Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý đào tạo theo tiếp cận quản lý quá trình tác nghiệp tại các trường đại học. Cơ sở thực tiễn quản lý đào tạo theo tiếp cận quản lý quá trình tác nghiệp tại các trường đại học thuộc Bộ Công Thương. Giải pháp quản lý đào tạo theo tiếp cận quản lý quá trình tác nghiệp tại các trường đại học thuộc Bộ Công Thương.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO THEO TIẾP CẬN QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH TÁC NGHIỆP TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về quản lý đào tạo đại học Có rất nhiều nghiên cứu ở nước ngoài về QLĐT, với cụm từ Books or articles for training management in university - Sách và bài viết về quản lý đào tạo trong trường đại học trong 0,55 giây đã trả về hơn 265 triệu kết quả. Tương tự, khi tra cứu trên Questia.com, trang thư viện trực tuyến có số lượng người dùng đông đảo, về lĩnh vực QLĐT trong giáo dục ĐH cho kết quả nguồn tài liệu về nội dung có liên quan trong thư viện gồm: 12.362 bài trên tạp chí chuyên ngành, 6.472 bài trên tạp chí phổ thông, 14.743 tờ báo, 1 từ điển bách khoa.
điều này cho thấy sự quan tâm của giới học thuật, đồng thời cũng cho thấy những khó khăn trong việc tìm hiểu và đánh giá tổng quan đối với lĩnh vực này. Trong phạm vi của vấn đề nghiên cứu, nội dung luận án tập trung vào các nghiên cứu nước ngoài hướng tới vấn đề chính là xu thế phát triển của QLĐT trong các cơ sở GDĐH trong giai đoạn hiện nay qua đó cho thấy sự phù hợp về xu hướng của đề tài. Về xu thế của phát triển và quản lý GDĐH trong giai đoạn hiện nay, các công trình nghiên cứu của các chuyên gia quốc tế đã đặt ra và phân tích một số vấn đề đáng chú ý. Emal Dusst, Rebecca Winthrop trong nghiên cứu được nhà xuất bản Brookings xuất bản năm 2019, có tiêu đề Top 6 trends in higher education(6 xu hướng hàng đầu trong giáo dục đại học) [60] đã chỉ đưa ra những nhận định về sự dịch chuyển của GDĐH và QLĐT trong giai đoạn hiện nay và thời gian tới gồm: (1) Việc gia tăng của ĐT trực tuyến và ĐT kết hợp, (2) Sự phát triển của ĐT dựa trên năng lực, (3) tăng cường sự hỗ trợ về tài chính cho SV thông qua các chương trình chia sẻ, (4) Các hệ thống hỗ trợ quản lý trực tuyến mang lại lợi ích cho các bên tham gia giáo dục ĐH, (5) Tăng cường sự phối hợp với doanh nghiệp trong ĐT và (6) Các chương trình liên thông, chuyển tiếp xuyên quốc gia trong GDĐH.
Cùng với việc đưa ra các xu hướng kể trên, bài viết cũng tiến hành phân tích và đưa ra một số nhận định, số liệu nhằm củng cố cho quan điểm được nêu. Tổ chức nghiên cứu Hanover – CHLB Đức trong 9 công trình Trends in Higher Education: 2019 (Xu hướng giáo dục đại học 2019) [84] cũng đưa ra 6 nội dung được cho là hướng dịch chuyển của GDĐH liên quan đến 6 lĩnh vực trong nhà trường gồm: Quản lý tuyển sinh, Phát triển học thuật, Trải nghiệm của SV, Tài chính, Tiếp thị và phát triển nâng cao trong các nội dung này, vai trò của yếu tố công nghệ cũng được đưa ra phân tích và đánh giá coi như yếu tố cốt lõi cho các xu hướng dịch chuyển. Trong báo cáo 2019 Trends to Watch: Higher Education: Modernizing institutions to meet student expectations (Quan sát xu thế của giáo dục đại học 2019: Hiện đại hóa nhà trường đáp ứng mong đợi của SV) [95] của tổ chức TMT Inteligent OVUM – một công ty tư vấn và phân tích độc lập có trụ sở tại London phạm vi hoạt động toàn cầu trong các lĩnh vực Tư vấn, Giáo dục, Truyền thông và Công nghệ chỉ ra 3 xu hướng có tính then chốt tác động đến GDĐH gồm: Công nghệ góp phần nâng cao kết quả dạy và học; Cá thể hóa người học; Điện toán đám mây và khả năng tăng cường tính linh hoạt của ĐH. Nhóm tác giả Larisa Sumzina, Alexander Maximov, Oleg Golubev, Anatoliy Litvinenko, Andrey Golubev trong công trình Trends in the Development of Higher Education in the Field of Service (Xu hướng phát triển giáo dục đại học từ lĩnh vực dịch vụ) [92] thông qua việc thu thập ý kiến của các chuyên gia, bài viết tổng hợp và xác định xu thế dịch chuyển của đại học theo hướng coi hoạt động ĐT như một hoạt động cung cấp dịch vụ, trường ĐH sẽ được quản lý và vận hành giống với một doanh nghiệp.
Có thể thấy điểm chung trong các công trình này khi nghiên cứu về xu hướng phát triển của GDĐH đó là sự tham gia của yếu tố công nghệ trong các hoạt động quản lý, dạy và học trong nhà trường cùng với đó là sự thay đổi về mô hình quản lý của nhà trường nhằm đáp ứng sự thay đổi của thực tiễn và yêu cầu của khách hàng và các bên quan tâm. Tương tự với thế giới, các công trình nghiên cứu về QLĐT trong GDĐH ở Việt Nam khá phong phú. Liên quan trực tiếp đến nội dung của đề tài, các nghiên cứu này có thể chia thành một số hướng chính gồm (1) Các nghiên cứu về QLĐT trong GDĐH; (2) Các nghiên cứu về QLĐT tại trường ĐH theo tiếp cận quản lý quá trình; (3) Các nghiên cứu về QLĐT tại trường ĐH có ứng dụng CNTT&TT. Trong những nghiên cứu về QLĐT nói chung, khái niệm và những vấn đề lý luận 10 về quản lý GD nói chung và quản lý GDĐH nói riêng được nhiều tác giả đề cập trong các công trình nghiên cứu của mình.
Theo Phan Văn Kha, trong giáo trình Quản lý nhà nước về Giáo dục [30] bên cạnh việc xác định các khái niệm có liên quan đến quản lý và chỉ ra hai yếu tố cơ bản của QLGD là quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và quản lý của các cơ sở GD. Phạm Thị Minh Hạnh trong bài viết Quản lý giáo dục đại học dưới góc nhìn so sánh và một số kinh nghiệm đối với Việt Nam [20] làm rõ quản lý tại cơ sở giáo dục “.là hoạt động quản lý tác nghiệp trong phạm vi nội bộ cơ sở đào tạo và các hoạt động phối hợp giữa cơ sở đào tạo với các đối tác bên ngoài nhà trường” đồng thời cũng làm rõ tầm quan trọng của quản lý GDĐH đối với sự phát triển của hệ thống giáo dục. Những nghiên cứu về mô hình và phương pháp quản lý GDĐH cũng khá phong phú, Nguyễn Thị Kim Anh qua bài viết Ứng dụng mô hình Balanced Scorecard trong quản trị trường đại học [1] liên hệ đến mô hình Balanced Scorecard (Kaplan & Norton, 2001) một mô hình quản lý đã được áp dụng rất thành công trong lĩnh vực kinh doanh. Thông qua việc giới thiệu tổng quan về BSC - Thẻ điểm cân bằng, bài viết đề cập đến tính cấp thiết phải áp dụng BSC trong lĩnh vực GDĐT và phân tích tác dụng khi áp dụng BSC đối với việc quản lý trường ĐH công lập hiện nay.
Vũ Thị Dung với QLCL đào tạo tại Trường Đại học Thái Bình theo tiếp cận đảm bảo chất lượng [5], Trịnh Huề - Quản lý đào tạo ngành Kỹ thuật – Công nghệ theo hướng đảm bảo chất lượng tại trường đại học Tây Đô [28] và một số công trình khác lại đề cập cách tiếp cận đảm bảo chất lượng nhằm nâng cao chất lượng các hoạt động dạy, học và quản lý trong các cơ sở GD. Các nghiên cứu này ngoài việc đề cập đến các vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động QLĐT theo các phương pháp, triết lý mới cũng đồng thời đề xuất các giải pháp cho nhà trường khi áp dụng các cách tiếp cận tiên tiến vào thực tiễn QLĐT. Nhằm làm rõ xu hướng áp dụng các triết lý quản lý tiên tiến, nhiều nghiên cứu tìm hiểu việc áp dụng quản lý theo quá trình vào thực tiễn GDĐH. Mô hình CIPO trong QLGD gồm bốn yếu tố: C (Context - Môi trường tác động), I (Input - Đầu vào); P (Process - Quá trình); O (Output - Đầu ra) do UNESCO đề xuất năm 2000, được nhiều tác giả nghiên cứu và đề cập trong việc áp dụng vào quá trình quản lý.
Luận án 11 tiến sĩ của Đỗ Văn Hiếu với đề tài Quản lý thực tập tốt nghiệp của SV học viện an ninh nhân dân theo tiếp cận CIPO [23] nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng hoạt động thực tập và quản lý thực tập của SV chuyên ngành An ninh theo tiếp cận CIPO qua đó đưa ra Giải pháp quản lý thực tập của SV Học viện An ninh nhân dân. Cùng cách tiếp cận này luận án Quản lý đào tạo của trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật công nghiệp đáp ứng nhu cầu nhân lực vùng Đồng bằng sông Hồng [16] của Nguyễn Thị Hà sử dụng cách tiếp cận quá trình ĐT theo CIPO, đề xuất các giải pháp QLĐT tại một trường ĐH nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực tại một vùng địa lý cụ thể. Các bài viết của Đào Việt Hà với Nghiên cứu vận dụng mô hình CIPO vào quản lý đào tạo theo năng lực thực hiện [15], hay Trần Thị Quỳnh Loan, Nguyễn Xuân Thức trong bài viết Vận dụng tiếp cận CIPO vào quản lí dạy học ở trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên theo hướng xây dựng xã hội học tập [32] cũng đi theo hướng áp dụng mô hình CIPO vào giải quyết những vấn đề của thực tiễn giáo dục. Mô hình QLCL theo tiêu chuẩn ISO 9000, QLCL tổng thể với chu trình Deming trong quản lý P (Plan – Lập kế hoạch), D ( Do – Thực hiện), C (Check – Kiểm tra), A( Action – Cải tiến) áp dụng trong g GDĐH cũng nhận được nhiều sự quan tâm.
Trần Hữu Nghị, Nguyễn Thị Mai qua bài viết Sử dụng ISO trong quản lý giáo dục [37]. đề cập đến cách thức áp dụng tiêu chuẩn ISO 9000 vào thực tiễn quản lý tại Đại học dân lập Hải Phòng cùng những hiệu lực và hiệu quả của hệ thống QLCL theo tiêu chuẩn quốc tế này mang lại, qua bài viết Sử dụng ISO trong quản lý giáo dục [37]. Nguyễn Thị Thu Hằng, trong bài viết Giới thiệu mô hình QLCL tổng thể trong giáo dục và đào tạo [21] lại đề cập đến một số kết quả nghiên cứu lý luận cơ bản của mô hình QLCL tổng thể TQM và khả năng áp dụng nó trong thực tiễn hoạt động QLĐT trong các cơ sở GDĐT.