CHƯƠNG 1: CƠ Sở LÝ LUậN Về ĐÀO TạO, BồI DƯỡNG ĐộI NGŨ GIảNG VIÊN CÁC HọC VIệN, TRƯờNG ĐạI HọC CAND 1. Một số khái niệm liên quan 1. Đào tạo, bồi dưỡng Theo từ điển Bách khoa Việt Nam "đào tạo là quá trình tác động đến con người làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người"[17, tr. Hay nói cách khác, đào tạo là quá trình làm cho người được đào tạo trở thành người có kiến thức và năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định đề ra.
Đại từ điển Tiếng Việt đã định nghĩa "bồi dưỡng là làm cho tốt hơn, giỏi hơn"[9, tr.191];có thể thấy đây là khái niệm chung nhất về bồi dưỡng. Tuy nhiên, tùy từng góc độ nghiên cứu, khái niệm bồi dưỡng có thể hiểu theo những cách khác nhau. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, có thể hiểu bồi dưỡng là quá trình tác động đến con người làm cho người đó tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất, là quá trình nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp một cách thường xuyên, làm tăng cường năng lực nói chung trên cơ sở kiến thức, kỹ năng đã được đào tạo. Vì vậy, bồi dưỡng có nhiệm vụ cập nhật, trang bị thêm những kiến thức, kỹ năng, thái độ cho người học để thực hiện tốt hơn, hiệu quả hơn nhiệm vụ được giao.
Thông thường, "đào tạo, bồi dưỡng" là một cụm từ được sử dụng chung, nhưng có sự phân biệt tương đối. Đào tạo được xem như là một quá trình làm cho người ta trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định và bồi dưỡng được xác định là quá trình làm cho người ta tăng thêm Luan van 8 năng lực, phẩm chất.Việc tách bạch khái niệm đào tạo và bồi dưỡng riêng rẽ nhằm mục đích phân tích cặn kẽ sự giống và khác nhau giữa đào tạo và bồi dưỡng. Thực tế thì trong đào tạo đã bao hàm việc bồi dưỡng. Xét về mặt thời gian, đào tạo thường có thời gian dài hơn, về bằng cấp thì đào tạo có bằng cấp chứng nhận trình độ được đào tạo, còn bồi dưỡng thường chỉ có chứng chỉ chứng nhận đã học qua khóa bồi dưỡng.
Tuy nhiên, trên cơ sở những điểm tương đồng giữa đào tạo và bồi dưỡng, có thể đưa ra một định nghĩa chung cho thuật ngữ "đào tạo, bồi dưỡng". Theo định nghĩa của Ủy ban nhân lực Vương Quốc Anh, thì "đào tạo, bồi dưỡng" nguồn nhân lực được xác định là "một quá trình có kế hoạch làm biến đổi thái độ, kiến thức hoặc kỹ năng thông qua việc học tập, rèn luyện để làm việc có hiệu quả trong một hoạt động hay trong một loạt các hoạt động nào đó. Mục đích của nó, xét theo tình hình công tác ở cơ quan, là phát triển nâng cao năng lực cá nhân và đáp ứng nhu cầu nhân lực hiện tại và tương lai của cơ quan" [18, tr105]. Như vậy, "đào tạo, bồi dưỡng" chính là việc xây dựng, tạo ra những cơ hội cho nguồn nhân lực của tổ chức được học tập, nhằm giúp tổ chức đạt được mục tiêu của mình bằng việc tăng cường năng lực, làm gia tăng giá trị của nguồn lực cơ bản, quan trọng nhất là con người, là cán bộ, nhân viên làm việc trong tổ chức.
Có thể khẳng định rằng, "đào tạo, bồi dưỡng" là một trong những chức năng quản lý của tổ chức đối với người lao động làm việc cho tổ chức đó; dù đó là cơ quan quản lý nhà nước hay đơn vị sự nghiệp công lập, dù đó là tổ chức thuộc khu vực nhà nước hay khu vực tư nhân. Hiện nay, trên cơ sở các căn cứ pháp lý đã được Nhà nước ban hành và có hiệu lực thì nội hàm của công tácđào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức cơ bản được xác định như sau: Luan van 9 Về mục tiêu[7, tr1] Trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp thực hiện nhiệm vụ trong hoạt động công vụ của cán bộ, công chức và hoạt động nghề nghiệp của viên chức, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị và năng lực, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân, sự nghiệp phát triển của đất nước. Về nguyên tắc[7, tr1-2]: - Đào tạo, bồi dưỡng phải căn cứ vào tiêu chuẩn ngạch công chức, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức; tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý; vị trí việc làm; gắn với công tác sử dụng, quản lý cán bộ, công chức, viên chức, phù hợp với kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và nhu cầu xây dựng, phát triển nguồn nhân lực của cơ quan, đơn vị. - Thực hiện phân công, phân cấp trong tổ chức bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức, tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý; kết hợp phân công và cạnh tranh trong tổ chức bồi dưỡng theo yêu cầu của vị trí việc làm.
- Đề cao ý thức tự học và việc lựa chọn chương trình bồi dưỡng theo yêu cầu vị trí việc làm của cán bộ, công chức, viên chức. - Bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả. Về nội dung của công tác đào tạo - Đào tạo trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học cho cán bộ, công chức cấp xã phù hợp với điều kiện và yêu cầu phát triển của từng vùng, miền. - Đào tạo trình độ đại học cho cán bộ, công chức ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện trong trường hợp cơ quan, đơn vị được tổ chứ, sắp xếp lại mà không thể bố trí được công việc phù hợp với chuyên môn đã được đào tạo Luan van 10 trước đó.
- Đào tạo trình độ sau đại học phù hợp với vị trí việc làm cho cán bộ, công chức ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện đảm bảo theo quy hoạch và yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của cơ quan, đơn vị. - Khuyến khích tự học và đào tạo trình độ sau đại học cho viên chức phù hợp với chuyên môn, gắn với quy hoạch sử dụng lâu dài. Về nội dung của công tác bồi dưỡng[3, tr4]: - Bồi dưỡng về lý luận chính trị. - Bồi dưỡng về kiến thức quốc phòng - an ninh.
+ Bồi dưỡng trình độ lý luận chính trị theo tiêu chuẩn quy định cho cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, cho các chức danh công chức, viên chức và cán bộ, công chức cấp xã. + Cập nhật nội dung các văn kiện, nghị quyết, đường lối của Đảng; cập nhật nâng cao trình độ lý luận chính trị theo quy định. - Bồi dưỡng về kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước. + Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước theo tiêu chuẩn chức danh công chức; tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức; tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý.
+ Cập nhật kiến thức, kỹ năng, phương pháp quản lý chuyên ngành; kiến thức, phương pháp thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao. + Cập nhật kiến thức pháp luật, văn hóa công sở, nâng cao ý thức đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp. - Bồi dưỡng kiến thức quản lý chuyên ngành, chuyên môn, nghiệp vụ; đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp; kiến thức hội nhập quốc tế. Luan van 11 - Bồi dưỡng tiếng dân tộc, tin học, ngoại ngữ.
Đội ngũ giảng viên tại các cơ sở giáo dục đại học Giảng viên tại các cơ sở giáo dục đại học Tại khoản 1 Điều 66 và Điều 67 Luật Giáo dục số 43/2019/QH14 ngày 14/6/2019 quy định: - Nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong cơ sở giáo dục (trừ Viện Hàn lâm, viện do Thủ tướng Chính phủ thành lập theo quy định của Luật Khoa học và Công nghệ được phép đào tạo trình độ tiến sĩ). Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục khác, giảng dạy trình độ sơ cấp, trung cấp gọi là giảng viên; nhà giáo giảng dạy trình độ cao đẳng trở lên gọi là giảng viên. - Nhà giáo phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau: có phẩm chất, tư tưởng, đạo đức tốt; đáp ứng chuẩn nghề nghiệp theo vị trí việc làm; có kỹ năng cập nhật, nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; bảo đảm sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp. Theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Thông tư số 36/2014/TTLT- BGDĐT-BNV ngày 28/11/2014quy định mã số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức giảng dạy trong cơ sở giáo dục đại học công lập thì giảng viên tại các cơ sở giáo dục đại học phải có bằng đại học trở lên phù hợp với vị trí việc làm, chuyên ngành giảng dạy, có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên; có trình độ ngoại ngữ bậc 2 (A2) theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam; đạt chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản theo quy định tại Thông tư 03/2014/TT-BTTTT ngày 11/3/2014 của Bộ Thông tin và Truyền Thông.
Như vậy, khái niệm"Giảng viên tại các cơ sở giáo dục đại học"có thể Luan van 12 được hiểu là nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học ở các cơ sở giáo dục đại học; có trình độ chuyên môn từ đại học trở lên; được đào tạo, bồi dưỡngtheo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giảng viên; có kỹ năng cập nhật và nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; có nhân thân rõ ràng, phẩm chất đạo đức tốt; được các học viện, trường đại học mời giảng hoặc ký hợp đồng giảng dạy. Đội ngũ giảng viên tại các cơ sở giáo dục đại học Theo từ điển Tiếng Việt, khái niệm "đội ngũ" là tập hợp những người cùng mục đích, có sự sắp xếp nhất định, làm việc theo sự phân công hay theo một kế hoạch, được gắn bó với nhau bởi các lợi ích về vật chất và tinh thần. Từ những cơ sở nêu trên, theo nghĩa cụ thể, "đội ngũ giảng viên tại các cơ sở giáo dục đại học"là tập hợp các nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học và quản lý giáo dục tại các cơ sở giáo dục đại học, hưởng lương và các chế độ khác từ ngân sách nhà nước hoặc từ ngân sách của cơ sở giáo dục đại học.