Năng lực giao tiếp của cán bộ quản lý học viên ở các học viện trường sĩ quan quân đội hiện nay

Tài liệu chuyên sâu Năng lực giao tiếp của cán bộ quản lý học viên tại các ..., phân tích đa chiều, cung cấp kiến thức nền tảng vững chắc cho chuyên

Trường đại học

Học viện sĩ quan quân đội

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2023

261
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Các công trình nghiên cứu về năng lực

1.2. Các công trình nghiên cứu về năng lực giao tiếp

1.3. Giá trị của các công trình khoa học đã tổng quan và những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC GIAO TIẾP CỦA CÁN BỘ QUẢN LÝ HỌC VIÊN Ở CÁC HỌC VIỆN, TRƯỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI

2.1. Các khái niệm cơ bản

2.2. Đặc điểm hoạt động giao tiếp của cán bộ quản lý học viên ở các học viện, trường sĩ quan quân đội

2.3. Các thành tố tâm lý tạo thành và tiêu chí đánh giá năng lực giao tiếp của cán bộ quản lý học viên ở các học viện, trường sĩ quan quân đội

2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực giao tiếp của cán bộ quản lý học viên ở các học viện, trường sĩ quan quân đội

3. CHƯƠNG 3: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Tổ chức nghiên cứu

3.2. Phương pháp nghiên cứu

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG NĂNG LỰC GIAO TIẾP CỦA CÁN BỘ QUẢN LÝ HỌC VIÊN Ở CÁC HỌC VIỆN, TRƯỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

4.1. Thực trạng năng lực giao tiếp của cán bộ quản lý học viên ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay

4.2. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực giao tiếp của cán bộ quản lý học viên ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay

4.3. Biện pháp tâm lý - xã hội phát triển năng lực giao tiếp cho cán bộ quản lý học viên ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay

4.4. Phân tích kết quả thực nghiệm

MỞ ĐẦU

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

PHỤ LỤC

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Tóm tắt

I. Tổng quan về năng lực giao tiếp

Năng lực giao tiếp của cán bộ quản lý học viên tại các học viện sĩ quan quân đội là một yếu tố quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý và giáo dục. Năng lực giao tiếp không chỉ bao gồm kiến thức mà còn cả thái độ và kỹ năng giao tiếp. Theo các nghiên cứu, giao tiếp hiệu quả giúp cán bộ quản lý truyền đạt thông điệp rõ ràng, tạo động lực cho học viên và xây dựng mối quan hệ tốt đẹp. Việc phát triển năng lực giao tiếp cần được chú trọng, đặc biệt trong môi trường quân đội, nơi mà sự chính xác và kịp thời trong giao tiếp là rất quan trọng. Các cán bộ quản lý cần có khả năng lắng nghe, thấu hiểu và phản hồi một cách phù hợp để tạo ra môi trường học tập tích cực.

1.1. Đặc điểm hoạt động giao tiếp

Hoạt động giao tiếp của cán bộ quản lý học viên ở các học viện sĩ quan quân đội có những đặc điểm riêng biệt. Giao tiếp trong quân đội thường mang tính chất chính thức và nghiêm túc, yêu cầu sự rõ ràng và chính xác trong từng thông điệp. Cán bộ quản lý không chỉ cần truyền đạt thông tin mà còn phải tạo ra sự tin tưởng và động lực cho học viên. Việc sử dụng các phương pháp giao tiếp phù hợp, như kỹ năng giao tiếp và thái độ tích cực, sẽ giúp cán bộ quản lý đạt được hiệu quả cao trong công việc. Hơn nữa, việc hiểu rõ tâm lý học viên và áp dụng các biện pháp tâm lý - xã hội trong giao tiếp cũng là yếu tố quyết định đến thành công trong quản lý học viên.

II. Các thành tố tâm lý trong năng lực giao tiếp

Năng lực giao tiếp của cán bộ quản lý học viên được hình thành từ nhiều thành tố tâm lý khác nhau. Các thành tố này bao gồm kiến thức giao tiếp, thái độ giao tiếp và kỹ năng giao tiếp. Đánh giá năng lực giao tiếp không chỉ dựa vào một yếu tố mà cần xem xét tổng thể các thành tố này. Nghiên cứu cho thấy rằng, trong số các thành tố, kỹ năng giao tiếp thường là yếu tố yếu nhất, điều này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả giao tiếp. Cán bộ quản lý cần được đào tạo và rèn luyện để nâng cao năng lực lãnh đạophát triển kỹ năng giao tiếp, từ đó cải thiện mối quan hệ với học viên và nâng cao chất lượng giáo dục.

2.1. Kiến thức giao tiếp

Kiến thức giao tiếp là nền tảng quan trọng trong việc xây dựng năng lực giao tiếp. Cán bộ quản lý cần nắm vững các nguyên tắc giao tiếp, hiểu rõ về các phương thức và kênh truyền tải thông tin. Việc trang bị kiến thức này không chỉ giúp cán bộ quản lý tự tin hơn trong giao tiếp mà còn giúp họ nhận diện và xử lý các tình huống giao tiếp phức tạp. Hơn nữa, kiến thức về tâm lý học cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu và tương tác với học viên, từ đó tạo ra môi trường học tập tích cực và hiệu quả.

III. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực giao tiếp

Năng lực giao tiếp của cán bộ quản lý học viên chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau. Trong đó, uy tín của cán bộ quản lý là yếu tố có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất. Quản lý nhân sự hiệu quả đòi hỏi cán bộ quản lý phải xây dựng được hình ảnh tích cực và đáng tin cậy trong mắt học viên. Ngoài ra, môi trường làm việc, sự hỗ trợ từ cấp trên và các chương trình đào tạo cũng có tác động lớn đến năng lực giao tiếp. Việc nhận diện và cải thiện các yếu tố này sẽ giúp nâng cao hiệu quả giao tiếp và quản lý học viên.

3.1. Môi trường làm việc

Môi trường làm việc có ảnh hưởng lớn đến năng lực giao tiếp của cán bộ quản lý. Một môi trường tích cực, hỗ trợ sẽ khuyến khích cán bộ quản lý giao tiếp cởi mở và hiệu quả hơn. Ngược lại, môi trường căng thẳng, thiếu sự hỗ trợ có thể dẫn đến sự e ngại trong giao tiếp, ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa cán bộ quản lý và học viên. Do đó, việc tạo ra một môi trường làm việc thân thiện, khuyến khích giao tiếp là rất cần thiết để nâng cao năng lực giao tiếp của cán bộ quản lý học viên.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

07/02/2025
Luận án tiến sĩ năng lực giao tiếp của cán bộ quản lý học viên ở các học viện trường sĩ quan quân đội hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu về năng lực 1. Hướng nghiên cứu về bản chất, các thành tố tâm lý tạo thành năng lực Năng lực là một trong những vấn đề được nhiều nhà tâm lý học quan tâm và tập trung nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực và có những cách tiếp cận khác nhau. Tiêu biểu có thể kể đến những công trình nghiên cứu sau: Cách tiếp cận thứ nhất, coi năng lực là tổng hợp những thuộc tính tâm lý độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm bảo đảm cho việc hoàn thành có kết quả trong lĩnh vực hoạt động.

Tiêu biểu có một số tác giả như A. Laytex [63]; Phạm Minh Hạc [46], Lê Thị Bừng [16]… Cách tiếp cận thứ hai, coi năng lực là tổ hợp của những phấm chất tâm lý của cá nhân nhằm hoàn thành một hoạt động nào đó. Một số tác giả tiêu biểu trong cách tiếp cận này như: P. Kết quả nghiên cứu của các tác giả trên đã tạo ra những cơ sở lý luận khoa học cho việc nghiên cứu về năng lực trong tâm lý học.

Cách tiếp cận thứ ba, coi năng lực là tổ hợp của các thành tố tâm lý kiến thức, thái độ và kỹ năng được vận dụng phù hợp, có hiệu quả đối với những hoạt động nhất định. Các công trình nghiên cứu theo cách tiếp cận này đã được thực hiện cả về cơ sở lý luận và thực tiễn, được đo đạc, lượng hóa và đưa ra các biện pháp phát triển năng lực có tính khả thi. Trong phạm vi luận án, chúng tôi dựa vào cách tiếp cận này để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu. Tiêu biểu theo cách tiếp cận này có một số tác giả như sau: 18 Tác giả R.

Xavier (1996) trong tác phẩm: “Khoa sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển năng lực ở nhà trường” [108] khi nghiên cứu về những vấn đề phát triển năng lực cho đội ngũ giáo viên ở các nhà trường đã cho rằng, năng lực là việc biết sử dụng các thành tố gồm kiến thức và kỹ năng trong một tình huống có nghĩa. Gardner (1999) [117] cho rằng, những kết quả của hoạt động có thể đánh giá, đo đạc được năng lực của con người. Cùng với ý nghĩa đó, E. Weiner (2001) [132] đưa ra quan điểm, năng lực của con người được tạo thành ở các thành tố tâm lý gồm: kỹ năng, kỹ xảo (có được từ học tập hoặc có sẵn) được cá nhân tích lũy khi giải quyết có hiệu quả ở một tình huống xác định, sau đó vận dụng một cách linh hoạt để giải quyết những tình huống khác nhau.

Joe - Tư vấn của Cơ quan phát triển quốc tế Canada (1998), trong bài “Phát triển năng lực - Tại sao, phát triển cái gì và phát triển như thế nào” [115, tr.2], khi tiếp cận năng lực được hiểu là những thành tố tâm lý gồm: kỹ năng, sự hiểu biết, thái độ, các giá trị, các mối quan hệ, hành vi, động lực, nguồn lực và điều kiện cho phép cá nhân, tổ chức, ngành nghề và hệ thống xã hội rộng lớn hơn để thực hiện các chức trách và đạt mục tiêu phát triển của họ theo thời gian. Tác giả Phạm Minh Hạc (1992), trong tác phẩm “Một số vấn đề Tâm lý học” [45, tr. 146] đã đưa ra quan niệm: Năng lực là các đặc điểm tâm lý cá biệt tạo thành điều kiện quy định tốc độ, chiều sâu, cường độ của việc tác động vào đối tượng. Nguyễn Ngọc Bích (1998), trong tác phẩm Tâm lý học nhân cách - Một số vấn đề lý luận [7] khẳng định khi nói đến năng lực là nói đến khả năng đạt được kết quả trong một hoạt động nhất định.

Trong tác phẩm của mình, tác giả còn đưa ra cách phân loại và chỉ ra mức độ biểu hiện của năng lực. Bùi Thị Hường (2007) trong bài viết của mình về “Kích thích năng lực tư duy của người học” [54] đã cho rằng năng lực của người học được tạo nên từ các 19 thành tố như: khát vọng, ý chí vươn lên và sử dụng những kiến thức đã học được để giải quyết các yêu cầu của thực tiến đạt đạt kết quả tốt nhất. Trong các nhà trường quân đội, các tác giả như Đặng Duy Thái (2017) trong nghiên cứu về Năng lực hiểu học viên trong dạy học của giảng viên đại học quân sự [88], Nguyễn Văn Kiên (2018) trong luận án tiến sĩ về Năng lực thuyết phục của Chính trị viên Quân đội nhân dân Việt Nam [59], Phạm Văn Duy (2020) trong công trình nghiên cứu về Năng lực chỉ huy của cán bộ cấp phân đội ở Binh chủng Công binh [30] nghiên cứu năng lực dựa trên các thành tố tâm lý và biểu hiện của tổ hợp các thành tố tâm lý tạo thành năng lực gồm: kiến thức, thái độ và kỹ năng phù hợp với lĩnh vực hoạt động mà chủ thể đang thực hiện trên cơ sở chức trách, nhiệm vụ được giao. Các tác giả đã nghiên cứu năng lực gắn với những hoạt động cụ thể và tiến hành đo đạc, thực nghiệm và đánh giá khách quan đem đến những kết quả tốt góp phần vào phát triển năng lực cho người cán bộ, sĩ quan quân đội.

Đây là cơ sở để nghiên cứu sinh tiếp thu, kế thừa xây dựng những thành tố tâm lý tạo thành, các tiêu chí đánh giá về năng lực giao tiếp của cán bộ quản lý học viên ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay. Tóm lại, các nhà tâm lý học ở nước ngoài và trong nước đã tiến hành nghiên cứu về vấn đề năng lực trên nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau và cho rằng năng lực là mặt tài năng trong cấu trúc nhân cách của con người và gắn với một hoạt động nhất định. Năng lực là tổ hợp thành tố tâm lý gồm: kiến thức, những kỹ năng đã được tích lũy vào giải quyết phù hợp với yêu cầu của những hoạt động nhất định với thái độ tương ứng. Như vậy, các công trình nghiên cứu trên đây đã nghiên cứu một cách toàn diện các thành tố tâm lý tạo thành năng lực.

Hướng nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực Năng lực của con người được hình thành trong hoạt động và biểu hiện thông qua hoạt động. Vì vậy, sự hình thành và phát triển năng lực của con 20 người luôn chịu sự tác động của nhiều yếu tố. Khi đề cập đến vấn đề này, trong từng nghiên cứu của mình, các nhà khoa học đã tìm hiểu sự ảnh hưởng của các yếu tố liên quan đến năng lực trên từng lĩnh vực hoạt động. Tiêu biểu có một số tác giả như sau: Khi nghiên cứu về những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành và phát triển năng lực chung của con người, A.

Leonchiev (1989) [2] đã cho rằng năng lực luôn chịu sự chi phối của các yếu tố gồm: Yếu tố sinh học, yếu tố hoạt động của cá nhân, yếu tố về điều kiện xã hội lịch sử và yếu tố về giáo dục. Trong đó, mỗi yếu tố này giữ một vị trí, vai trò trong sự hình thành, phát triển của năng lực. Yếu tố sinh học (bẩm sinh) là điều kiện tiền đề vật chất, yếu tố hoạt động giữ vai trò quyết định, yếu tố điều kiện xã hội, lịch sử có vai trò quan trọng và giáo dục là yếu tố quyết định trực tiếp đến sự hình thành và phát triển của năng lực. Tiếp cận theo hướng này, ở Việt Nam, một số nhà tâm lý học như Phạm Minh Hạc (2002) [46], Nguyễn Quang Uẩn (2011) [104] đã thống nhất nghiên cứu sự hình thành phát triển năng lực dựa trên sự chi phối của 4 yếu tố nói trên.

Trong lĩnh vực hoạt động quân sự, một số tác giả đã chỉ rõ những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực chỉ huy, quản lý của người sĩ quan quân đội. Tiêu biểu như: E. Xulimop (1980), Sự lãnh đạo khoa học các lực lượng vũ trang Xô Viết [111], trên cơ sở nghiên cứu về cấu trúc của hoạt động chỉ huy đã xác định 3 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến năng lực chỉ huy quân sự gồm: Nhóm yếu tố thuộc về bản thân người chỉ huy, nhóm yếu tố thuộc về điều kiện, phương tiện chỉ huy và nhóm yếu tố thuộc về cấp dưới. Như vậy, trong nghiên cứu này đã đề cập toàn diện sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố tác động đến năng lực của người chỉ huy.

Sramtrenco (1983), Những vấn đề tâm lý học trong chỉ huy bộ đội [85], khi nghiên cứu về các yếu tố tâm lý trong các khâu của hoạt động chỉ huy bộ đội cũng đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của 21 hoạt động chỉ huy và năng lực chỉ huy của người cán bộ gồm: Trình độ, uy tín của người cán bộ, môi trường của tập thể quân nhân, tính kỷ luật của đơn vị và sự biến động của tình huống chiến đấu. Tóm lại, các công trình nghiên cứu trên đây đã cho thấy, sự hình thành và phát triển năng lực của mỗi người luôn chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau. Trong đó có các yếu tố thuộc về chủ thể hoạt động như điều kiện bẩm sinh, trình độ, uy tín, hoạt động tích cực của cá nhân; các yếu tố thuộc về môi trường như điều kiện xã hội, lịch sử, giáo dục; các yếu tố thuộc về đối tượng tác động trong hoạt động như tính kỷ luật của tập thể … Đây là những cơ sở lý luận quan trọng để nghiên cứu sinh nghiên cứu, kế thừa và phát triển phù hợp với nhiệm vụ nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực giao tiếp của cán bộ quản lý học viên ở các học viện trường sĩ quan quân đội hiện nay. Hướng nghiên cứu về con đường, biện pháp phát triển năng lực Năng lực của con người được hình thành và phát triển thông qua hoạt động.

Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc UNDP khi nghiên cứu về năng lực gồm có năng lực cá nhân và về năng lực xã hội đã chỉ ra: “Phát triển năng lực là quá trình mà thông qua đó, các năng lực của con người được hình thành, được tăng cường, thích nghi và duy trì theo thời gian” [105, tr. Vì vậy, để phát triển năng lực đòi hỏi chủ thể hoạt động cần có những con đường biện pháp rèn luyện phù hợp mới. Ủy ban Chuyên gia về Hành Chính công - Liên hợp Quốc (2006) trong bài viết về “Định nghĩa các khái niệm và thuật ngữ cơ bản quản trị và hành chính công” [105, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Năng lực giao tiếp của cán bộ quản lý học viên tại các học viện sĩ quan quân đội" tập trung vào vai trò quan trọng của khả năng giao tiếp trong công tác quản lý học viên tại các học viện quân đội. Tác giả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực giao tiếp của cán bộ quản lý, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giao tiếp, góp phần cải thiện chất lượng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong quân đội. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc nâng cao năng lực giao tiếp không chỉ giúp cán bộ quản lý thực hiện tốt nhiệm vụ của mình mà còn tạo ra môi trường học tập tích cực cho học viên.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận án tiến sĩ phát triển đội ngũ cán bộ quản lý đào tạo ở các trường đại học trong quân đội theo tiếp cận năng lực, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về phát triển năng lực quản lý trong môi trường quân đội. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ chất lượng đội ngũ giảng viên ở các học viện trực thuộc bộ quốc phòng quân đội nhân dân việt nam giai đoạn hiện nay cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về chất lượng giảng viên, một yếu tố quan trọng trong quá trình đào tạo. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ triết học đổi mới chính sách xã hội đối với đội ngũ giảng viên trong các nhà trường quân đội nhân dân việt nam hiện nay sẽ mang đến những quan điểm mới về chính sách xã hội ảnh hưởng đến đội ngũ giảng viên, từ đó tạo ra bối cảnh rộng hơn cho việc phát triển năng lực giao tiếp trong quản lý học viên.