội trong các viện nghiên cứu chuyên ngành tự nhiên và kỹ thuật còn thiếu tính hệ thống, đặt ra yêu cầu phải có công trình chuyên sâu về khung chính sách quản lý các luồng dịch chuyển này.
Chương 2: Cơ sở lý luận về chính sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao tại viện nghiên cứu trên cơ sở tiếp cận di động xã hội
Chương 2 xây dựng khung lý thuyết hoàn chỉnh cho đề tài:
- Hệ thống hóa hệ khái niệm công cụ: nhân lực KH&CN, nhân lực KH&CN chất lượng cao, di động xã hội và chính sách phát triển nhân lực.
- Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa di động xã hội và phát triển nhân lực KH&CN: di động xã hội là phương thức tự đào tạo, nâng cao năng lực chuyên môn và mở rộng không gian học thuật; ngược lại, chính sách phát triển nhân lực đóng vai trò định hướng, tạo luồng di động hợp lý.
- Xây dựng khung phân tích chính sách phát triển nhân lực KH&CN chất lượng cao tại viện nghiên cứu gồm 4 hợp phần chính sách và 3 nhóm điều kiện bảo đảm thực thi.
Chương 3: Hiện trạng chính sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao của viện nghiên cứu trên cơ sở tiếp cận di động xã hội tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Dựa trên kết quả khảo sát 324 cán bộ tại 29 viện chuyên ngành và các dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2015–2020/2021, chương này phân tích:
- Đặc điểm nhân lực: Đội ngũ có cơ cấu trình độ cao (tiến sĩ và TSKH chiếm trên 52,7%), nhóm tuổi và thâm niên có sự phân hóa; công bố quốc tế tăng trưởng qua các năm.
- Thực trạng các chính sách:
- Chính sách tuyển dụng, thu hút: Động lực làm việc chịu ảnh hưởng lớn từ môi trường nghiên cứu và uy tín học thuật; số lượng tuyển mới và chuyên gia nước ngoài đến làm việc giai đoạn 2015–2019 được thống kê chi tiết.
- Chính sách đào tạo – bồi dưỡng: Số lượng cán bộ đi học tập, tu nghiệp ở nước ngoài và tỷ lệ quay về công tác tại Viện Hàn lâm; sự thay đổi học vị từ thạc sĩ lên tiến sĩ.
- Chính sách sử dụng và đãi ngộ: Thống kê văn bản quản lý, cơ chế quản lý theo giờ hành chính sang quản lý theo sản phẩm, chênh lệch thu nhập bình quân theo giới tính, và triển khai Chương trình đề tài độc lập trẻ.
- Phân tích SWOT và rào cản: Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và các rào cản chủ yếu trong hoạch định, thực thi chính sách quản trị nhân lực từ tiếp cận di động xã hội.
Chương 4: Vận dụng tiếp cận di động xã hội trong chính sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao của các viện nghiên cứu
Tác giả đề xuất các nội dung vận dụng cụ thể:
- Quan điểm phát triển: Chuyển đổi tư duy quản lý hành chính sang quản trị di động xã hội, coi di động là quy luật phát triển tất yếu; tạo lập cơ chế "tuần hoàn chất xám" thay vì ngăn chặn cơ học.
- Khung chính sách phát triển nguồn nhân lực gồm 4 nhóm:
- Chính sách thu hút: Đổi mới cơ chế tuyển dụng, đa dạng hóa hình thức thu hút chuyên gia kiêm nhiệm, nhà khoa học quốc tế và học giả người Việt Nam ở nước ngoài.
- Chính sách đào tạo – bồi dưỡng: Gắn đào tạo sau đại học với các đề tài, dự án KH&CN; đẩy mạnh tự đào tạo trong các nhóm nghiên cứu mạnh; hỗ trợ tu nghiệp ngắn hạn tại các phòng thí nghiệm quốc tế.
- Chính sách sử dụng: Trao quyền tự chủ chuyên môn, áp dụng KPI trong đánh giá hiệu quả nghiên cứu, điều chỉnh cơ chế quản lý thời gian linh hoạt.
- Chính sách hỗ trợ gắn với chuyển giao và thương mại hóa: Thúc đẩy hợp tác Viện – Trường – Doanh nghiệp, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, phân chia lợi nhuận từ kết quả thương mại hóa.
- Các điều kiện bảo đảm thực hiện: Đẩy mạnh quyền tự chủ của các viện nghiên cứu thành viên; đầu tư nâng cấp điều kiện và môi trường làm việc; xây dựng các thiết chế học thuật chuyên nghiệp phục vụ cộng đồng khoa học.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Bổ sung và hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý và phát triển nhân lực KH&CN chất lượng cao trong các tổ chức nghiên cứu công lập dựa trên lý thuyết di động xã hội.
- Xác lập khung phân tích chính sách phát triển nhân lực tích hợp mục tiêu tuần hoàn chất xám, chỉ ra cơ chế vận hành của các luồng di động (đến, đi, quay trở lại và di động tại chỗ) trong không gian học thuật số và hội nhập quốc tế.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện về thực trạng di động xã hội của đội ngũ cán bộ nghiên cứu tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam giai đoạn 2015–2023 thông qua mẫu điều tra xã hội học đại diện (324 cán bộ tại 29 viện thành viên).
- Nhận diện các rào cản hành chính, thể chế và bất cập về thu nhập, môi trường làm việc đang cản trở hiệu quả quản trị luồng di động nhân lực.
- Đề xuất hệ thống giải pháp và khung chính sách cụ thể, khả thi cho các viện nghiên cứu KH&CN nhằm thu hút, đào tạo, sử dụng hiệu quả và thúc đẩy chuyển giao công nghệ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Tác giả tự nhận định 4 hạn chế của luận án trong phần Mở đầu:
- Luận án chưa chỉ ra được tác động của bối cảnh đối với sự thay đổi trong triết lý và chính sách phát triển nhân lực KH&CN chất lượng cao trong viện nghiên cứu.
- Luận án chưa đi sâu phân tích đặc điểm riêng biệt của các loại hình viện nghiên cứu khác nhau để xây dựng chính sách đặc thù cho từng loại hình.
- Luận án chưa đánh giá đầy đủ các yếu tố tác động đến phát triển nhân lực KH&CN chất lượng cao trong bối cảnh mới, đặc biệt là các tác động đa chiều từ cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư.
- Luận án chưa có những phát hiện chuyên sâu về đặc thù di động xã hội của từng nhóm đối tượng cụ thể (chuyên gia nước ngoài, nhân lực KH&CN trẻ, nhân lực KH&CN là nữ giới).
Các hạn chế này được xác định là hướng nghiên cứu tiếp theo của tác giả trong thời gian tới.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ thực tiễn để Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nội vụ và các cơ quan liên quan hoàn thiện quy định về cơ chế tự chủ, chính sách thu hút, trọng dụng và đãi ngộ nhân tài KH&CN.
- Lãnh đạo và cơ quan quản trị viện nghiên cứu, trường đại học: Vận dụng khung chính sách 4 hợp phần (thu hút, đào tạo, sử dụng, hỗ trợ thương mại hóa) để xây dựng chiến lược phát triển nhân sự nội bộ, quản lý luồng di chuyển chất xám và tối ưu hóa năng suất nghiên cứu.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Là tài liệu tham khảo về phương pháp luận nghiên cứu xã hội học trong quản lý KH&CN, kỹ thuật thiết kế bảng hỏi khảo sát nhân lực học thuật và vận dụng lý thuyết phân tầng - di động xã hội vào khoa học quản lý.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định đối tượng "nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao" gồm những ai?
Trong nghiên cứu này, đối tượng chính là những cán bộ có trình độ tiến sĩ hoặc tiến sĩ khoa học trở lên. Đồng thời, để phục vụ việc phân tích khung chính sách tuần hoàn chất xám, tác giả khảo sát mở rộng nhóm nhân lực đáp ứng đủ 2 điều kiện: có bằng thạc sĩ và hiện đang là nghiên cứu sinh.
2. Mẫu khảo sát định lượng của luận án được tính toán và thu thập như thế nào?
Dựa trên quy mô 3.500 cán bộ của Viện Hàn lâm năm 2019 với tỷ lệ thạc sĩ/tiến sĩ là 68%, công thức cỡ mẫu xác định số lượng tối thiểu là 306. Tác giả đã phát ra 380 phiếu và thu về 324 phiếu hợp lệ (đạt tỷ lệ 85,3%) từ 29 trên tổng số 33 viện nghiên cứu thành viên (chiếm 87,9%), bảo đảm tính đại diện của mẫu khảo sát.
3. Khung chính sách phát triển nhân lực đề xuất trong luận án gồm những trụ cột nào?
Khung chính sách gồm 4 trụ cột can thiệp:
- Chính sách thu hút nguồn nhân lực KH&CN chất lượng cao.
- Chính sách tự đào tạo – bồi dưỡng nhân lực chất lượng cao.
- Chính sách sử dụng nhân lực (gắn với tự chủ chuyên môn và đánh giá KPI).
- Chính sách hỗ trợ gắn với chuyển giao và thương mại hóa sản phẩm KH&CN.
4. Ba điều kiện bảo đảm để thực thi hiệu quả khung chính sách này là gì?
Ba điều kiện bảo đảm được tác giả xác định gồm: (1) Thực hiện đầy đủ quyền tự chủ của tổ chức nghiên cứu; (2) Cải thiện điều kiện làm việc và môi trường nghiên cứu chuyên nghiệp; (3) Xây dựng các thiết chế học thuật phục vụ nhu cầu hoạt động của cộng đồng khoa học.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Đỗ Thị Lâm Thanh là công trình nghiên cứu hệ thống về chính sách phát triển nhân lực KH&CN chất lượng cao tại viện nghiên cứu công lập dựa trên tiếp cận lý thuyết di động xã hội. Thông qua việc phân tích thực trạng tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam bằng phương pháp kết hợp định tính và định lượng với 324 mẫu khảo sát và 10 phỏng vấn sâu, tác giả đã chỉ rõ các rào cản trong quản lý luồng di động học thuật hiện nay. Kết quả nghiên cứu đã đề xuất khung chính sách 4 trụ cột cùng hệ thống điều kiện bảo đảm nhằm chuyển hóa hiện tượng di chuyển nhân lực thành cơ chế tuần hoàn chất xám hiệu quả, phục vụ phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ quốc gia.