Luận án tiến sĩ triết học đổi mới chính sách xã hội đối với đội ngũ giảng viên trong các nhà trường quân đội nhân dân việt nam hiện nay

Luận án tiến sĩ nghiên cứu triết học đổi mới chính sách xã hội đối với đội ngũ giảng viên trong các nhà trường quân đội nhân, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2015

182
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Nhóm công trình ngoài nước nghiên cứu về chính sách xã hội và chính sách xã hội trong quân đội

1.2. Nhóm công trình nghiên cứu trong nước về chính sách xã hội và chính sách xã hội đối với trí thức trong các trường đại học Việt Nam

1.3. Nhóm công trình nghiên cứu trong nước về chính sách xã hội trong Quân đội và chính sách xã hội đối với đội ngũ giảng viên trong các nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam

1.4. Đánh giá các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

2. CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VÀ ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH XÃ HỘI ĐỐI VỚI ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRONG CÁC NHÀ TRƯỜNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

2.1. Đội ngũ giảng viên và chính sách xã hội đối với đội ngũ giảng viên trong các nhà trường quân đội nhân dân Việt Nam

2.2. Quan niệm và một số yếu tố tác động đến đổi mới chính sách xã hội đối với đội ngũ giảng viên trong các nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH XÃ HỘI ĐỐI VỚI ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRONG CÁC NHÀ TRƯỜNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

3.1. Thực trạng đổi mới chính sách xã hội đối với đội ngũ giảng viên trong các nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

3.2. Nguyên nhân của thành tựu và hạn chế về đổi mới chính sách xã hội đối với đội ngũ giảng viên trong các nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam và một số vấn đề đặt ra

4. CHƯƠNG 4: YÊU CẦU VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH XÃ HỘI ĐỐI VỚI ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRONG NHÀ TRƯỜNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY

4.1. Yêu cầu đổi mới chính sách xã hội đối với đội ngũ giảng viên trong các nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

4.2. Những giải pháp cơ bản đổi mới chính sách xã hội đối với đội ngũ giảng viên trong các nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của việc đổi mới chính sách xã hội

Việc đổi mới chính sách xã hội cho giảng viên quân đội Việt Nam là một yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh hiện nay. Đội ngũ giảng viên đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong quân đội. Chính sách xã hội hiện tại chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu và đặc thù của đội ngũ này. Cần có những chính sách cụ thể để khuyến khích và phát huy năng lực của giảng viên, từ đó nâng cao chất lượng giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Theo đó, việc cải cách chính sách giáo dụcphát triển nguồn nhân lực là rất cần thiết. Đặc biệt, trong bối cảnh cải cách giáo dục toàn diện, việc xây dựng một hệ thống chính sách xã hội phù hợp sẽ tạo động lực cho giảng viên cống hiến và phát triển. "Chất lượng giảng dạy không chỉ phụ thuộc vào trình độ chuyên môn mà còn vào môi trường làm việc và các chính sách đãi ngộ".

1.1. Đặc điểm của đội ngũ giảng viên quân đội

Đội ngũ giảng viên quân đội có những đặc điểm riêng biệt, bao gồm sự kết hợp giữa kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn. Họ không chỉ là người truyền đạt kiến thức mà còn là những người tham gia vào các hoạt động huấn luyện và chiến đấu. Do đó, chính sách xã hội cần phải xem xét đến những yếu tố này để đảm bảo rằng giảng viên có đủ điều kiện làm việc và phát triển. "Đội ngũ giảng viên cần được hỗ trợ không chỉ về mặt tài chính mà còn về mặt tinh thần và cơ hội phát triển nghề nghiệp".

II. Thực trạng chính sách xã hội hiện nay

Thực trạng chính sách xã hội đối với giảng viên quân đội hiện nay cho thấy nhiều bất cập. Các chính sách đã ban hành chưa thực sự phản ánh đúng đặc thù công việc của giảng viên trong môi trường quân sự. Nhiều giảng viên vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn lực cần thiết cho nghiên cứu và giảng dạy. "Chính sách bảo hiểm, an sinh xã hội còn nhiều hạn chế, không đáp ứng được nhu cầu thực tế của giảng viên". Điều này dẫn đến tình trạng chảy máu chất xámlãng phí chất xám trong đội ngũ giảng viên. Cần có những giải pháp cụ thể để cải thiện tình hình này.

2.1. Những hạn chế trong chính sách hiện tại

Một số chính sách xã hội hiện tại không đủ mạnh để khuyến khích giảng viên phát triển. Thiếu các chính sách ưu đãi trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học, giảng viên không có động lực để cống hiến. "Kinh phí cho nghiên cứu khoa học còn hạn chế, không đủ để thực hiện các dự án nghiên cứu có ý nghĩa". Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục và đào tạo trong quân đội.

III. Yêu cầu và giải pháp đổi mới chính sách xã hội

Để đổi mới chính sách xã hội cho giảng viên quân đội Việt Nam, cần xác định rõ yêu cầu và giải pháp cụ thể. Các chính sách cần phải được thiết kế để phù hợp với đặc thù của giảng viên, bao gồm các chính sách đào tạo, bồi dưỡng, và đãi ngộ. "Cần có một hệ thống chính sách đồng bộ, từ đào tạo đến đãi ngộ, để tạo động lực cho giảng viên phát triển". Việc này không chỉ giúp nâng cao chất lượng giảng dạy mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của quân đội.

3.1. Đề xuất giải pháp cụ thể

Các giải pháp cần tập trung vào việc cải thiện điều kiện làm việc, tăng cường hỗ trợ tài chính cho giảng viên, và xây dựng các chương trình đào tạo phù hợp. "Chính sách ưu đãi trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học cần được thực hiện một cách đồng bộ và hiệu quả". Điều này sẽ tạo ra một môi trường làm việc tích cực, khuyến khích giảng viên phát huy tối đa năng lực của mình.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU LIEN QUAN DEN DE TÀI LUẬN ÁN Cung voi su phat triển của đất nước, trong những năm qua, vấn đề CSXH, đổi mới CSXH đối với các nhóm lao động xã hội, những ngành nghề mang tính đặc thù, đặc biệt là đổi mới CSXH đối với đội ngũ trí thức trong đó có đội ngũ giảng viên bậc đại học nhằm tạo động lực phát triển KH&CN, GD&DT được Đảng, Nhà nước hết sức quan tâm; đồng thời, nó cũng thu hút nhiều cơ quan trong và ngoài quân đội, các nhà khoa học nghiên cứu vấn đề này. Thời gian gần đây đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về CSXH; các vấn đề liên quan đến sự phát triển của đội ngũ cán bộ, giảng viên trong các nhà trường QDNDVN cũng như của đất nước. Nhóm công trình nước ngoài nghiên cứu về chính sách xã hội và chính sách xã hội trong quân đội - GS,TSKH.Bulannov (2003), "bản chất, nội dung và mục đích của chính sách xã hội" NXB Ezamen (ID số 05518ot01. Tác giả công trình quan niệm, xã hội bao gồm các nhóm xã hội (số đông nhất trong giai cấp của họ).

Mỗi nhóm như vậy có sự thật của riêng mình, có hình dung thế nào là tốt, là xấu trong trật tự hiện hữu, cũng như cách thay đổi trật tự đó như thé nào. Có nghĩa là trong các nhóm xã hội có lợi ích khác nhau, đôi khi giống nhau điều gì đó, nhưng đôi khi không thê dung hòa, thậm chí thỏa hiệp. Toàn bộ các nhóm xã hội đó là cấu trúc của xã hội. Chính sách xã hội là quan hệ tương hỗ giữa các nhóm xã hội với lý do gìn giữ và thay đổi vị thế xã hội của nhân dân nói chung và các giai cấp, tầng lớp, xã hội, các nhóm dân số xã hội, các nhóm chuyên môn xã hội, các cộng đồng xã hội (các gia đình, dân tộc, nhân dân các thành phó, làng mạc, vùng.

Chức năng của chính sách xã hội: một là, đảm bảo sự ồn định xã hội, an sinh xã hội của xã hội; hai là, đảm bảo sự vững chắc của chính quyền; ba là, đảm bảo phân phối quyền lực trong nền kinh tế (sở hữu), làm sao dé đa số công nhận sự công bằng dé không xuất hiện các cuộc dau tranh vượt khỏi vòng kiểm soát; bốn là, thành lập hệ thống phân phối các dự trữ và hiệu quả kinh tế đáp ứng yêu cầu số đông dân cư; năm là, đảm bảo môi trường ở mức cần thiết và đầy đủ cho xã hội và nhà nước; sáu là, bảo đảm cuộc sống cho xã hội ở mức cần thiết và đầy đủ cho dân chúng nói chung, cho các nhóm xã hội nói riêng. Kibakin (2011), "Nghiên cứu chất lượng cuộc sống của cán bộ giảng day của các cơ sở giáo duc quân sự trong quân đội Nga", Luận an Tiến sĩ, Học viện Quân sự Frunze, Liên bang Nga. Luận án nêu lên vai trò của nâng cao chất lượng cuộc sống cho cán bộ giảng dạy trong các cơ sở giáo dục quân sự quân đội Nga, là nhằm b6 sung hiệu quả cho những giá trị cơ bản khác nhau như: tận tụy với nhiệm vụ, trung thành, sẵn sàng tuân thủ trình tự, sẵn sàng hi sinh. Những giá trị ấy chỉ có được khi những cán bộ giảng dạy trong nhà trường quân sự được tôn vinh và đảm bảo chất lượng trong cuộc sống.

So sánh có liên quan đến chất lượng cuộc sống của giáo viên với nhóm xã hội tương tự, như của giáo viên các trường dân sự. Ngược lại, với công việc, dịch vụ lại không có thời gian và cũng không có cơ hội hợp pháp cho thêm (trong dịch vụ) cải thiện hạnh phúc: một giảng viên quân sự không thé (và không nên) kết hop công việc chuyên môn, công việc giảng dạy - để kinh doanh. Chất lượng cuộc sống của giáo viên trong các trường quân sự luôn phụ thuộc vào tình trạng vật chat, tinh thần của đơn vị và quyền lực của nhà nước. Chính vì vậy, khi tính toán chất lượng cuộc sống của cán bộ giảng dạy không chỉ đơn thuần là đảm bảo bằng tiên thù lao và các vật chất đảm bảo khác, mà phải đảm bảo bằng những đặc điểm của các giá trị tham chiếu trong mối quan hệ khác nhau đối với các nhóm xã hội tương đồng và các nhà hoạt động kinh tế.

- Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nga Nikolai Pankov (2007), "Triển vọng cho an sinh xã hội của người phục vụ trong quân đội Nga". Luật liên bang, 24 tháng 6 năm 2007 Ne 198 - FZ, Maxcơva. Theo Trung tâm Nghiên cứu Công luận All-Nga, 40% người Nga được hỏi thừa nhận rằng gia đình quân nhân hiện đang sống trong 10 nghèo đói, dưới mức trung bình quốc gia, gần 60% người Nga tin rằng tình hình kinh tế - xã hội của các quân nhân cao hơn mức trung bình toàn quốc. Phân tích các dữ liệu giám sát cho phép xác định các hướng chính của chính sách xã hội quân sự đòi hỏi phải cải thiện các văn bản pháp lý: cải cách tiền lương các quân nhân; giải quyết vấn đề nhà ở các quân nhân và người dân thải ra từ các dịch vụ quân sự; cải thiện hệ thống lương hưu công dân thải ra từ các dịch vụ quân sự, và các gia đình của các nạn nhân (chết) chiến sĩ; cải thiện y té va diéu dưỡng cho quân nhân, công dân thải ra từ các dịch vụ quân sự, và gia đình của họ; tính hiệu quả của bảo trợ xã hội và phục hồi chức năng của các chiến binh, các gia đình các quân nhân đã chết; tạo ra các cơ chế hiệu quả dé khuyén khich viéc lam cua nhân lực cua lực lượng vũ trang; thích ứng với xã hội, dao tao và tìm việc lam của người thải ra từ các dịch vụ quân sự.

- Cơ quan nghiên cứu Ủy ban Cố vấn Ban Chính sách Quốc phòng Mỹ (2011), "Chinese military officers' wages steadily rising" (Lương sĩ quan Trung Quốc quân sự gia tăng đều đặn), Tân hoa xã, Bắc Kinh, Trung Quốc. Thông tin phản ánh, lương sĩ quan quân sự Trung Quốc đã tăng đều qua các năm qua. Một cuộc khảo sát của các sĩ quan quân đội đã cho thấy rằng vào cuối năm 2010, thu nhập bình quân hàng tháng đối với cán bộ quân sự là 5,373.14 nhân dân tệ (khoảng $ 826), cao hơn so với mức lương trung bình của năm 2005 là 2,61 lần. Trong khi đó, thu nhập bình quân đầu người cho các gia đình của các sĩ quan quân đội đạt 2,637.62 nhân dân tệ, cao hơn so với con số tương tự từ năm 2005 là 2,41 lần.

Các khảo sát cho thấy lương sĩ quan đang leo ở mức nhanh nhất kê từ khi thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa vào năm 1949. Đồng thời, báo cáo cho biết, cuộc khảo sát, trong đó lấy mẫu 10.000 sĩ quan quân đội, cho thấy điều kiện sống cho cán bộ quân sự cũng được cải thiện đáng kể, mặc dù vợ chồng và con cái của họ vẫn đang gặp rắc rối với việc làm và giáo dục. Tương ứng, theo báo cáo của các quan chức quân sự đã cam kết sẽ tiếp tục cải thiện phúc lợi nhân viên quân sự trong năm năm tiép theo. 11 - Fiona Tam (2012), Mid-ranking officers get dramatic pay increase (Tăng lương cho sĩ quan phục vụ trong quân đội) http://www.it/news-en/Pay- raise-of-50-for-Chinese-soldiers-14809.

Thông tin cho thấy, thu nhập trung bình hàng tháng cho cấp trung sĩ Quân đội Giải phóng Nhân dân đã tăng đến 5.373 nhân dân tệ (HK $ 6413), gấp 2,6 lần so với số tiền mà họ đã giành được 5 năm trước đây, theo một cuộc khảo sát được tiễn hành bởi trụ sở của PLA. Thu nhập bình quân hàng tháng của gia đình trong số 10.000 nhân viên phỏng vấn, xếp hạng từ chỉ huy đến trung úy, đã có 37% số cán bộ đã mua nhà riêng của họ, và gần 43% đã có tài khoản tiết kiệm. Khoảng 17% sở hữu xe ô tô riêng của họ, và 85% có máy tính. Cán bộ ở các tỉnh phía Nam thu nhập nhiều hơn so với những người ở phía Tây.

Cuộc điều tra cho thấy một nửa của các quan chức quân đội từ những đơn vị ở Quảng Châu có xe ô tô riêng cao hơn nhiều so với mức thu nhập trung bình. Các gia đình quân nhân đã đề dành trung bình 2.703 nhân dân tệ mỗi người một tháng, 60 phần trăm còn lại dùng dé mua thực phâm và các chi phí hàng ngày. Các nhà chức trách cho rang sự tăng trưởng thu nhập dé kết nói giữa hệ thống lương quân sự với hệ thống lương đối với công chức, là cao hơn nhiều so với thu nhập người dân trung bình. Nhóm công trình nghiên cứu trong nước về chính sách xã hội và chính sách xã hội đối với trí thức trong các trường đại học Việt Nam Từ sau những năm đổi mới, cùng với những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế của đất nước, theo cơ chế thị trường định hướng XHCN thì các van đề xã hội được đặt ra một cách cấp thiết.

Có nhiều công trình đề cập đến khái niệm, vị trí, nội dung của CSXH và CSXH đối với đội ngũ giảng viên bậc đại học. Sau đây tác giả thong kê một số công trình tiêu biểu đó là: - Lê Đăng Doanh và Nguyễn Minh Tú (1999): "Khung chính sách xã hội trong quá trình chuyển đổi sang nên kinh tế thị trường" NXB Thông kê, Hà Nội. Theo nhóm tác giả, nội dung CSXH của Việt Nam được thé hién theo linh vuc sau: Lĩnh vực 1: Các lĩnh vực CSXH xác định theo chi ngân sách nha nước bao gồm: Lĩnh vực xã hội: GD&DT; y tế - bảo vệ sức khỏe; dân số kế hoạch hóa gia 12 đình; bảo vệ, chăm sóc trẻ em; địch vụ xã hội cơ bản: giáo dục cơ bản; chăm sóc sức khỏe ban đầu; sức khỏe môi trường; dinh dưỡng; sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình. Lĩnh vực 2: Các lĩnh vực CSXH xác định theo đối tượng bao gốm: Chính sách đối với phụ nữ; chính sách đối với trẻ em; chính sách đối với thanh niên; chính sách đối với dân tộc ít người; chính sách đối với người già; chính sách đối với người tàn tật; chính sách đối với người sống trong vùng gặp thiên tai; chính sách đối với thương, bệnh binh và nạn nhân chiến tranh; chính sách đối với người lao động.

Lĩnh vực 3: Các lĩnh vực CSXH xác định theo phạm vì tác động bao gom: Chính sách giáo dục va đào tạo; chính sách y tế; chính sách bảo hộ người lao động: hệ thống bảo hiểm xã hội bao gồm: (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bồi thường tai nạn lao động, trợ cấp thôi việc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Đổi mới chính sách xã hội cho giảng viên quân đội Việt Nam" đề cập đến những thay đổi cần thiết trong chính sách xã hội nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giảng dạy của giảng viên trong quân đội. Các điểm chính của bài viết bao gồm việc cải thiện chế độ đãi ngộ, tăng cường đào tạo và phát triển năng lực cho giảng viên, cũng như tạo ra môi trường làm việc tích cực hơn. Những cải cách này không chỉ giúp nâng cao trình độ chuyên môn của giảng viên mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của lực lượng vũ trang.

Để tìm hiểu thêm về các khía cạnh liên quan đến việc nâng cao năng lực giảng viên, bạn có thể tham khảo bài viết "Luận văn thạc sĩ nâng cao năng lực công nghệ thông tin của giảng viên tại học viện chính trị hành chính quốc gia hồ chí minh", nơi trình bày các phương pháp cải thiện năng lực công nghệ thông tin cho giảng viên. Ngoài ra, bài viết "Luận án tiến sĩ chất lượng đội ngũ giảng viên ở các học viện trực thuộc bộ quốc phòng quân đội nhân dân việt nam giai đoạn hiện nay" sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về chất lượng giảng viên trong bối cảnh hiện tại. Cuối cùng, bạn cũng có thể tham khảo "Luận án tiến sĩ phát triển đội ngũ cán bộ quản lý đào tạo ở các trường đại học trong quân đội theo tiếp cận năng lực" để hiểu rõ hơn về sự phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trong giáo dục quân đội. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này.