Chương 1 NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE CHAT LƯỢNG DOI NGŨ CAN BO, GIANG VIEN O CAC TRUNG TAM GIAO DUC QUOC PHONG VA AN NINH 1. Một số khái niệm 1. Cán bộ và đội ngũ can bộ Thuật ngữ “Cán bộ” có rất nhiều cách hiểu khác nhau. Theo Từ điển Tiếng Việt, “cán bộ” có hai nghĩa: 1.
Người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nha nước. Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan nhà nước, một tổ chức, phân biệt với người thường, không có chức vụ [79, tr. Trong Luật Cán bộ, Công chức năm 2008: “Can bộ là công dân Việt Nam, được bau cử, phê chuẩn, bé nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tô chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tinh), ở huyện, quan, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước” [55]. Tiếp cận ở một góc độ khác, “cán bộ” được hiểu là những người đã thoát ly, làm việc trong các co quan nha nước, công sở, hay trong quân đội, có trọng trách và quyền hạn nhất định, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
“Cán bộ là những người nòng cốt, những người chỉ huy trong quân đội, trong một tổ chức” [59, tr. Như vậy, “cán bộ” là những công dân Việt Nam được bầu cử, phê chuẩn hoặc bổ nhiệm giữ các chức vụ, chức danh trong các cơ quan Đảng, Nhà nước hoặc các tô chức chính trị - xã hội được biên chế và hưởng lương từ ngân sách của Nhà nước. Có rất nhiều tiêu chí phân loại cán bộ, song chủ yếu dựa vào tiêu chí chuyên môn, vai trò của cán bộ có thể chia thành ba loại: 1) Những người đã 14 thoát ly, làm việc tại các cơ quan, công sở, quân đội, cán bộ công chức, viên chức. 2) Cán bộ có chức vụ, quyền han (hay còn gọi là cán bộ lãnh dao, quan ly).3) Cán bộ chủ chốt, đứng đầu, cán bộ cốt cán gồm những người đứng đầu một ngành, một địa phương, một đơn vị công tác từ cấp Trung ương đến cấp cơ sở, chịu trách nhiệm về mọi mặt tại đơn vị, ngành, địa phương mình quản lý.
Về đội ngũ, có rất nhiều cách hiểu khác nhau. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Đội ngũ là tập hợp những người có chung hành động, nhiệm vụ thành một tổ chức hướng đến đạt tới mục tiêu chung” [19, tr. Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng, “đội ngũ là một tập thể người gắn kết cùng nhau, cùng chung lý tưởng, mục đích, ràng buộc nhau về vật chất, tinh thần và hoạt động theo một nguyên tắc” [1, tr. Thực chất đội ngũ là một tập thể gồm số đông người, có cùng chung lý tưởng, mục đích, làm việc theo sự chỉ huy thống nhất, có kế hoạch, gắn bó với nhau về quyền lợi vật chất và tinh thần.
Đội ngũ thường được sử dụng cho các tô chức trong xã hội như đội ngũ trí thức, đội ngũ cán bộ, đội ngũ sĩ quan. Giảng viên và đội ngũ giảng viên Giảng viên là yếu tố cốt lõi quyết định chất lượng GD&DT. Do đó, giảng viên là đối tượng được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm trên nhiều góc độ tiếp cận khác nhau. Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Giảng viên là người giảng dạy ở đại học, cao đăng hay lớp huấn luyện cán bộ” [53, tr.
Theo Điều 66, Luật Giáo dục năm 2019: “Giảng viên là nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong các cơ sở giáo dục từ trình độ cao dang trở lên. Để phân biệt với giáo viên, Luật Giáo dục năm 2019 đã quy định cụ thé: Nhà giáo giảng dạy ở co sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục khác, giảng dạy trình độ sơ cấp, trung cấp gọi chung là giáo viên; nhà giáo giảng dạy từ trình độ cao dang trở lên gọi là giảng viên [58, tr. 15 Trong một nghiên cứu khác, tác giả Nguyễn Thị Nội cho rằng: Giảng viên là những người thực hiện hoạt động giảng dạy tại các cơ sở giáo dục đại học. Họ là những người được tuyển dụng vị trí việc làm, chức danh nghề nghiệp, làm việc theo chế độ hợp đồng, có nhân thân rõ ràng, có phẩm chất đạo đức tốt, có sức khỏe, có năng lực, kỹ năng chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ, đảm nhiệm công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học và các hoạt động khác thuộc một chuyên ngành dao tạo của trường đại học [51, tr.
Tác giả Ngô Thành Can định nghĩa: Giảng viên là người thiết kế, tổ chức kế hoạch bồi dưỡng cho học viên thông qua bài giảng của mình, do đó, họ vừa là “người thiết kế”, vừa là “người thi công”, vừa là “người truyền thụ” trong công tác giảng dạy [6]. Như vậy, giảng viên là nhà giáo, người làm nhiệm vụ giảng dạy ở các cơ sở giáo dục đại học, cao dang. Ho là những người được tuyển dụng theo vi trí làm việc, chức danh nghề nghiệp có những tiêu chuẩn, yêu cầu về năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức đã được Nhà nước và pháp luật quy định. Về đội ngũ giảng viên, Từ điển Giáo dục chỉ rõ: “Đội ngũ giảng viên là tập hợp những người đảm nhận công tác giáo dục và dạy học có đủ tiêu chuẩn đạo đức, chuyên môn và nghiệp vụ quy định [73, tr.
Nhu vậy, đội ngũ giảng viên được hiểu là tập hợp các nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, NCKH và quản lý giáo dục tại các cơ sở giáo dục đại học, họ gắn kết với nhau bằng hệ thống mục tiêu giáo dục, cùng trực tiếp giảng dạy và giáo dục người học, cùng chịu sự ràng buộc của những quy tắc có tính chất hành chính của ngành Giáo dục và Nhà nước. Vai trò, đặc điểm của đội ngũ cán bộ, giảng viên ở các Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh Giảng viên GDQP&AN là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục có đủ điều kiện tiêu chuẩn đo Luật Giáo dục quy định; tốt nghiệp đại học trở lên các 16 chuyên ngành thuộc khoa học quân sự có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm; có tinh thần trách nhiệm của người thầy, người chỉ huy và người cán bộ quản lý giáo dục. Giảng viên GDQP&AN gồm: Giảng viên thuộc biên chế hữu cơ, hợp đồng, thỉnh giảng; Giang viên là sĩ quan biệt phái [4, tr. Theo Điều 23, Luật Giáo dục Quốc phòng và an ninh năm 2013: Giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh bao gồm giảng viên chuyên trách, thỉnh giảng và cán bộ quân đội, công an biệt phái.
Giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh phải có bằng cử nhân giáo dục quốc phòng và an ninh trở lên; trường hợp có bằng tốt nghiệp đại học trở lên chuyên ngành khác thì phải có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm và chứng chỉ dao tạo giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh [56, tr. Theo Nghị định số 13/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 25 - 2 - 2014, giảng viên GDQP&AN phải có bằng cử nhân GDQP&AN trở lên; Cán bộ quân đội, công an có bằng tốt nghiệp đại học trở lên; Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên chuyên ngành khác và chứng chỉ đảo tạo giáo viên, giảng viên quốc phòng, an ninh và chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm [ 10, tr. Hiện nay, đội ngũ cán bộ, giảng viên tại các Trung tâm GDQP&AN trên địa bàn thành phố Hà Nội chủ yếu là cán bộ quân đội, công an biệt phái đạt trình độ chuẩn giảng viên GDQ&AN theo quy định của Luật Giáo dục quốc phòng và An ninh và Nghị định số 13/2014/NĐ/CP. Họ có những đặc điểm riêng biệt khác với giảng viên tại các cơ sở giáo dục khác, cụ thê: Một là, DNCB, GV tại các Trung tâm GDQP&AN trên địa bàn thành phố Hà Nội chủ yếu là những sĩ quan biệt phái (sĩ quan chỉ huy, tham mưu và sĩ quan chính tri) hoạt động trong môi trường đặc thù, có thể lực, trí lực, “bản lĩnh thép” vượt bậc hơn so với các ngành nghề lĩnh vực khác.
Năm 2020, theo thống kê, bộ Quốc phòng đã cử 86 sĩ quan quân đội của Bộ Tư lệnh Thủ đô và Trường Sĩ quan Lục quân I đến các Trung tâm GDQP&AN trên địa bàn Hà Nội làm 17 nhiệm vụ giảng dạy và quản lý sinh viên. Đây là lực lượng nòng cốt quyết định chất lượng GD&DT của Trung tâm. DNCB, GV tại các Trung tam GDQP&AN không chỉ thực hiện nghiệm vụ giáo dục, NCKH về lĩnh vực quốc phòng, an ninh ma còn kiêm nhiệm những nội dung thuộc các chuyên ngành khác. Do chưa có sĩ quan Công an biệt phái giảng dạy về lĩnh vực an ninh, cho nên những sĩ quan biệt phái quân đội tại các Trung tâm GDQP&AN phải tập huấn, kiêm nhiệm giảng dạy cả kiến thức về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quân sự, quốc phòng, an ninh.
Hai là, ĐNCB, GV tại các Trung tâm GDQP&AN trên địa bàn Hà Nội vừa thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, vừa quản lý sinh viên trong môi trường giáo dục đặc thù. Ngoài nhiệm vụ giảng dạy và bồi dưỡng kiến thức về QP&AN cho sinh viên, ĐNCB, GV tại các Trung tâm còn tham gia các hoạt động quản lý sinh viên và các hoạt động ngoại khóa theo đặc thù hoạt động quân sự quốc phòng. Giảng viên GDQP&AN phải thực hiện nề nếp chế độ ngày, tuần theo môi trường quân đội, theo Luật Giáo dục Quốc phòng an ninh. Ba là, trình độ, năng lực, kinh nghiệm của DNCB GV tại các Trung tâm GDQP&AN ở thành phé Hà Nội không đồng đều.
Do được biệt phái từ những đơn vi, nha trường trong quân đội khác nhau, nên về trình độ, năng lực và kinh nghiệm của mỗi giảng viên biệt phái cũng khác nhau, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình giảng dạy kiến thức quân sự, quốc phòng, an ninh cho sinh viên các trường đại học, cao đăng: đồng thời, ảnh hưởng đến chất lượng GD&DT của Trung tâm. Bon là, tuôi quân và tuôi đời của DNCB, GV ở các Trung tâm khá cao, trần quân hàm theo quy định thấp hơn so với các trường Quân đội. DNCB, GV tại các Trung tâm GDQP&AN thường có độ tuổi trung bình từ 40 đến 50 tuổi, quân hàm chủ yếu là thiếu tá, trung tá theo quy định chức danh của Luật Sĩ quan 18 Quân đội. Vì vậy, họ gặp rất nnhiều khó khăn, trở ngại trong quá trình tiếp thu khoa học, công nghệ hiện dai, ảnh hưởng đến công tác và phan dau.