Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TIẾNG ANH DỰA TRÊN NĂNG LỰC TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ Trên Thế giới và ở trong nước đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực nói chung, nguồn nhân lực giáo dục trong đó có phát triển đội ngũ GVTA đã công bố dưới dạng: sách và sách chuyên khảo, đề tài nghiên cứu KH&CN, đề tài luận án tiến sĩ, bài báo khoa học được tổng quan dưới đây. Nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực giáo dục và phát triển đội ngũ giảng viên đại học - Ở nước ngoài, một số công trình khoa học như “Developing Human Resource” [87], “Corporate Human Resource Development” [88] và “Handbook of Human Development, Second Edition” [89] của cùng tác giả Leonard Nadler người Mỹ do Hiệp hội Mỹ về Đào tạo và Phát triển ấn hành năm 1980 do Nhà xuất bản (Nxb) Đại học Quốc gia Singapore ấn hành năm 1990; các công trình “Human Resource Management” của Gary Dessler đã xuất bản tại Ấn độ năm 1998 [78] và “Human Resource Management” của Battu EN.Raju xuất bản năm 2006 tại Ấn Độ [76] đều có nội dung nghiên cứu về quản lý nguồn nhân lực; trong đó đã chỉ ra các hoạt động chủ yếu về phát triển nguồn nhân lực là giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, tuyển chọn, sử dụng, đánh giá, tạo động lực cho người lao động. Mặt khác các tác giả của các công trình này đã khẳng định: một trong các mục tiêu và nhiệm vụ quản lý đội ngũ trong một tổ chức là phát triển năng lực cho người lao động để họ đảm vai trò và trách nhiệm của bản thân đối với vị trí việc làm.
+ Trong công trình “Educational Planning and Human Resource Development” của F. Harbison xuất bản năm 1993 [77] đã giới thiệu các kỹ năng 10 luan an lập kế hoạch giáo dục và phát triển nguồn nhân lực giáo dục ở tầm vĩ mô, chỉ ra một trong những yêu cầu của kế hoạch giáo dục là phát triển nguồn nhân lực giáo dục. + Công trình “Managing for people in Education” của Riches, C. (1997) [92] đã bàn đặc điểm của những người làm việc trong ngành giáo dục và cách thức phát triển toàn diện giảng viên và giáo viên để đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục.
+ Cuốn sách “Singapore School Excellence Model” của Học viện quốc gia Singapore ấn hành năm 2008 [90]; trong đó có chuyên đề “School’s Staff Development” đã chỉ ra tầm quan trọng của hoạt động hỗ trợ (Mentoring) cho đội ngũ giáo viên nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục. + Công trình “Teachers professional development - Europe in International Comparison” của tác giả Jaap Scheerens do Đại học Twent ấn hành năm 2010 [82] có bàn về xây dựng chuẩn nghề nghiệp nhà giáo và phương thức phát triển năng lực nghề nghiệp nhà giáo. - Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bằng vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa những các tư tưởng tinh hoa của nhân loại và với kinh nghiệm thực tiễn của mình trong lãnh đạo cách mạng dân tộc, dân chủ của nhân dân Việt Nam; đã chỉ giáo về huấn luyện cán bộ cách mạng phải phối hợp có hiệu quả các yếu tố: mục tiêu huấn luyện “huấn luyện nhằm đạt được những gì”; nội dung và chương trình huấn luyên “huấn luyện gì”; người giảng dạy trong huấn luyên “ai huấn luyện”; người học – người được huấn luyện “huấn luyện ai”; các phương pháp và hình thức tổ chức huấn luyện “huấn luyện như thế nào”; phương tiện và điều kiện huấn luyện “huấn luyện với và trong điều kiện nào”; đánh giá kết quả huấn luyện “kiểm tra và đánh giá kết quả huấn luyện” [52; tr 367 - 371]. Tư tưởng đó của Người vẫn giữ nguyên giá trị chính trị và khoa học đối với quản lý nhằm phát triển nguồn nhân lực của nước nhà trong xây dựng đất nước.
Bằng định hướng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, tại Việt Nam các nhà khoa học đã nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực giáo dục nói chung và phát triển đội ngũ giảng viên đại học nói riêng trên cơ sở lý luận về quản lý nguồn nhân lực. Các công trình khoa học đó khẳng định đội ngũ CBQL, giảng viên (hoặc giáo viên) được xem là các thành tố của quá trình giáo dục, có vai 11 luan an trò quyết định chất lượng giáo dục và phải được phát triển đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục để thích ứng với bối cảnh luôn luôn biến đổi. + Các nội dung trong các công tgrình khoa học như “Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt Nam” của Đỗ Minh Cương và Nguyễn Thị Doan (2001) [21], “Quản lý nguồn nhân lực xã hội” của Học viện Hành chính Quốc gia (2003) [40], “Quản lý đội ngũ” của Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2003) [15], “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước” của Nguyễn Thanh (2005) [61], “Đào tạo và sử dụng nhân lực trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” của Phan Văn Kha (2007) [46], “Quản trị nguồn nhân lực” của Trần Thị Kim Dung (2001) [23], “Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế” của Nguyễn Duy Hùng và Vũ Văn Phúc (2012) [55], “Quản lý giáo dục” của Bùi Minh Hiền, Đặng Quốc Bảo và Vũ Ngọc Hải (2010) [36] đều nêu rõ: cơ sở lý luận quản lý, quản lý nhà nước về giáo dục; quản lý đào tạo nguồn nhân lực và sử dụng nguồn nhân lực giáo dục; những đặc điểm con người; quy luật phát triển con người; các nội dung chủ yếu trong quản lý nhân lực một tổ chức (xây dựng quy hoạch, tuyển chọn, sử dụng, đào tạo và bồi dưỡng, bổ nhiệm, thuyên chuyển, biệt phái, giải quyết các chính sách cán bộ). Mặt khác, trong các công trình khoa học trên còn nêu rõ thực trạng sử dụng nguồn nhân lực của nước nhà (Việt Nam) và đề xuất các giải pháp sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
+ Gần đây trong các công trình khoa học “Quản lý phát triển nhân lực trường trung cấp chuyên nghiệp” (trong “Những vấn đề cơ bản về công tác quản lý trường trung cấp chuyên nghiệp”) [34] và “Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về lãnh đạo và quản lý giáo dục trong thời kì mới” [5] của một số nhà khoa học có danh tiếng trong nước biên soạn, được Bộ GD&ĐT và Ngân hàng phát triển Châu Á xuất bản 2010 và 2013 đã đề cập tới lý luận quản lý được trình bày trong 14 chuyên đề, trong đó có các chuyên đề có liên quan đến phát triển nguồn nhân lực như: Tư tưởng Hồ chí Minh về giáo dục; Lý luận về phát triển nguồn nhân lực; Quản lý sự thay đổi ở bối cảnh đổi mới, quản lý chất lượng giáo dục; Năng lực và 12 luan an phát triển năng lực đối với CBQL giáo dục; Tạo động lực cho người lao động trong tổ chức. Nghiên cứu về phát triển đội ngũ giảng viên tiếng Anh dựa trên năng lực - Ở nước ngoài, có một số công trình khoa học nghiên cứu về phát triển đội ngũ giảng viên dựa trên năng lực; nhưng các công trình khoa học nghiên cứu về phát triển đội ngũ GVTA rất ít và một số công trình chỉ đưa ra cơ sở lý luận hoặc các nội dung có thể vận dụng vào phát triển đội ngũ GVTA dựa trên năng lực: + Các công trình nghiên cứu khoa học như: “Competency Based Education and Training” của John Burke (1989) [83]; “Defining and assessing learning: Exploring competency - based intiatives” của Jones, E (2002) [84]; “Competency based Human resource management” của các tác giả David D. Rothwell (2004) [74] và “Staff Development for Higher Education Instituitions” của Victor Minichiello (2008) [95] đều có nội dung về lý luận phát triển nguồn nhân lực nhân lực dựa trên năng lực và phát triển đội ngũ trong các cơ sở giáo dục đại học dựa trên năng lực; trong đó đều khẳng định phát triển nguồn nhân lực dựa trên năng lực là cách tiếp cận gắn việc xây dựng khung năng lực nghề nghiệp (bộ tiêu chuẩn về năng lực nghề nghiệp của người hành nghề) với thiết lập và triển khai các nội dung phát triển nguồn nhân lực theo khung năng lực nghề nghiệp đã xây dựng. + Các công trình nghiên cứu khoa học như “Competency Based Education and Training: A World Perspective Mexico” của các tác giả Antonio Arguelles, Andrew Gonczi (2000) [71]; “The applicability of the Harvard and Warwick models in the development of human resource management policies of large construction companies in Ghana” của Agyepong, S.
và cộng sự (2010) [69]; “The UK Professional Standards Framework for teaching and supporting learning in higher education” của Học Viện Giáo dục đại học thuộc Vương quốc Anh (2011) [93]; “International studies in relation to second language education: Theoretical grounds, scope and research methods” của Annual University Conference on International Languages (2012) [70]; và “English language 13 luan an education in Vietnamese universities: National benchmarking in practice” của tác giả Lê Căn Canh (2012) [86] đã chỉ ra: các tiếp cận năng lực từ những công trình khoa học của các tác giả trên Thế giới (trong đó có quan điểm của Mexico về các nhóm năng lực cần trang bị cho nhà giáo trong giáo dục và đào tạo dựa trên năng lực); giới thiệu khung tiêu chuẩn giảng dạy và hỗ trợ học tập của giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học của Vương quốc Anh và nội dung một số báo cáo khoa học tại Hội nghị thường niên của các trường đại học với chủ đề “Đại học Ngôn ngữ và Nghiên cứu Quốc tế” về cơ sở lý thuyết, phạm vi và phương pháp nghiên cứu liên quan đến giáo dục ngôn ngữ; những vấn đề lý thuyết, thực hành trong giảng dạy tiếng Anh và tầm quan trọng năng lực nghề nghiệp GVTA trong các cơ sở GDĐH. - Ở trong nước, các nhà khoa học chưa nghiên cứu sâu về phát triển đội ngũ GVTA trong trường đại học.