CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHO GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG 1.1 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu về quản lý bồi dưỡng NVSP cho GV và những vấn đề liên quan đến đảm bảo chất lượng trong quản lý bồi dưỡng NVSP luôn nhận được sự quan tâm của những nhà chuyên môn nhằm mang lại niềm tin và sự hài lòng của người học. Đồng thời, góp phần cho sự phát triển bền vững của cơ sở đào tạo, bồi dưỡng. Khởi đầu nghiên cứu về quản lý chất lượng là Frededric W.Taylor (1856 - 1919), [92] được xem là “cha đẻ của những phương pháp quản trị khoa học”. Trong thời gian làm việc tại các xí nghiệp, ông đã chỉ ra các nhược điểm trong cách quản lý cũ như: Thuê mướn công nhân trên cơ sở ai đến trước mướn trước, không lưu ý đến khả năng và nghề nghiệp của công nhân; Công tác huấn luyện nhân viên hầu như không có hệ thống tổ chức học việc; Công việc làm theo thói quen, không có tiêu chuẩn và phương pháp.
Công nhân tự mình định đoạt tốc độ làm việc; Hầu hết các công việc và trách nhiệm đều được giao cho người công nhân; Nhà quản trị làm việc bên cạnh người thợ, quên mất chức năng chính là lập kế hoạch công việc. Tính chuyên nghiệp của nhà quản trị không được thừa nhận. Năm 1911 trong công trình “các nguyên tắc quản trị một cách khoa học (Principles of scientific management)” của W.Taylor đã xây dựng được các nguyên tắc trong tổ chức sản xuất giúp các doanh nghiệp nâng cao năng suất lao động, cụ thể như sau: (1) Chia nhỏ quá trình sản xuất thành các bước công việc, các thao tác, chuyển động và tiến hành loại bỏ các động tác, các chuyển động thừa (2) Xác định nhiệm vụ, định mức cụ thể và tiến hành luyện tập cho công nhân về phương pháp, thao tác hợp lý thông qua bấm giờ, chụp ảnh ngày làm việc. Công nhân không chỉ biết công việc mình đang làm mà phải biết làm sao cho tốt nhất (3) Tuyển chọn nhân viên có sức khỏe tốt nhất, có sức chịu đựng dẻo dai nhất và có khả năng phù hợp nhất đối với từng công việc (4) Giải phóng công nhân khỏi chức năng quản lý.
Chức năng này do bộ phận quản lý đảm nhận. Công nhân chỉ là người thực hiện các công việc và nhất thiết phải hoàn thành công việc trong phạm vi trách nhiệm 9 (5) Sử dụng triệt để ngày làm việc, bảo đảm cho nơi làm việc có các điều kiện cần thiết để thực hiện nhiệm vụ trên cơ sở các bảng chỉ dẫn công việc (6) Thực hiện chế độ trả lương có khuyến khích đối với công nhân hoàn thành nhiệm vụ. [92] Với các nguyên tắc trong quản trị khoa học Taylor đề xuất không chỉ giúp các doanh nghiệp nâng cao năng suất lao động mà còn là cơ sở gợi mở cho người nghiên cứu đề xuất các biện pháp trong luận án về quá trình quản lý công tác bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trường cao đẳng được hiệu quả. Khác với các nguyên tắc quản trị khoa học của Taylor, nhà quản lý tài ba Edwards W.
Deming (1900 - 1993), ông cho rằng trách nhiệm về chất lượng thuộc về hệ thống chiếm 94% trong khi trách nhiệm thuộc về người lao động chỉ chiếm 6%. Ngoài ra ông đã đề xuất nhiều phương pháp cho hệ thống quản lý hiệu quả bằng phương pháp thống kê, các công trình nghiên cứu của ông đã mang lại hiệu quả trong quá trình cải tiến chất lượng, giúp tổ chức giải quyết nhiều khó khăn. Trong đó, công trình nổi tiếng nhất của ông đó là vòng tròn chất lượng PDCA (Plan, Do, Check, Act). Vòng tròn chất lượng của Deming rất phổ biến và được tóm tắt nội dung, cụ thể như sau: Plan (Kế hoạch): Người quản trị xác định được mục tiêu và lập kế hoạch thực hiện được mục tiêu đã đề ra; Do (Thực hiện): Người quản trị tiến hành thực hiện kết hoạch đã được thiết lập; Check (Kiểm tra): Kiểm tra và đánh giá kết quả thực hiện các kế hoạch; Act: Dựa trên những kết quả kiểm tra và đánh giá.
Từ đó, nhà quản trị đề ra những biện pháp nhằm điều chỉnh phù hợp và giúp đạt được kết quả hay tiếp tục lại quy trình mới. Theo đó, Kaoru Ishikawa đã phát triển quy trình quản lý chất lượng dựa trên vòng tròn chất lượng của Edwards W.Deming, tác giả đã chia vòng tròn thành 6 khu vực ứng với 6 biện pháp quản lý chất lượng bao gồm như: (1) Xác định mục tiêu và nhiệm vụ; (2) Xác định cách đạt mục tiêu; (3) Đào tạo bồi dưỡng cán bộ; (4) Thực hiện công việc; (5) Kiểm tra thực hiện công việc; (6) Thực hiện các tác động quản lý phù hợp [89]. 10 Vòng tròn chất lượng PDCA chi tiết của Deming được trình bày trên sơ đồ 1.1 như sau: Tácđộng Xác định Kế hoạch ACT MT và NV PLAN Thực hiện các tác động QL phù hợp Xác định cách đạt MT và NV Kiểm tra kết Đào tạo quả thực cán bộ hiện công Kiểm tra việc Thực CHECK hiện Thực hiện công DO việc Sơ đồ 1.1: Vòng tròn Deming chi tiết Nguồn: Ishikawa, Kaoru (1985) [First published in Japanese 1981]. What is Total Quality Control ? The Janpanese Way [89] Lý thuyết vòng tròn chất lượng PDCA của Edwards W.
Deming và 6 biện pháp quản lý chất lượng của Kaoro Ishikawa là cơ sở khoa học giúp người nghiên cứu hiểu được tính hiệu quả trong công tác quản lý, để công tác quản lý có hiệu quả cần phải thực hiện theo quy trình cụ thể. Công trình nghiên cứu của Philip B.Crosby cho thấy hiệu quả trong quản lý chất lượng không chỉ thực hiện theo đúng quy trình mà còn phải chính xác ngay từ đầu. Ông được xem là người đi đầu trong quản lý chất lượng, công trình nổi tiếng là mô hình quản lý sự hoàn hảo dựa vào khái niệm về hệ thống không sai lỗi (Zero Defect). Khác với Vòng tròn chất lượng PDCA của Deming được thực hiện qua 4 bước (Plan, Do, Check, Act), Philip B.Crosby đã đề xuất sơ đồ quản lý chất lượng với 14 bước như: (1) Nhận thức và cam kết lãnh đạo; (2) thành lập nhóm cải tiến chất lượng; (3) Xác định các sai hỏng, khuyết tật chất lượng hiện có và tiềm tàng ở khâu nào; (4) Thực hiện việc đo lường các chi phí liên 11 quan đến chất lượng; (5) Nâng cao ý thức và trách nghiệm, mối quan tâm của mọi nhân viên đến chất lượng; (6) Thực hiện các hoạt động giải quyết những sai hỏng, khuyết tật đã phát hiện; (7) Lập ban phụ trách “chương trình không lỗi; (8) Đào tạo các kiểm soát viên kiểm soát chương trình cải tiến chất lượng; (9) Tổ chức “những ngày không sai hỏng” để nhân viên thấy là đã có sự thay đổi tích cực; (10) Khuyến khích mọi cá nhân tự đề ra các mục tiêu cải tiến chất lượng; (11) Khuyến khích mọi nhân viên thông báo cho nhà lãnh đạo cấp trên biết những trở ngại mà họ gặp phải trong quá trình thực hiện mục tiêu cải tiến chất lượng; (12) Công nhận và khích lệ những ai; (13) Tổ chức các hội đồng chất lượng; (14) Lập lại tất cả những bước trên để nhấn mạnh rằng chương trình cải tiến chất lượng không bao giờ chấm dứt.
Ngoài ra, Philip B.Crosby còn nhấn mạnh về vai trò quan trọng của việc “Thực hiện đúng ngay từ đầu” (DRFT – Do it Right the First Time) và để làm đúng ngay từ đầu nhằm không xảy ra tổn thất trong quá trình sản xuất cho doanh nghiệp, nhà quản lý cần phải chú trọng đến phòng ngừa là chính nhất. Để phòng ngừa hiệu quả, cần dựa trên 3 thành tố chính bao gồm: sự cam kết, giáo dục và thực hiện[93]. Với triết lý chất lượng của Philip B.Crosby đã giúp người nghiên cứu học tập và vận dụng vào quá trình nghiên cứu đề tài. Theo quan điểm của Edwards W.
Deming chất lượng sản phẩm kém là do hệ thống quản lý, trong khi Philip B.Crosby cho rằng vì công nhân, nhưng theo Armand V. Feigenbaum (1991) ông cho rằng chất lượng không chỉ là trách nhiệm của cán bộ kiểm tra mà còn là những người làm ra sản phẩm, người đứng máy, đội trưởng, khâu giao nhận hàng, cung ứng… Từ đó, ông phát triển 10 tiêu chuẩn về kiểm soát chất lượng vào năm 1990, bao gồm: (1) Chất lượng là một quá trình lâu dài của công ty; (2) Chất lượng là những gì mà khách hàng phản hồi; (3) Chất lượng và chi phí là như nhau; (4) Chất lượng là sự nhiệt tình cá nhân và tập thể; (5) Chất lượng là cách quản lý; (6) Chất lượng và đổi mới phụ thuộc lẫn nhau; (7) Chất lượng là đạo đức; (8) Chất lượng đòi hỏi phải cải tiến liên tục; (9) Chất lượng là hiệu quả về chi phí; (10) Chất lượng được thực hiện sự thống nhất giữa khách hàng và nhà cung cấp.[86] Để bảo đảm chất lượng quản lý bồi dưỡng NVSP hiệu quả, ngoài cán bộ kiểm tra chất lượng khóa bồi dưỡng còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố liên quan khác. Theo nghiên cứu của Robert.Birkenholz (1999) cho thấy, quá trình đào tạo bồi dưỡng hiệu quả ảnh hưởng bởi 7 yếu tố như: (1) Mục tiêu dạy học; (2) Nội dung bài học; (3) Cơ sơ vật chất; (4) Đặc điểm và nền tảng kiến thức của người học; (5) Nhu cầu tương tác giữa học viên, giữa giảng viên và học viên; (6) Quỹ thời gian cho công tác dạy và học; (7) Chính sách của tổ chức có 12 học viên tham dự vào quá trình học. Trong đó, tác giả đưa ra các phương pháp dạy học hiệu quả cho người học là những cán bộ, viên chức đã có kinh nghiệm theo từng mục tiêu học tập cụ thể nhằm thu hút người học và phát huy những kiến thức mà người học đã tích lũy trước đây, như: mục tiêu tích lũy kiến thức (sử dụng phương pháp thuyết trình, thảo luận nhóm, trực quan, thảo luận chuyên đề, nói chuyện với chuyên gia, đi thực tế); mục tiêu hiểu (thảo luận nhóm, quan sát thực nghiệm, giải quyết vấn đề, bài tập tình huống); mục tiêu học kỹ năng (quan sát thực nghiệm, làm bài thực hành, đóng vai, phương pháp mô phỏng, phương pháp giải bài có sự hỗ trợ của công nghệ máy tính); thay đổi điều chỉnh thái độ (thảo luận nhóm, tranh luận, đóng vai, bài tập tình huống, phương pháp mô phỏng, thuyết trình).
Kết quả nghiên cứu của Robert. Birkenholz giúp người nghiên cứu vận dụng để xây dựng công cụ đánh giá chất lượng công tác quán lý bồi dưỡng nghiệp vụ cho GV.