phần mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục thì luận văn gồm có 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1 : Cở sở lý luận và thực tiễn về văn hóa tổ chức Chƣơng 2 : Thực trạng văn hóa tổ chức tại trƣờng CĐ CNTT Hữu nghị Việt- Hàn Chƣơng 3 : Các giải pháp xây dựng và phát triển văn hóa tổ chức tại trƣờng CĐ CNTT Hữu nghị Việt- Hàn. 7 z CHƢƠ NM BBBBBBBBBBBBBBBBBBBBBBBNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VĂN HÓA TỔ CHỨC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về văn hóa (VH) Có nhiều định nghĩa về văn hóa, tại hội nghị Quốc tế các nhà văn học họp tại Mehico do UNESCO tổ chức năm 1982, trên cơ sở của 200 định nghĩa khác nhau về văn hóa, bản tuyên bố chung của hội nghị đã chấp nhận một quan niệm về văn hóa nhƣ sau: “Trong ý nghĩa rộng nhất, VH là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách củ một xã hội hay một nhóm người trong xã hội.
VH bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống có giá trị, những tập tục và tín ngưỡng”. Nhƣ vậy, dƣới góc độ xã hội học thì VH là một hiện tƣợng XH gắn với đời sống con ngƣời, là sản phẩm của hoạt động thực tiễn có tính sáng tạo của con ngƣời, đƣợc chắt lọc kế thừa, phát triển dƣới tác động của con ngƣời, vì hạnh phúc con ngƣời. Theo những ý nghĩa đó, tác giả có thể hiểu văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình. Ở cấp độ trƣờng đại học, văn hóa có thể đƣợc định nghĩa là những giá trị và niềm tin của những ngƣời liên quan đến nhà trƣờng: các nhà quản lý, giảng viên, thành viên hội đồng, nhân viên phục vụ, dựa trên truyền thống và những giao tiếp bằng lời hoặc không lời [14,18].
Gía trị và niềm tin đƣợc coi là có ảnh hƣởng lớn lao đối với quá trình ra quyết định ở các trƣờng đại họcvà định hình cách xử sự của các cá nhân cũng nhƣ trong tổ chức. Cách xử sự dựa trên những giả định ngầm ẩn 8 z và niềm tin thì đƣợc thể hiện qua những câu chuyện kể, những thứ ngôn ngữ đặc biệt và những chuẩn mực của nhà trƣờng[18]. Khái niệm về văn hóa tổ chức (VHTC) Có rất nhiều khái niệm khác nhau về VHTC, sau đây là vài khái niệm: Theo Wikipedia: VHTC đƣợc xem nhƣ là một nhận thức chỉ tồn tại trong nhận thức của tổ chức chứ không phải trong một cá nhân. Vì vậy, các cá nhân có những nền tảng văn hóa, lối sống, nhận thức khác nhau, ở những vị trí làm việc khác nhau trong tổ chức có xu hƣớng hiển thị văn hóa tổ chức đó theo cùng một cách hay ít nhất là có một mẫu số chung.
Theo Jacques [35]: VHTC là tƣ duy hành động hằng ngày của các thành viên trong tổ chức. Đó là những điều mà các thành viên phải học và tuân theo để đƣợc chấp nhận làm việc tại tổ chức. VHTC theo nghĩa này bao gồm một loạt các hành vi ứng xử, các phƣơng thức, kỹ thuật và kỹ luật làm việc, các thông lệ và thói quen quản lý, các mục tiêu, cách trả lƣơng, các quan điểm về cách làm việc, niềm tin vào tính dân chủ trong các buổi thảo luận, những qui ƣớc và những điều cấm kỵ. Theo Tunstall [22]: VHTC có thể đƣợc mô tả nhƣ là một tập hợp chung các tín ngƣỡng, thông lệ, hệ thống giá trị, quy chuẩn, hành vi ứng xử và cách kinh doanh riêng của từng tổ chức.
Những mặt này sẽ quy định mô hình hoạt động riêng của tổ chức và hành vi ứng xử của các thành viên trong tổ chức. Tóm lại, ta có thể hiểu VHTC là toàn bộ các giá trị, niềm tin, truyền thống và thói quen có khả năng quy định hành vi của mỗi thành viên trong tổ chức: là chất lượng, hiệu quả của các sản phẩm, dịch vụ mà tổ chức đó tạo ra, cống hiến cho xã hội, nó mang lại cho tổ chức một bản sắc riêng ngày càng phong phú thêm và có thể thay đổi theo thời gian. Khái niệm văn hóa tổ chức cơ sở giáo dục đại học (GDĐH) Xét về bản chất, mỗi nhà trƣờng là một tổ chức sự nghiệp, và một trƣờng thuộc hệ cao đẳng hoặc đại học thì đƣợc gọi là một tổ chức giáo dục hoặc cơ sở giáo dục đại học – theo Luật Giáo dục và Luật Giáo dục đại học hiện hành. Đó là một thế giới thu nhỏ với những cơ cấu, chuẩn mực, quy tắc hoạt động, những giá trị, điểm 9 z mạnh, điểm yếu riêng do những con ngƣời cụ thể thuộc nhiều thế hệ tạo lập.Với tƣ cách là một tổ chức, mỗi nhà trƣờng đều tồn tại, dù ít hay nhiều một nền văn hóa nhất định.
Và theo TS Phạm Quang Huân, Viện nghiên cứu ĐHSP Hà Nội, ta có thể hiểu văn hóa tổ chức của cơ sở giáo dục Đại học hay còn gọi là văn hóa nhà trường ( school culture) là hệ thống niềm tin, giá trị,chuẩn mực, thói quen, truyền thống hình thành trong quá trình phát triển của nhà trường: là chất lượng, hiệu quả của các sản phẩm, dịch vụ mà tổ chức đó tạo ra, cống hiến cho xã hội, được các thành viên trong nhà trường thừa nhận, làm theo và được thể hiện trong các hình thái vật chất và tinh thần, từ đó tạo nên bản sắc riêng cho mỗi tổ chức giáo dục- đào tạo. Tầm quan trọng của văn hóa tổ chức cơ sở giáo dục đại học - Văn hóa là một thứ tài sản lớn của bất kỳ một tổ chức nào: Có không ít ngƣời đã khẳng định: nó quyết định sự trƣờng tồn của một tổ chức. Đó là ý nghĩa và tầm quan trọng của văn hoá. Nó càng có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt đối với nhà trƣờng, bởi lẽ, tính văn hoá là một tính chất đặc thù của nhà trƣờng với sứ mệnh “trồng ngƣời”, phát triển nhân cách và năng lực làm việc cho ngƣời học.
Điều này đƣợc xác định dựa trên những căn cứ sau: + Nhà trƣờng là nơi bảo tồn vào lƣu truyền các giá trị văn hoá nhân loại; + Nhà trƣờng là nơi đào luyện những lớp ngƣời mới, chủ nhân gìn giữ và sáng tạo văn hoá cho tƣơng lai; + Nhà trƣờng là nơi con ngƣời với con ngƣời (ngƣời dạy với ngƣời học) cùng hoạt động để chiếm lĩnh các mục tiêu văn hoá, theo những cách thức văn hoá, dựa trên những phƣơng tiện văn hoá, trong môi trƣờng văn hoá đạii diện cho mỗi vùng, miền, địa phƣơng. - VHTC cơ sở GDĐH tạo động lực làm việc: Động lực sƣ phạm đƣợc tạo nên bởi nhiều yếu tố, trong đó văn hoá là một động lực vô hình nhƣng có sức mạnh to lớn và mạnh mẽ, cụ thể: + Văn hoá nhà trƣờng giúp nhân viên thấy rõ mục tiêu, định hƣớng và bản chất công việc mình làm. 10 z + Văn hoá nhà trƣờng phù hợp, tích cực tạo ra các mối quan hệ tốt đẹp giữa các cán bộ, giáo viên, nhân viên trong tập thể sƣ phạm, giữa giáo viên và học sinh; đồng thời tạo ra một môi trƣờng làm việc thoải mái, vui vẻ, lành mạnh. Đó là nền tảng tinh thần cho sự sáng tạo- điều vô cùng quan trọng đối với hoạt động sƣ phạm mà đối tƣợng là tri thức và con ngƣời.
+ Văn hoá nhà trƣờng tích cực giúp cho ngƣời dạy, ngƣời học và mỗi ngƣời trong lực lƣợng xã hội xung quanh có cảm giác tự hào, hãnh diện vì đƣợc là thành viên của tổ chức nhà trƣờng, đƣợc làm việc vì những mục tiêu cao cả của nhà trƣờng; Muốn tạo động lực cần khơi dậy nhu cầu và đáp ứng nhu cầu chính đáng của mọi ngƣời. Khi khả năng đáp ứng nhu cầu thấp, động lực với ngƣời lao động sƣ phạm là đồng lƣơng, thu nhập và những giá trị vật chất. Khi thu nhập đạt đến một mức nào đó, nhu cầu vật chất đƣợc thoả mãn cơ bản, ngƣời lao động nói chung, nhà sƣ phạm nói riêng, sẵn sàng đánh đổi, chọn mức thu nhập thấp hơn để đƣợc làm việc ở một môi trƣờng hoà đồng, thân thiện, thoải mái, đƣợc cống hiến, sáng tạo và đƣợc thừa nhận, tôn trọng. - VHTC cơ sở GDĐH hỗ trợ điều phối và kiểm soát: Văn hóa nhà trƣờng hỗ trợ điều phối và kiểm soát hành vi của các cá nhân bằng các chuẩn mực, thủ tục, quy trình, quy tắc và bằng dƣ luận, truyền thuyết do những thế hệ con ngƣời trong tổ chức nhà trƣờng xây dựng lên.
Khi nhà trƣờng phải đối mặt với một vấn đề phức tạp, chính văn hóa tổ chức là điểm tựa tinh thần, giúp các nhà quản lý trƣờng học và đội ngũ giáo viên hợp tác, phát huy trí lực để có những quyết định và sự lựa chọn đúng đắn. - VHTC cơ sở GDĐH hạn chế tiêu cực và xung đột: Văn hóa nhà trƣờng giúp các thành viên tổ chức thống nhất về cách nhận thức vấn đề, cách đánh giá, lựa chọn, định hƣớng và hành động. Nó tựa nhƣ chất keo gắn kết các thành viên lại thành một khối, tạo ra những dƣ luận tích cực hạn chế những biểu hiện tiêu cực trái với quy tắc, chuẩn mực thông thƣờng của tổ chức. Nó hạn chế những nguy cơ mâu thuẫn và xung đột; và, khi xung đột là không thể tránh khỏi thì văn hóa nhà trƣờng 11 z tạo ra hành lang pháp lý, đạo lý phù hợp để góp phần khắc phục, giải quyết xung đột trên nguyên tắc không để phá vỡ tính chỉnh thể của tổ chức nhà trƣờng.
- Nâng cao chất lượng các hoạt động của tổ chức: Tổng hợp tất cả các yếu tố trên, từ sự gắn kết, tạo động lực, điều phối kiểm soát và hạn chế những nguy cơ làm giảm sức mạnh của tổ chức, rõ ràng là, văn hóa tổ chức đã làm tăng hiệu quả các hoạt động trong nhà trƣờng, trên cơ sở đó mà dần dần tạo nên những phẩm chất đặc trƣng khác biệt cho tổ chức trƣờng học. Đó là cơ sở nâng cao uy tín, “thƣơng hiệu” của nhà trƣờng, tạo đà cho các bƣớc phát triển tốt hơn. Các hình thái, cấp độ thể hiện văn hóa tổ chức của cơ sở giáo dục đại học Theo Edgar H. Cấu trúc văn hóa tổ chức theo mô hình của Edgar H.