Chương 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU LIEN QUAN DEN DE TÀI LUẬN ÁN Cung voi su phat triển của đất nước, trong những năm qua, vấn đề CSXH, đổi mới CSXH đối với các nhóm lao động xã hội, những ngành nghề mang tính đặc thù, đặc biệt là đổi mới CSXH đối với đội ngũ trí thức trong đó có đội ngũ giảng viên bậc đại học nhằm tạo động lực phát triển KH&CN, GD&DT được Đảng, Nhà nước hết sức quan tâm; đồng thời, nó cũng thu hút nhiều cơ quan trong và ngoài quân đội, các nhà khoa học nghiên cứu vấn đề này. Thời gian gần đây đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về CSXH; các vấn đề liên quan đến sự phát triển của đội ngũ cán bộ, giảng viên trong các nhà trường QDNDVN cũng như của đất nước. Nhóm công trình nước ngoài nghiên cứu về chính sách xã hội và chính sách xã hội trong quân đội - GS,TSKH.Bulannov (2003), "bản chất, nội dung và mục đích của chính sách xã hội" NXB Ezamen (ID số 05518ot01. Tác giả công trình quan niệm, xã hội bao gồm các nhóm xã hội (số đông nhất trong giai cấp của họ).
Mỗi nhóm như vậy có sự thật của riêng mình, có hình dung thế nào là tốt, là xấu trong trật tự hiện hữu, cũng như cách thay đổi trật tự đó như thé nào. Có nghĩa là trong các nhóm xã hội có lợi ích khác nhau, đôi khi giống nhau điều gì đó, nhưng đôi khi không thê dung hòa, thậm chí thỏa hiệp. Toàn bộ các nhóm xã hội đó là cấu trúc của xã hội. Chính sách xã hội là quan hệ tương hỗ giữa các nhóm xã hội với lý do gìn giữ và thay đổi vị thế xã hội của nhân dân nói chung và các giai cấp, tầng lớp, xã hội, các nhóm dân số xã hội, các nhóm chuyên môn xã hội, các cộng đồng xã hội (các gia đình, dân tộc, nhân dân các thành phó, làng mạc, vùng.
Chức năng của chính sách xã hội: một là, đảm bảo sự ồn định xã hội, an sinh xã hội của xã hội; hai là, đảm bảo sự vững chắc của chính quyền; ba là, đảm bảo phân phối quyền lực trong nền kinh tế (sở hữu), làm sao dé đa số công nhận sự công bằng dé không xuất hiện các cuộc dau tranh vượt khỏi vòng kiểm soát; bốn là, thành lập hệ thống phân phối các dự trữ và hiệu quả kinh tế đáp ứng yêu cầu số đông dân cư; năm là, đảm bảo môi trường ở mức cần thiết và đầy đủ cho xã hội và nhà nước; sáu là, bảo đảm cuộc sống cho xã hội ở mức cần thiết và đầy đủ cho dân chúng nói chung, cho các nhóm xã hội nói riêng. Kibakin (2011), "Nghiên cứu chất lượng cuộc sống của cán bộ giảng day của các cơ sở giáo duc quân sự trong quân đội Nga", Luận an Tiến sĩ, Học viện Quân sự Frunze, Liên bang Nga. Luận án nêu lên vai trò của nâng cao chất lượng cuộc sống cho cán bộ giảng dạy trong các cơ sở giáo dục quân sự quân đội Nga, là nhằm b6 sung hiệu quả cho những giá trị cơ bản khác nhau như: tận tụy với nhiệm vụ, trung thành, sẵn sàng tuân thủ trình tự, sẵn sàng hi sinh. Những giá trị ấy chỉ có được khi những cán bộ giảng dạy trong nhà trường quân sự được tôn vinh và đảm bảo chất lượng trong cuộc sống.
So sánh có liên quan đến chất lượng cuộc sống của giáo viên với nhóm xã hội tương tự, như của giáo viên các trường dân sự. Ngược lại, với công việc, dịch vụ lại không có thời gian và cũng không có cơ hội hợp pháp cho thêm (trong dịch vụ) cải thiện hạnh phúc: một giảng viên quân sự không thé (và không nên) kết hop công việc chuyên môn, công việc giảng dạy - để kinh doanh. Chất lượng cuộc sống của giáo viên trong các trường quân sự luôn phụ thuộc vào tình trạng vật chat, tinh thần của đơn vị và quyền lực của nhà nước. Chính vì vậy, khi tính toán chất lượng cuộc sống của cán bộ giảng dạy không chỉ đơn thuần là đảm bảo bằng tiên thù lao và các vật chất đảm bảo khác, mà phải đảm bảo bằng những đặc điểm của các giá trị tham chiếu trong mối quan hệ khác nhau đối với các nhóm xã hội tương đồng và các nhà hoạt động kinh tế.
- Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nga Nikolai Pankov (2007), "Triển vọng cho an sinh xã hội của người phục vụ trong quân đội Nga". Luật liên bang, 24 tháng 6 năm 2007 Ne 198 - FZ, Maxcơva. Theo Trung tâm Nghiên cứu Công luận All-Nga, 40% người Nga được hỏi thừa nhận rằng gia đình quân nhân hiện đang sống trong 10 nghèo đói, dưới mức trung bình quốc gia, gần 60% người Nga tin rằng tình hình kinh tế - xã hội của các quân nhân cao hơn mức trung bình toàn quốc. Phân tích các dữ liệu giám sát cho phép xác định các hướng chính của chính sách xã hội quân sự đòi hỏi phải cải thiện các văn bản pháp lý: cải cách tiền lương các quân nhân; giải quyết vấn đề nhà ở các quân nhân và người dân thải ra từ các dịch vụ quân sự; cải thiện hệ thống lương hưu công dân thải ra từ các dịch vụ quân sự, và các gia đình của các nạn nhân (chết) chiến sĩ; cải thiện y té va diéu dưỡng cho quân nhân, công dân thải ra từ các dịch vụ quân sự, và gia đình của họ; tính hiệu quả của bảo trợ xã hội và phục hồi chức năng của các chiến binh, các gia đình các quân nhân đã chết; tạo ra các cơ chế hiệu quả dé khuyén khich viéc lam cua nhân lực cua lực lượng vũ trang; thích ứng với xã hội, dao tao và tìm việc lam của người thải ra từ các dịch vụ quân sự.
- Cơ quan nghiên cứu Ủy ban Cố vấn Ban Chính sách Quốc phòng Mỹ (2011), "Chinese military officers' wages steadily rising" (Lương sĩ quan Trung Quốc quân sự gia tăng đều đặn), Tân hoa xã, Bắc Kinh, Trung Quốc. Thông tin phản ánh, lương sĩ quan quân sự Trung Quốc đã tăng đều qua các năm qua. Một cuộc khảo sát của các sĩ quan quân đội đã cho thấy rằng vào cuối năm 2010, thu nhập bình quân hàng tháng đối với cán bộ quân sự là 5,373.14 nhân dân tệ (khoảng $ 826), cao hơn so với mức lương trung bình của năm 2005 là 2,61 lần. Trong khi đó, thu nhập bình quân đầu người cho các gia đình của các sĩ quan quân đội đạt 2,637.62 nhân dân tệ, cao hơn so với con số tương tự từ năm 2005 là 2,41 lần.
Các khảo sát cho thấy lương sĩ quan đang leo ở mức nhanh nhất kê từ khi thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa vào năm 1949. Đồng thời, báo cáo cho biết, cuộc khảo sát, trong đó lấy mẫu 10.000 sĩ quan quân đội, cho thấy điều kiện sống cho cán bộ quân sự cũng được cải thiện đáng kể, mặc dù vợ chồng và con cái của họ vẫn đang gặp rắc rối với việc làm và giáo dục. Tương ứng, theo báo cáo của các quan chức quân sự đã cam kết sẽ tiếp tục cải thiện phúc lợi nhân viên quân sự trong năm năm tiép theo. 11 - Fiona Tam (2012), Mid-ranking officers get dramatic pay increase (Tăng lương cho sĩ quan phục vụ trong quân đội) http://www.it/news-en/Pay- raise-of-50-for-Chinese-soldiers-14809.
Thông tin cho thấy, thu nhập trung bình hàng tháng cho cấp trung sĩ Quân đội Giải phóng Nhân dân đã tăng đến 5.373 nhân dân tệ (HK $ 6413), gấp 2,6 lần so với số tiền mà họ đã giành được 5 năm trước đây, theo một cuộc khảo sát được tiễn hành bởi trụ sở của PLA. Thu nhập bình quân hàng tháng của gia đình trong số 10.000 nhân viên phỏng vấn, xếp hạng từ chỉ huy đến trung úy, đã có 37% số cán bộ đã mua nhà riêng của họ, và gần 43% đã có tài khoản tiết kiệm. Khoảng 17% sở hữu xe ô tô riêng của họ, và 85% có máy tính. Cán bộ ở các tỉnh phía Nam thu nhập nhiều hơn so với những người ở phía Tây.
Cuộc điều tra cho thấy một nửa của các quan chức quân đội từ những đơn vị ở Quảng Châu có xe ô tô riêng cao hơn nhiều so với mức thu nhập trung bình. Các gia đình quân nhân đã đề dành trung bình 2.703 nhân dân tệ mỗi người một tháng, 60 phần trăm còn lại dùng dé mua thực phâm và các chi phí hàng ngày. Các nhà chức trách cho rang sự tăng trưởng thu nhập dé kết nói giữa hệ thống lương quân sự với hệ thống lương đối với công chức, là cao hơn nhiều so với thu nhập người dân trung bình. Nhóm công trình nghiên cứu trong nước về chính sách xã hội và chính sách xã hội đối với trí thức trong các trường đại học Việt Nam Từ sau những năm đổi mới, cùng với những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế của đất nước, theo cơ chế thị trường định hướng XHCN thì các van đề xã hội được đặt ra một cách cấp thiết.
Có nhiều công trình đề cập đến khái niệm, vị trí, nội dung của CSXH và CSXH đối với đội ngũ giảng viên bậc đại học. Sau đây tác giả thong kê một số công trình tiêu biểu đó là: - Lê Đăng Doanh và Nguyễn Minh Tú (1999): "Khung chính sách xã hội trong quá trình chuyển đổi sang nên kinh tế thị trường" NXB Thông kê, Hà Nội. Theo nhóm tác giả, nội dung CSXH của Việt Nam được thé hién theo linh vuc sau: Lĩnh vực 1: Các lĩnh vực CSXH xác định theo chi ngân sách nha nước bao gồm: Lĩnh vực xã hội: GD&DT; y tế - bảo vệ sức khỏe; dân số kế hoạch hóa gia 12 đình; bảo vệ, chăm sóc trẻ em; địch vụ xã hội cơ bản: giáo dục cơ bản; chăm sóc sức khỏe ban đầu; sức khỏe môi trường; dinh dưỡng; sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình. Lĩnh vực 2: Các lĩnh vực CSXH xác định theo đối tượng bao gốm: Chính sách đối với phụ nữ; chính sách đối với trẻ em; chính sách đối với thanh niên; chính sách đối với dân tộc ít người; chính sách đối với người già; chính sách đối với người tàn tật; chính sách đối với người sống trong vùng gặp thiên tai; chính sách đối với thương, bệnh binh và nạn nhân chiến tranh; chính sách đối với người lao động.
Lĩnh vực 3: Các lĩnh vực CSXH xác định theo phạm vì tác động bao gom: Chính sách giáo dục va đào tạo; chính sách y tế; chính sách bảo hộ người lao động: hệ thống bảo hiểm xã hội bao gồm: (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bồi thường tai nạn lao động, trợ cấp thôi việc.