Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ Triết học với đề tài "Đổi mới chính sách xã hội đối với đội ngũ giảng viên trong các nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay" do nghiên cứu sinh Nguyễn Hữu Quyền thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, bảo vệ năm 2015. Công trình được hướng dẫn khoa học bởi PGS.TS Nguyễn Trọng Tuấn và PGS.TS Phạm Công Nhất, thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử (mã số: 62 22 80 05).

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng trong công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo, phát triển đội ngũ giảng viên quân đội có đủ phẩm chất và năng lực sư phạm giữ vai trò quyết định. Đội ngũ giảng viên trong các nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam vừa thực hiện nhiệm vụ sư phạm đại học, vừa là quân nhân tham gia huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, nghiên cứu khoa học quân sự và tư vấn đường lối quốc phòng, an ninh. Mặc dù Đảng, Nhà nước và Quân đội đã ban hành nhiều chủ trương, nhưng các chính sách xã hội hiện hành chưa phản ánh đầy đủ tính chất đặc thù của lao động sư phạm trí óc trong môi trường quân sự. Nhiều bất cập cụ thể đang tồn tại: chính sách khuyến khích đổi mới giảng dạy chưa tương xứng, thiếu phụ cấp đứng lớp; kinh phí nghiên cứu khoa học còn hạn hẹp; chính sách bảo hiểm, nhà ở, đất ở còn manh mún; tuổi phục vụ của sĩ quan giảng viên ngắn dẫn đến tình trạng lãng phí và "chảy máu chất xám". Do đó, nghiên cứu đổi mới chính sách xã hội đối với lực lượng này là một đòi hỏi khách quan cả về lý luận và thực tiễn.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ một số vấn đề lý luận, thực tiễn, yêu cầu và đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm đổi mới chính sách xã hội đối với đội ngũ giảng viên trong các nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay. Để đạt được mục đích đó, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Luận giải, làm rõ vấn đề lý luận và nhân tố tác động đến đổi mới chính sách xã hội đối với đội ngũ giảng viên trong các nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.
  2. Khảo sát đánh giá thực trạng và chỉ rõ vấn đề đặt ra của đổi mới chính sách xã hội đối với đội ngũ giảng viên trong các nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.
  3. Nêu ra yêu cầu, đề xuất giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục đổi mới chính sách xã hội đối với đội ngũ giảng viên trong các nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.

Đối tượng nghiên cứu là hoạt động đổi mới chính sách xã hội đối với đội ngũ giảng viên trong các nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu về nội dung tập trung đi sâu vào các chính sách đãi ngộ trong đổi mới giảng dạy, nghiên cứu khoa học và bảo đảm đời sống, điều kiện làm việc. Phạm vi về khách thể và không gian là đội ngũ giảng viên tại các học viện, trường sĩ quan quân đội đào tạo bậc đại học; phạm vi thời gian khảo sát chủ yếu từ năm 1992 đến năm 2015.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu được tác giả hệ thống hóa qua ba nhóm công trình chính:

Nhóm công trình ngoài nước nghiên cứu về chính sách xã hội và chính sách xã hội trong quân đội:

  • GS.TSKH. Bulannov (2003) trong công trình Bản chất, nội dung và mục đích của chính sách xã hội (NXB Ezamen) đã luận giải chính sách xã hội là quan hệ tương hỗ giữa các nhóm xã hội nhằm gìn giữ, thay đổi vị thế xã hội và chỉ ra 6 chức năng cơ bản của chính sách xã hội về ổn định xã hội, củng cố chính quyền, phân phối kinh tế và bảo đảm đời sống.
  • Kibakin (2011) với luận án tiến sĩ tại Học viện Quân sự Frunze (Liên bang Nga) về Nghiên cứu chất lượng cuộc sống của cán bộ giảng dạy của các cơ sở giáo dục quân sự trong quân đội Nga, phân tích đặc thù giảng viên quân sự không thể kết hợp giảng dạy với kinh doanh bên ngoài, mức sống phụ thuộc hoàn toàn vào bảo đảm của nhà nước và đơn vị.
  • Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nga Nikolai Pankov (2007) trong bài viết về triển vọng an sinh xã hội trích dẫn số liệu của Trung tâm Nghiên cứu Công luận All-Nga ghi nhận 40% người được hỏi cho rằng gia đình quân nhân sống dưới mức trung bình, từ đó đặt ra các hướng cải cách tiền lương, nhà ở, bảo hiểm và lương hưu.
  • Báo cáo của Ủy ban Cố vấn Ban Chính sách Quốc phòng Mỹ (2011) và bài viết của Fiona Tam (2012) khảo sát 10.000 sĩ quan quân đội Trung Quốc, phản ánh mức lương bình quân tháng đạt 5.373,14 nhân dân tệ vào năm 2010 (tăng 2,61 lần so với năm 2005), cùng tỷ lệ sở hữu nhà (37%), ô tô (17%) và máy tính (85%).

Nhóm công trình trong nước về chính sách xã hội và trí thức đại học:

  • Lê Đăng Doanh và Nguyễn Minh Tú (1999) trong Khung chính sách xã hội trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường phân định chính sách xã hội theo 3 tiêu chí: chi ngân sách, đối tượng thụ hưởng và phạm vi tác động.
  • Hoàng Chí Bảo và Đoàn Minh Huấn (2012) trong Những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội phân tích chính sách xã hội theo nghĩa rộng (cấu trúc hệ thống toàn xã hội) và nghĩa hẹp (giải quyết các phương diện lao động, việc làm, đời sống).
  • Các nghiên cứu của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010) về Luật Giáo dục, Vũ Thanh Bình (2012) về chất lượng giảng viên lý luận chính trị, văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam (2013) về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục, và Trần Thị Lan Anh (2014) về chất lượng lao động của đội ngũ trí thức giáo dục đại học.

Nhóm công trình trong nước về chính sách xã hội quân đội và giảng viên nhà trường quân đội:

  • Đề tài KXB-96 của Tổng cục Chính trị (1997) xác định nội dung chính sách đãi ngộ quân đội và hậu phương quân đội; Đề tài KXB 96-09 của Trần Danh Bích (2002) về xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội; đề tài của Nguyễn Văn Tốn (2002) kiến nghị chính sách đãi ngộ chuyên môn kỹ thuật tách biệt với chức vụ chỉ huy; Đặng Đức Thắng (2003) nghiên cứu đào tạo giảng viên khoa học xã hội nhân văn quân sự theo chỉ thị ngày 22/4/2003 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
  • Luận án tiến sĩ của Trần Văn Minh (2004) tại Học viện Chính trị Quân sự đề xuất 4 nhóm giải pháp đổi mới công tác chính sách; sách của Tổng cục Chính trị (2007) về công tác chính sách quân đội; Nguyễn Văn Tháp (2009) chỉ ra các bất cập về chế độ phụ cấp, nhà ở của giảng viên trường đào tạo sĩ quan; sách chuyên khảo của Tổng cục Chính trị (2013) và công trình do Nguyễn Văn Quang chủ biên (2013) làm rõ hạn chế trong đãi ngộ cán bộ đầu ngành.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận theo góc độ khoa học quản lý giáo dục, khoa học chính trị hoặc nghiên cứu chính sách quân đội nói chung, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu dưới góc độ chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử về đổi mới chính sách xã hội đối với toàn thể đội ngũ giảng viên quân đội bậc đại học. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách xây dựng quan niệm, chỉ rõ các yếu tố tác động, tiêu chí đánh giá, khảo sát thực nghiệm xã hội học và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, luận án dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin (các quan điểm của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin về con người, chính sách xã hội, phân công lao động, lý luận về giá trị của lao động phức tạp so với lao động giản đơn); tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và chính sách hậu phương quân đội; các đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam; các nghị quyết, chỉ thị của Quân ủy Trung ương (như Nghị quyết số 93/ĐUQSTW năm 1993, Nghị quyết số 86/NQ-ĐUQSTW năm 2007 về công tác giáo dục - đào tạo).

Khung khái niệm và phân tích của luận án định vị:

  • Đội ngũ giảng viên trong các nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam là tập hợp những nhà giáo trong quân đội, làm nhiệm vụ chủ yếu là giảng dạy và nghiên cứu khoa học các môn khoa học chuyên ngành theo tổ chức, biên chế tại các học viện, trường sĩ quan (bậc đại học) quân đội, theo tiêu chuẩn chức danh quy định của Bộ Quốc phòng và Bộ Giáo dục và Đào tạo.
  • Hoạt động sư phạm quân sự mang tính đặc thù cao, là sự giao thoa giữa nhân cách nhà sư phạm và người sĩ quan chỉ huy, đòi hỏi sự kết hợp giữa tri thức khoa học chuẩn mực với kỷ luật chiến đấu và tính bảo mật quân sự.

Phương pháp nghiên cứu thực tế kết hợp giữa định tính và định lượng:

  • Phương pháp định tính: Sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp phân tích và tổng hợp văn bản pháp quy, nghị quyết; phương pháp logic và lịch sử; phương pháp so sánh, tổng kết thực tiễn và phương pháp chuyên gia.
  • Phương pháp định lượng: Sử dụng kỹ thuật điều tra xã hội học bằng phiếu trưng cầu ý kiến gồm 17 câu hỏi khảo sát thực tế trên mẫu N = 300 giảng viên đang công tác tại 6 nhà trường quân đội.
  • Nguồn tư liệu và dữ liệu: Số liệu thống kê sơ cấp từ phiếu trưng cầu ý kiến của 300 giảng viên (thực hiện từ năm 2009 đến 2013); số liệu thống kê thứ cấp về khen thưởng và nghiệm thu đề tài KH&CN cấp Nhà nước, cấp Bộ Quốc phòng giai đoạn 2011–2013 do Cục Khoa học Công nghệ và Môi trường – Bộ Quốc phòng cung cấp; số liệu về cơ cấu trình độ, học hàm, học vị giảng viên do Cục Cán bộ – Tổng cục Chính trị cung cấp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương này tập trung tổng thuật, phân loại và đánh giá các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước thành ba nhóm chính (quốc tế, trong nước về đại học, trong nước về quân đội). Tác giả rút ra 4 kết luận đánh giá:

  1. Các công trình đã xác lập hệ thống lý luận chung về chính sách xã hội, xem đây là công cụ của nhà nước nhằm bảo đảm công bằng, ổn định xã hội và phát triển con người.
  2. Các nghiên cứu về trí thức đã chỉ rõ tính chất lao động trí óc sáng tạo của giảng viên đại học, đặt ra yêu cầu xây dựng cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đào tạo và đãi ngộ tương xứng với hao phí trí lực.
  3. Các công trình trong quân đội khẳng định chính sách đãi ngộ là bộ phận của chính sách quốc gia, song thực tế thực hiện đối với giảng viên quân sự còn nhiều điểm chưa phù hợp với tính chất lao động đặc thù.
  4. Chưa có công trình nào nghiên cứu độc lập, chuyên sâu từ giác độ triết học duy vật lịch sử để đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện cho việc đổi mới chính sách xã hội đối với giảng viên các nhà trường quân đội trong tình hình mới.

Chương 2: Một số vấn đề lý luận về chính sách xã hội và đổi mới chính sách xã hội đối với đội ngũ giảng viên trong các nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam

Chương 2 làm rõ cấu trúc hệ thống các nhà trường quân đội bậc đại học, gồm hai khối:

  • Nhóm trực thuộc Bộ Quốc phòng (9 đơn vị): Học viện Quốc phòng, Học viện Lục quân, Học viện Chính trị, Học viện Kỹ thuật Quân sự, Học viện Hậu cần, Học viện Quân y, Trường Sĩ quan Lục quân I, Trường Sĩ quan Lục quân II, Trường Sĩ quan Chính trị.
  • Nhóm trực thuộc các quân, binh chủng (13 đơn vị): Học viện Hải quân, Học viện Phòng không - Không quân, Học viện Biên phòng, Học viện Khoa học Quân sự, Đại học Văn hóa - Nghệ thuật Quân đội, và các Trường Sĩ quan: Pháo binh, Thông tin, Tăng Thiết giáp, Phòng hóa, Công binh, Đặc công, Không quân, Kỹ thuật Quân sự.

Luận án phân tích hai đặc thù lao động cốt lõi của giảng viên quân sự:

  1. Lao động trí óc, sáng tạo trong hoạt động sư phạm quân sự: Đây là dạng lao động phức tạp, tạo ra giá trị cao hơn nhiều lần so với lao động giản đơn (vận dụng luận điểm của Ph. Ăngghen). Giảng viên thường xuyên phải chịu căng thẳng thần kinh để nghiên cứu, đúc kết kinh nghiệm chiến đấu thành lý luận khoa học quân sự trong điều kiện giữ bí mật tuyệt đối.
  2. Lao động sư phạm bậc cao trong môi trường quân sự: Quá trình giảng dạy diễn ra trong môi trường khắc nghiệt (thao trường, bãi tập, phòng thử vũ khí, khí tài có tiếng ồn lớn, nguy cơ bệnh nghề nghiệp và tai nạn cao), cường độ làm việc khẩn trương sát với thực tế chiến đấu cả ngày lẫn đêm.

Chương này cũng xác định bản chất của việc đổi mới chính sách xã hội: là quá trình hoàn thiện nhận thức, nội dung, cơ chế và phương thức thực hiện các chính sách xã hội nhằm giải quyết hài hòa các mối quan hệ lợi ích, tạo động lực thúc đẩy tính tích cực sáng tạo của giảng viên. Tác giả chỉ ra các nhân tố tác động gồm: kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế, chiến lược hiện đại hóa quân đội, đổi mới giáo dục đại học và nhận thức của cấp ủy, chỉ huy các cấp.

Chương 3: Đổi mới chính sách xã hội đối với đội ngũ giảng viên trong các nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay - Thực trạng, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra

Dựa trên kết quả điều tra xã hội học 300 giảng viên tại 6 nhà trường quân đội và các số liệu thứ cấp, chương 3 phản ánh bức tranh thực trạng qua các bảng dữ liệu:

Bảng 1: Cơ cấu trình độ học vấn và cấp bậc quân hàm của mẫu khảo sát (N = 300)

TT Trình độ học vấn Số người Tỷ lệ (%) TT Cấp bậc quân hàm Số người Tỷ lệ (%)
1 Đại học 54 18,00 1 QNCN, CNVQP 7 2,33
2 Thạc sĩ 152 50,60 2 Cấp úy 23 7,66
3 Tiến sĩ 92 30,60 3 Thiếu tá, Trung tá 147 49,00
4 Tiến sĩ khoa học 2 0,66 4 Thượng tá, Đại tá 121 40,30
- - - - 5 Cấp tướng 2 0,66

Bảng 2: Thực trạng đánh giá chính sách, thu nhập và điều kiện làm việc của giảng viên

Nội dung khảo sát Tiêu chí đánh giá Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Đánh giá chung về CSXH hiện nay Chưa phù hợp 123 40,6
Còn nhiều bất cập 120 39,6
Phù hợp 57 19,0
Tỷ lệ lương trong tổng thu nhập Chiếm từ 81% đến 100% 193 63,7
Chiếm từ 51% đến 80% 96 31,7
Chiếm từ 31% đến 50% 11 3,6
Mức sống sinh hoạt gia đình Mức sống trung bình (chỉ đủ sinh hoạt) 189 62,3
Mức sống khá (có chút ít tích lũy) 68 22,4
Mức sống khó khăn (thiếu thốn sinh hoạt) 32 10,6
Mức sống cao (có tích lũy) 11 3,6
Trang bị phương tiện làm việc Tủ, giá lưu trữ tài liệu 285 95,0
Phương tiện nghe, nhìn phục vụ giảng dạy 215 71,7
Máy vi tính dùng chung 213 71,0
Máy chiếu, đèn chiếu 132 44,0
Điện thoại trả cước hoặc trang bị 37 38,1
Máy điều hòa nhiệt độ 84 28,0
Máy vi tính xách tay do cơ quan trang bị 12 4,0

Về cường độ lao động, số liệu năm học 2012-2013 ghi nhận 43% giảng viên có giờ lên lớp trên 300 giờ/năm và 37% từ 151 đến 300 giờ/năm. Trong khi đó, việc tham gia đề tài khoa học cấp cao còn hạn chế: chỉ có 1% giảng viên tham gia 1-2 đề tài cấp Nhà nước; 2,66% tham gia đề tài cấp Bộ.

Bảng 3: Nguyên nhân hạn chế và nguyện vọng đổi mới của giảng viên

Nhóm nội dung Chi tiết tiêu chí Tỷ lệ lựa chọn (%)
Nguyên nhân của hạn chế Cơ chế bảo đảm thực hiện CSXH chưa được đổi mới 58,0
Chưa nhận thức đầy đủ vai trò của CSXH 53,1
Ảnh hưởng của cơ chế phân phối bình quân 52,8
Đánh giá chưa đúng vị trí, vai trò giảng viên 52,1
Điều kiện kinh tế - xã hội còn thấp 46,8
Lãnh đạo, chỉ huy chưa quan tâm đúng mức 40,0
Nguyện vọng đổi mới nội dung CSXH Ưu tiên bảo đảm về nhà ở, đất ở 93,0
Đảm bảo có phụ cấp đứng lớp 89,0
Tăng kinh phí cho nghiên cứu khoa học 75,5
Ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng trong và ngoài nước 68,6
Bảo đảm điều kiện làm việc tốt hơn 64,7
Khen thưởng xứng đáng với thành tích, công lao 62,3
Tăng lương, phụ cấp 50,8
Tăng tuổi phục vụ đối với giảng viên 43,8
Phương thức đãi ngộ mong muốn Đãi ngộ theo kết quả giảng dạy và NCKH 92,7
Đãi ngộ theo học hàm, học vị 66,3
Đãi ngộ theo chức danh giảng viên 64,7
Đãi ngộ theo quân hàm, bậc lương 46,5

Từ thực trạng trên, tác giả rút ra những vấn đề bức thiết đặt ra: sự bất cập trong tiền lương và thiếu phụ cấp đứng lớp; sự thiếu hụt phương tiện làm việc chuyên dụng; áp lực nhà ở, đất ở đè nặng lên đời sống; nguy cơ lãng phí chất xám do quy định tuổi phục vụ sĩ quan chưa phù hợp với lộ trình đào tạo học hàm, học vị.

Chương 4: Yêu cầu và những giải pháp cơ bản đổi mới chính sách xã hội đối với đội ngũ giảng viên trong nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

Chương 4 xác định các yêu cầu cơ bản: đổi mới phải bám sát quan điểm của Đảng và Quân ủy Trung ương; xuất phát từ tính chất đặc thù của hoạt động sư phạm quân sự; kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội; bảo đảm tính khả thi, đồng bộ và có lộ trình cụ thể.

Luận án đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp cơ bản:

  1. Đổi mới nhận thức, tư tưởng của lãnh đạo, chỉ huy các cấp về vị trí, vai trò của đội ngũ giảng viên và tầm quan trọng của chính sách xã hội như một đòn bẩy kích thích năng suất lao động sáng tạo.
  2. Đổi mới nội dung chính sách xã hội:
    • Xây dựng chế độ phụ cấp đứng lớp đặc thù cho giảng viên quân đội.
    • Hoàn thiện chính sách đãi ngộ theo kết quả giảng dạy và công trình nghiên cứu khoa học; nâng mức đầu tư kinh phí cho đề tài nghiên cứu.
    • Giải quyết triệt để chính sách hỗ trợ nhà ở, đất ở và nhà ở công vụ cho giảng viên.
    • Sửa đổi quy định kéo dài tuổi phục vụ tại ngũ đối với giảng viên có học hàm Giáo sư, Phó giáo sư và học vị Tiến sĩ để phát huy nguồn chất xám.
    • Cải thiện điều kiện, phương tiện làm việc cá nhân (trang bị máy tính xách tay, thiết bị kết nối mạng, nâng cấp phòng làm việc).
  3. Đổi mới cơ chế quản lý, phương thức tổ chức thực hiện và đánh giá giảng viên: Chuyển mạnh từ phương thức quản lý hành chính sự vụ sang quản lý chất lượng theo chuẩn đầu ra; kết hợp chặt chẽ giữa công tác cán bộ với công tác chính sách (được 81,5% giảng viên đồng tình qua khảo sát); bảo đảm tính dân chủ, công khai, minh bạch trong đánh giá, khen thưởng.
  4. Kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực cơ quan làm công tác chính sách: Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ chuyên trách chính sách các cấp; bảo đảm nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất từ ngân sách quốc phòng; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực thi chính sách ở các nhà trường quân đội.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt lý luận:

  • Luận án đã hệ thống hóa và xây dựng quan niệm khoa học về đổi mới chính sách xã hội đối với đội ngũ giảng viên trong các nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
  • Luận giải sâu sắc bản chất và giá trị đặc thù của lao động sư phạm quân sự (lao động trí óc phức tạp, hao phí năng lượng thần kinh cao, diễn ra trong môi trường quân sự khắc nghiệt, gắn liền với bảo vệ an ninh quốc phòng), từ đó khẳng định tính tất yếu phải có các chính sách xã hội đặc thù tương xứng để tái sản xuất sức lao động và kích thích sáng tạo.
  • Xác lập khung tiêu chí đánh giá chất lượng và hiệu quả đổi mới chính sách xã hội trong môi trường sư phạm quân sự.

Những đóng góp mới về mặt thực tiễn:

  • Phản ánh trung thực, toàn diện bức tranh thực trạng đời sống, thu nhập, điều kiện làm việc và tâm tư, nguyện vọng của đội ngũ giảng viên quân đội thông qua số liệu điều tra xã hội học thực nghiệm (N = 300) và dữ liệu quản lý cán bộ toàn quân.
  • Nhận diện chính xác các hạn chế căn bản của chính sách hiện hành (thiếu phụ cấp đứng lớp, cơ chế phân phối còn mang tính bình quân, bất cập về nhà ở và tuổi phục vụ).
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ từ đổi mới nhận thức, hoàn thiện nội dung chính sách, đổi mới cơ chế quản lý đến kiện toàn bộ máy thực thi, có giá trị làm luận cứ trực tiếp cho việc hoạch định chính sách cán bộ, quân nhân trong quân đội.

Kiến nghị, giải pháp đề xuất từ luận án:

  • Kiến nghị Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng xây dựng quy chế phụ cấp đứng lớp riêng cho nhà giáo quân đội tương thích với hệ thống giáo dục quốc dân.
  • Đề xuất quy hoạch quỹ đất và triển khai các dự án nhà ở chính sách, nhà ở công vụ cho giảng viên tại các khu vực đóng quân.
  • Kiến nghị sửa đổi Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam theo hướng nâng tuổi phục vụ tại ngũ đối với các nhà khoa học, giảng viên có học hàm Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ.
  • Tăng định mức kinh phí cho các đề tài nghiên cứu khoa học quân sự cấp cơ sở và bổ sung trang thiết bị làm việc cá nhân cho giảng viên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi khảo sát thực nghiệm tập trung vào bậc đại học (học viện và trường sĩ quan), chưa bao quát toàn bộ các cơ sở đào tạo trung cấp, cao đẳng nghề hoặc các trường quân sự địa phương thuộc quân khu, quân đoàn.
  • Khảo sát xã hội học được thực hiện trên mẫu 300 giảng viên tại 6 nhà trường quân đội; số liệu phản ánh chủ yếu bức tranh giai đoạn 2009–2013 và các mốc chính sách đến năm 2015.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các đối tượng nghiên cứu viên thuần túy tại các viện nghiên cứu chuyên ngành trực thuộc Bộ Quốc phòng.
  • Đánh giá tác động thực tế của các chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và nhà ở sau khi được sửa đổi, bổ sung trong giai đoạn sau năm 2015.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng (Cục Cán bộ, Cục Chính sách thuộc Tổng cục Chính trị; Cục Nhà trường thuộc Bộ Tổng Tham mưu): Cung cấp các luận cứ khoa học và số liệu thực nghiệm để sửa đổi, ban hành các thông tư, quy chế về chế độ đãi ngộ, tiêu chuẩn trang thiết bị và tuổi phục vụ của giảng viên quân đội.
  • Đảng ủy, Ban Giám đốc các học viện, trường sĩ quan: Tham khảo để điều chỉnh quy chế chi tiêu nội bộ, phân bổ giờ giảng, bố trí phương tiện làm việc và kết hợp công tác cán bộ với chính sách trong đơn vị.
  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên các chuyên ngành Triết học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Xã hội học quân sự và Quản lý giáo dục: Tham khảo về cách thức vận dụng nguyên lý duy vật lịch sử vào phân tích một chính sách xã hội cụ thể, cũng như phương pháp thiết kế công cụ điều tra xã hội học trong môi trường lực lượng vũ trang.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa đội ngũ giảng viên trong các nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam như thế nào? Theo luận án, đội ngũ giảng viên trong các nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam là tập hợp những nhà giáo trong quân đội, làm nhiệm vụ chủ yếu là giảng dạy và nghiên cứu khoa học các môn khoa học chuyên ngành theo tổ chức, biên chế tại các học viện, trường sĩ quan (bậc đại học) quân đội, theo tiêu chuẩn chức danh quy định của Bộ Quốc phòng và Bộ Giáo dục và Đào tạo.

2. Mức độ hài lòng của giảng viên quân đội đối với chính sách xã hội hiện hành được thể hiện qua số liệu nào? Trong kết quả điều tra xã hội học 300 giảng viên tại 6 nhà trường quân đội, có 40,6% (123 người) đánh giá chính sách xã hội hiện nay là "chưa phù hợp", 39,6% (120 người) đánh giá "còn nhiều bất cập", và chỉ có 19% (57 người) đánh giá là "phù hợp".

3. Những nguyện vọng đổi mới nội dung chính sách nào nhận được tỷ lệ đồng thuận cao nhất từ giảng viên? Hai nguyện vọng có tỷ lệ lựa chọn cao nhất trong khảo sát là: ưu tiên bảo đảm về nhà ở, đất ở với 93% (282/300 người) và bảo đảm có phụ cấp đứng lớp với 89% (270/300 người). Tiếp sau là tăng kinh phí nghiên cứu khoa học (75,5%) và ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng (68,6%).

4. Cơ cấu học hàm, học vị của đội ngũ giảng viên toàn quân theo thống kê của Cục Cán bộ - Tổng cục Chính trị ra sao? Theo số liệu thống kê tại Phụ lục 4 của luận án do Cục Cán bộ cung cấp, đội ngũ giảng viên nhà trường quân đội có 405 Giáo sư, Phó giáo sư (chiếm 3,4%); 837 Tiến sĩ (chiếm 6,8%); và 7.251 Thạc sĩ.

5. Cơ cấu thu nhập của giảng viên quân đội phụ thuộc vào tiền lương ở mức độ nào? Kết quả khảo sát cho thấy thu nhập của giảng viên phụ thuộc chủ yếu vào nguồn lương và phụ cấp quân hàm: 63,7% giảng viên có tiền lương chiếm từ 81% đến 100% tổng thu nhập hàng năm; 31,7% có tiền lương chiếm từ 51% đến 80%; chỉ 3,6% có tiền lương chiếm từ 31% đến 50%; không có giảng viên nào có tiền lương dưới 30% tổng thu nhập.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Hữu Quyền đã làm rõ cơ sở lý luận triết học và tính tất yếu của việc đổi mới chính sách xã hội đối với đội ngũ giảng viên trong các nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp luận duy vật lịch sử với cuộc điều tra xã hội học trên 300 giảng viên tại 6 nhà trường quân đội, công trình đã chỉ ra những điểm nghẽn thực tế về phụ cấp, thu nhập, điều kiện làm việc và nhà ở. Hệ thống bốn nhóm giải pháp do luận án đề xuất mang tính đồng bộ, cung cấp luận cứ khoa học có giá trị phục vụ công tác quản lý cán bộ và hoạch định chính sách quân đội trong thời kỳ mới.