Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC GIỮA TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHỐI NGÀNH SỨC KHỎE VỚI BỆNH VIỆN 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về phối hợp đào tạo giữa nhà trường với doanh nghiệp Nhận thức được vai trò quan trọng của mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nguồn nhân lực, nhiều nhà khoa học trong nước và trên thế giới đã sớm quan tâm và đi sâu nghiên cứu vấn đề phối hợp này, nhằm làm rõ bản chất của mối quan hệ, tìm kiềm các hình thức và giải pháp phối hợp hiệu quả nhất trong đào tạo nhân lực. Nhiều công trình nghiên cứu về phối hợp đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp đã đề cập đến những lợi ích của hoạt động phối hợp này.
Các tác giả trong và ngoài nước đều có chung nhận định rằng hoạt động phối hợp đào tạo giữa nhà trường với doanh nghiệp đem lại lợi ích không chỉ cho nhà trường, cho doanh nghiệp, cho người học mà còn cho cả xã hội. Các lợi ích đó bao gồm: - Nhóm lợi ích đem lại cho chính phủ: Việc thực hiện phối hợp đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp sẽ giúp chính phủ cải thiện các điều kiện kinh tế-xã hội cũng như mức sống của nhân dân, tăng tính cạnh tranh của các ngành kinh tế, cải thiện các hoạt động kinh tế, cải thiện sự đầu tư cho giáo dục, hỗ trợ nhà nước đạt được các mục tiêu phát triển. - Nhóm lợi ích đem lại cho doanh nghiệp: Thông qua hợp tác đào tạo giữa nhà trường với doanh nghiệp, các doanh nghiệp có cơ hội tuyển dụng nhân lực có chất lượng, doanh nghiệp có điều kiện giảm bớt sự thiếu hụt nhân lực có trình độ, tay nghề cao đồng thời tăng nguồn lực lao động lành nghề, chất lượng sản phẩm tăng, tăng tính cạnh tranh, công nhân lành nghề có điều kiện phát triển năng lực lãnh đạo. - Nhóm lợi ích đem lại cho nhà trường: Về phía nhà trường, việc phối hợp với doanh nghiệp sẽ có nhiều lợi ích.
Đó là: phối hợp xây dựng chương trình đào 11 tạo có chất lượng, đáp ứng nhu cầu thị trường lao động; có cơ hội nhận hỗ trợ từ doanh nghiệp về cơ sở vật chất, tài chính và chuyên gia; trở thành đối tác trong hoạt động kinh tế của doanh nghiệp; tạo được vị thế nhà trường, gia tăng khả năng tuyển sinh, tạo việc làm cho sinh viên sau tốt nghiệp. - Nhóm lợi ích đem lại cho sinh viên: Thông qua hoạt động phối hợp đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp, sinh viên có điều kiện tiếp cận việc làm ngay sau khi tốt nghiệp; có nhiều cơ hội lựa chọn việc làm được trả lương cao; hài lòng về nghề nghiệp; có chứng chỉ về dạy nghề thuận lợi hơn trong quá trình hành nghề; chuẩn bị tốt hơn cho việc học tập suốt đời. Trong công trình nghiên cứu “Cost and Benefits in Vocational Education and Training” Kathrin Hoeckel đã phân định lợi ích từ hoạt động phối hợp đào tạo giữa nhà trường với doanh nghiệp thành hai loại: lợi ích ngắn hạn và lợi ích dài hạn, đồng thời chỉ ra ba đối tượng trực tiếp thụ hưởng, đó là cá nhân, doanh nghiệp và xã hội [87]. Với cá nhân: Lợi ích ngắn hạn bao gồm: cơ hội lựa chọn nghề nghiệp; nâng cao mức thu nhập; thỏa mãn với công việc; chấp nhận khóa học nghề nghiệp hơn khóa học phổ thông.
Lợi ích dài hạn bao gồm: linh hoạt, thích ứng nhanh; khả năng học tập suốt đời. Với doanh nghiệp: Lợi ích ngắn hạn bao gồm: chất lượng sản phẩm cao hơn nhờ lực lượng lao động lành nghề; tiết kiệm chi phí từ việc tuyển mới lao động tay nghề cao từ bên ngoài. Lợi ích dài hạn bao gồm: mang lại nhiều lợi nhuận; ít phải thay thế người lao động hơn. Với xã hội: Lợi ích ngắn hạn bao gồm: tiết kiệm chi phí cho trợ cấp xã hội.
Lọi ích dài hạn bao gồm: hiệu quả ngoài đạt được nhờ giáo dục tốt hơn; gia tăng nguồn thuế thu nhập từ mức lương cao hơn. Tuy nhiên, công trình nghiên cứu của Kathrin Hoeckel đã không xem xét một đối tượng quan trọng nhất trong việc hưởng lợi từ hoạt động phối hợp đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp, đó là nhà trường. Qua công trình nghiên cứu “Matching demand and supply in enterprise- based training - Which role does training consultation play” tác giả Bernd 12 Kapplinger [82] đã làm sáng tỏ vai trò của các doanh nghiệp trong việc tư vấn cho các cơ sở đào tạo về phát triển chương trình đào tạo phù hợp với yêu cầu của thực tiễn, qua đó làm cho các doanh nghiệp hài lòng về sản phẩm đào tạo của nhà trường. Cũng theo hướng nghiên cứu này, tác giả George Mbugua, thông qua công trình nghiên cứu “Enterprise Based Training (EBT) and Enterprise Growth, Productivity and Innovativeness among manufacturing firms in Nairobi” [85] đã nêu bật một số kết quả về mối quan hệ giữa đào tạo dựa vào doanh nghiệp, góp phần cải thiện hiệu suất lao động và tính sáng tạo của nhân lực đã qua đào tạo ở nhà trường.
Ở trong nước, cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về phối hợp đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp để đáp ứng nhu cầu thị trường lao động. Một số công trình có thể kể đến là: Công trình “Thiết lập mối quan hệ giữa cơ sở đào tạo và cơ sở sản xuất - một giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề” của Nguyễn Minh Đường [18]; Công trình nghiên cứu “Kết hợp đào tạo tại trường và doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” của Trần Khắc Hoàn [29]; Công trình nghiên cứu “Liên kết đào tạo giữa nhà trường đại học với doanh nghiệp ở Việt Nam” của Trịnh Thị Hoa Mai [48]; Công trình nghiên cứu “Kinh nghiệm của một số nước về hợp tác đào tạo giữa các trường đại học và doanh nghiệp” của Nguyễn Thị Kim Nhã [51] … đã đề cập đến liên kết đào tạo giữa nhà trường với doanh nghiệp, đưa ra một số giải pháp là phải coi phối hợp đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp như là một hình thức đào tạo cho người lao động, xây dựng chương trình đào tạo theo hướng mềm dẻo, đổi mới phương pháp đào tạo, nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên trên cơ sở hợp tác giữa hai bên. Các công trình này cũng đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phối hợp đào tạo, trong đó chú trọng việc xây dựng cơ chế, chính sách và mô hình liên kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp. Cụ thể như sau: - Tác giả Nguyễn Xuân Thiên đã thực hiện nghiên cứu kinh nghiệm của Nhật Bản trong hoạt động phối hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nhân lực và đã công bố kết quả nghiên cứu của mình “Hợp tác giữa các trường, viện và 13 công ty ở Nhật Bản - Những gợi ý cho Việt Nam” [78] trên tạp chí Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á.
Tác giả đã phân tích thực trạng phối hợp đào tạo giữa các công ty với các có ở đào tạo Nhật Bản, kinh nghiệm của Nhật Bản và từ đó đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả phối hợp đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp ở Việt Nam. Tuy vậy, công trình nghiên cứu này chưa phân tích các cơ sở khoa học của hoạt động hợp tác mà mới quan tâm cách thức tiến hành quan hệ hợp tác của nhà trường với các doanh nghiệp một cách đơn phương. - Khác với công trình nghiên cứu của Nguyễn Xuân Thiên, công trình nghiên cứu của Phùng Xuân Nhạ “Mô hình đào tạo gắn với nhu cầu của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay” [53] đã trực diện đi sâu mổ xẻ vấn đề thực tiễn phối hợp đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp ở nước ta hiện nay. Qua phân tích thực trạng, tác giả đã khẳng định hoạt động đào tạo của các trường đại học còn thiếu gắn kết với nhu cầu doanh nghiệp.
Để thúc đẩy mối liên kết này, theo tác giả thì phải làm rõ lợi ích, cơ chế liên kết và điều kiện đảm bảo để hoạt động liên kết thành công. - Công trình “Liên kết đào tạo giữa nhà trường đại học với doanh nghiệp ở Việt Nam” của Trịnh Thị Hoa Mai [48] đã nêu lên việc liên kết đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp là nhu cầu khách quan xuất phát từ lợi ích của cả hai phía. Doanh nghiệp chính là đơn vị cung cấp thông tin để các cơ sở nắm bắt được quá trình của mình có hiệu quả và đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động hay không. Hoàng Phương Bắc (2028) qua công trình nghiên cứu “Một số giải pháp tăng cường đào tạo gắn với doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo tại Trường Đại học Thái Bình” đã trình bày một số định hướng và hoạt động cần thiết triển khai của Trường Đại học Thái Bình trong quá trình đào tạo, nhằm hướng tới nâng cao chất lượng đầu ra đáp ứng thì trường lao động.
Qua khảo sát thực trạng, tác giả đề xuất các giải pháp chung và giải pháp cụ thể như: Tăng cường bồi dưỡng nhận thức về đào tạo và đào tạo nghề cho giảng viên nhà trường, nhằm yêu cầu giảng viên tăng cường dạy học gắn với thực tiễn trong quá trình dạy học ở giảng đường; Tổ chức cho giảng viên nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ, nắm vững và cập 14 nhật các thay đổi của môi trường lao động của lĩnh vực mình đào tạo thông qua việc tập huấn, tham quan,. về các doanh nghiệp, các đơn vị sử dụng lao động; Đổi mới các hình thức đào tạo, tăng cường các chương trình ngoại khóa nhằm phát triển các năng lực xã hội như hợp tác, giải quyết vấn đề, năng lực giao tiếp,. Thực tế cho thấy sự phối hợp với doanh nghiệp và nhà trường trong công tác đào tạo không còn là vấn đề mới, tuy nhiên có nhiều lý do và do nhu cầu khác nhau nên việc triển khai nghiên cứu cụ thể tại trường Đại học Thái Bình đối với công tác đào tạo cũng cần có sự nghiên cứu sâu về sự phối hợp với doanh nghiệp trong quá trình đào tạo. Các giải pháp trên để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và chất lượng của hiệu quả đào tạo [6].
Tác giả Đinh Văn Toàn (2016) qua công trình nghiên cứu “Hợp tác đại học- doanh nghiệp trên thế giới và một số gợi ý cho Việt Nam” đã trình bày các nội dung hợp tác đại học-doanh nghiệp trên thế giới, đưa ra các hình thức hợp tác đại học -doanh nghiệp ở một số quốc gia.