Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu về năng lực 1. Hướng nghiên cứu về bản chất, các thành tố tâm lý tạo thành năng lực Năng lực là một trong những vấn đề được nhiều nhà tâm lý học quan tâm và tập trung nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực và có những cách tiếp cận khác nhau. Tiêu biểu có thể kể đến những công trình nghiên cứu sau: Cách tiếp cận thứ nhất, coi năng lực là tổng hợp những thuộc tính tâm lý độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm bảo đảm cho việc hoàn thành có kết quả trong lĩnh vực hoạt động.
Tiêu biểu có một số tác giả như A. Laytex [63]; Phạm Minh Hạc [46], Lê Thị Bừng [16]… Cách tiếp cận thứ hai, coi năng lực là tổ hợp của những phấm chất tâm lý của cá nhân nhằm hoàn thành một hoạt động nào đó. Một số tác giả tiêu biểu trong cách tiếp cận này như: P. Kết quả nghiên cứu của các tác giả trên đã tạo ra những cơ sở lý luận khoa học cho việc nghiên cứu về năng lực trong tâm lý học.
Cách tiếp cận thứ ba, coi năng lực là tổ hợp của các thành tố tâm lý kiến thức, thái độ và kỹ năng được vận dụng phù hợp, có hiệu quả đối với những hoạt động nhất định. Các công trình nghiên cứu theo cách tiếp cận này đã được thực hiện cả về cơ sở lý luận và thực tiễn, được đo đạc, lượng hóa và đưa ra các biện pháp phát triển năng lực có tính khả thi. Trong phạm vi luận án, chúng tôi dựa vào cách tiếp cận này để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu. Tiêu biểu theo cách tiếp cận này có một số tác giả như sau: 18 Tác giả R.
Xavier (1996) trong tác phẩm: “Khoa sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển năng lực ở nhà trường” [108] khi nghiên cứu về những vấn đề phát triển năng lực cho đội ngũ giáo viên ở các nhà trường đã cho rằng, năng lực là việc biết sử dụng các thành tố gồm kiến thức và kỹ năng trong một tình huống có nghĩa. Gardner (1999) [117] cho rằng, những kết quả của hoạt động có thể đánh giá, đo đạc được năng lực của con người. Cùng với ý nghĩa đó, E. Weiner (2001) [132] đưa ra quan điểm, năng lực của con người được tạo thành ở các thành tố tâm lý gồm: kỹ năng, kỹ xảo (có được từ học tập hoặc có sẵn) được cá nhân tích lũy khi giải quyết có hiệu quả ở một tình huống xác định, sau đó vận dụng một cách linh hoạt để giải quyết những tình huống khác nhau.
Joe - Tư vấn của Cơ quan phát triển quốc tế Canada (1998), trong bài “Phát triển năng lực - Tại sao, phát triển cái gì và phát triển như thế nào” [115, tr.2], khi tiếp cận năng lực được hiểu là những thành tố tâm lý gồm: kỹ năng, sự hiểu biết, thái độ, các giá trị, các mối quan hệ, hành vi, động lực, nguồn lực và điều kiện cho phép cá nhân, tổ chức, ngành nghề và hệ thống xã hội rộng lớn hơn để thực hiện các chức trách và đạt mục tiêu phát triển của họ theo thời gian. Tác giả Phạm Minh Hạc (1992), trong tác phẩm “Một số vấn đề Tâm lý học” [45, tr. 146] đã đưa ra quan niệm: Năng lực là các đặc điểm tâm lý cá biệt tạo thành điều kiện quy định tốc độ, chiều sâu, cường độ của việc tác động vào đối tượng. Nguyễn Ngọc Bích (1998), trong tác phẩm Tâm lý học nhân cách - Một số vấn đề lý luận [7] khẳng định khi nói đến năng lực là nói đến khả năng đạt được kết quả trong một hoạt động nhất định.
Trong tác phẩm của mình, tác giả còn đưa ra cách phân loại và chỉ ra mức độ biểu hiện của năng lực. Bùi Thị Hường (2007) trong bài viết của mình về “Kích thích năng lực tư duy của người học” [54] đã cho rằng năng lực của người học được tạo nên từ các 19 thành tố như: khát vọng, ý chí vươn lên và sử dụng những kiến thức đã học được để giải quyết các yêu cầu của thực tiến đạt đạt kết quả tốt nhất. Trong các nhà trường quân đội, các tác giả như Đặng Duy Thái (2017) trong nghiên cứu về Năng lực hiểu học viên trong dạy học của giảng viên đại học quân sự [88], Nguyễn Văn Kiên (2018) trong luận án tiến sĩ về Năng lực thuyết phục của Chính trị viên Quân đội nhân dân Việt Nam [59], Phạm Văn Duy (2020) trong công trình nghiên cứu về Năng lực chỉ huy của cán bộ cấp phân đội ở Binh chủng Công binh [30] nghiên cứu năng lực dựa trên các thành tố tâm lý và biểu hiện của tổ hợp các thành tố tâm lý tạo thành năng lực gồm: kiến thức, thái độ và kỹ năng phù hợp với lĩnh vực hoạt động mà chủ thể đang thực hiện trên cơ sở chức trách, nhiệm vụ được giao. Các tác giả đã nghiên cứu năng lực gắn với những hoạt động cụ thể và tiến hành đo đạc, thực nghiệm và đánh giá khách quan đem đến những kết quả tốt góp phần vào phát triển năng lực cho người cán bộ, sĩ quan quân đội.
Đây là cơ sở để nghiên cứu sinh tiếp thu, kế thừa xây dựng những thành tố tâm lý tạo thành, các tiêu chí đánh giá về năng lực giao tiếp của cán bộ quản lý học viên ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay. Tóm lại, các nhà tâm lý học ở nước ngoài và trong nước đã tiến hành nghiên cứu về vấn đề năng lực trên nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau và cho rằng năng lực là mặt tài năng trong cấu trúc nhân cách của con người và gắn với một hoạt động nhất định. Năng lực là tổ hợp thành tố tâm lý gồm: kiến thức, những kỹ năng đã được tích lũy vào giải quyết phù hợp với yêu cầu của những hoạt động nhất định với thái độ tương ứng. Như vậy, các công trình nghiên cứu trên đây đã nghiên cứu một cách toàn diện các thành tố tâm lý tạo thành năng lực.
Hướng nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực Năng lực của con người được hình thành trong hoạt động và biểu hiện thông qua hoạt động. Vì vậy, sự hình thành và phát triển năng lực của con 20 người luôn chịu sự tác động của nhiều yếu tố. Khi đề cập đến vấn đề này, trong từng nghiên cứu của mình, các nhà khoa học đã tìm hiểu sự ảnh hưởng của các yếu tố liên quan đến năng lực trên từng lĩnh vực hoạt động. Tiêu biểu có một số tác giả như sau: Khi nghiên cứu về những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành và phát triển năng lực chung của con người, A.
Leonchiev (1989) [2] đã cho rằng năng lực luôn chịu sự chi phối của các yếu tố gồm: Yếu tố sinh học, yếu tố hoạt động của cá nhân, yếu tố về điều kiện xã hội lịch sử và yếu tố về giáo dục. Trong đó, mỗi yếu tố này giữ một vị trí, vai trò trong sự hình thành, phát triển của năng lực. Yếu tố sinh học (bẩm sinh) là điều kiện tiền đề vật chất, yếu tố hoạt động giữ vai trò quyết định, yếu tố điều kiện xã hội, lịch sử có vai trò quan trọng và giáo dục là yếu tố quyết định trực tiếp đến sự hình thành và phát triển của năng lực. Tiếp cận theo hướng này, ở Việt Nam, một số nhà tâm lý học như Phạm Minh Hạc (2002) [46], Nguyễn Quang Uẩn (2011) [104] đã thống nhất nghiên cứu sự hình thành phát triển năng lực dựa trên sự chi phối của 4 yếu tố nói trên.
Trong lĩnh vực hoạt động quân sự, một số tác giả đã chỉ rõ những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực chỉ huy, quản lý của người sĩ quan quân đội. Tiêu biểu như: E. Xulimop (1980), Sự lãnh đạo khoa học các lực lượng vũ trang Xô Viết [111], trên cơ sở nghiên cứu về cấu trúc của hoạt động chỉ huy đã xác định 3 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến năng lực chỉ huy quân sự gồm: Nhóm yếu tố thuộc về bản thân người chỉ huy, nhóm yếu tố thuộc về điều kiện, phương tiện chỉ huy và nhóm yếu tố thuộc về cấp dưới. Như vậy, trong nghiên cứu này đã đề cập toàn diện sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố tác động đến năng lực của người chỉ huy.
Sramtrenco (1983), Những vấn đề tâm lý học trong chỉ huy bộ đội [85], khi nghiên cứu về các yếu tố tâm lý trong các khâu của hoạt động chỉ huy bộ đội cũng đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của 21 hoạt động chỉ huy và năng lực chỉ huy của người cán bộ gồm: Trình độ, uy tín của người cán bộ, môi trường của tập thể quân nhân, tính kỷ luật của đơn vị và sự biến động của tình huống chiến đấu. Tóm lại, các công trình nghiên cứu trên đây đã cho thấy, sự hình thành và phát triển năng lực của mỗi người luôn chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau. Trong đó có các yếu tố thuộc về chủ thể hoạt động như điều kiện bẩm sinh, trình độ, uy tín, hoạt động tích cực của cá nhân; các yếu tố thuộc về môi trường như điều kiện xã hội, lịch sử, giáo dục; các yếu tố thuộc về đối tượng tác động trong hoạt động như tính kỷ luật của tập thể … Đây là những cơ sở lý luận quan trọng để nghiên cứu sinh nghiên cứu, kế thừa và phát triển phù hợp với nhiệm vụ nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực giao tiếp của cán bộ quản lý học viên ở các học viện trường sĩ quan quân đội hiện nay. Hướng nghiên cứu về con đường, biện pháp phát triển năng lực Năng lực của con người được hình thành và phát triển thông qua hoạt động.
Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc UNDP khi nghiên cứu về năng lực gồm có năng lực cá nhân và về năng lực xã hội đã chỉ ra: “Phát triển năng lực là quá trình mà thông qua đó, các năng lực của con người được hình thành, được tăng cường, thích nghi và duy trì theo thời gian” [105, tr. Vì vậy, để phát triển năng lực đòi hỏi chủ thể hoạt động cần có những con đường biện pháp rèn luyện phù hợp mới. Ủy ban Chuyên gia về Hành Chính công - Liên hợp Quốc (2006) trong bài viết về “Định nghĩa các khái niệm và thuật ngữ cơ bản quản trị và hành chính công” [105, tr.