CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm liên quan đến rừng ngập mặn và đô thị hóa 1. Khái niệm thảm thực vật ngập mặn Có rất nhiều quan điểm về RNM, sau đây là 2 khái niệm phù hợp nhất trong điều kiện của Việt Nam. Thực vật ngập mặn (Mangroves) là những thực vật trong vùng triều lên triều xuống.
Chúng thích nghi cao ở khu vực nước biển, có đặc điểm riêng và phát triển ở nơi mà chúng có thể tồn tại trong môi trường khắc nghiệt. RNM là một trong những loại rừng quý hiếm trên thế giới. Dọc theo bờ biển nhiệt đới, cận nhiệt đới, thường thấy hệ sinh thái RNM. Căn cứ vào mực thuỷ triều thấp và cao, RNM là hệ sinh thái đất ngập nước, bao gồm cây ngập mặn và động vật mà chúng có thể sống khi khu vực đó bị chìm dưới nước biển.
RNM gồm có 2 loại chính sau (theo Dr. - RNM ven biển - tìm thấy ở nơi giữa đại dương và đất liền trong điều kiện nước mặn. - RNM ven sông - thấy ở dọc bờ sông trong điều kiện nước ngọt. Các cây ngập mặn (CNM) sống ở vùng chuyển tiếp giữa môi trường biển và đất liền.Tác động của các nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến sự tồn tại và phân bố của chúng.
Tuy nhiên cho đến nay chưa có ý kiến thống nhất về vai trò, mức độ tác động của từng nhân tố. Một khó khăn thường gặp là các loài CNM có biên độ thích nghi rất rộng với khí hậu, đất, nước, độ mặn. Do đó khi dựa vào một khu phân bố cụ thể nào đó để nhận định về tác động của môi trường, có thể không áp dụng được vào vùng khác hoặc không thể suy ra tính chất chung cho thảm thực vật này [3]. Vai trò của TTV ngập mặn, RNM a.
Vai trò và tiềm năng của rừng ngập mặn trong nền kinh tế và tự nhiên: Khi đề cập đến lợi ích của rừng, thường người ta chỉ tính đến những sản phẩm trực tiếp như gỗ và các loại lâm sản khác mà ít chú ý đến các tác dụng gián tiếp như điều hoà khí hậu, chống xói mòn, hạn chế lũ lụt…Đối với RNM vùng cửa sông, nơi bị tác động của sóng, gió, những tác dụng gián tiếp này có ý nghĩa phòng hộ rất quan trọng. Vai trò của RNM đối với tài nguyên thiên nhiên: Bản thân cây ngập mặn đã là một dạng tài nguyên thiên nhiên có khả năng tái tạo, song bên cạnh nó là sự quần tụ của bao loài sinh vật khác. RNM không chỉ là nơi cư trú mà còn là nơi cung cấp nguồn dinh dưỡng, hỗ trợ cho sự tồn tại và phát triển 9 phong phú của các quần thể sinh vật cửa sông ven biển, nơi duy trì đa dạng sinh học cho biển. Bảo tồn đa dạng sinh học cho đới biển ven bờ: Hệ sinh thái RNM chứa đựng mức đa dạng sinh học rất cao, chẳng kém gì mức đa dạng của hệ sinh thái san hô trong đới biển ven bờ.
Dễ dàng nhận biết rằng, nơi ở trong RNM phân hóa rất mạnh: trên không, mặt đất, trong nước với các dạng đáy cứng, đáy mềm, hang trong đất, những không gian chật hẹp trong bụi cây, bộ rễ; điều kiện sống, nhất là độ muối lại biến động thường xuyên, phù hợp với hoạt động có tính nhịp điệu của dòng nước ngọt và thuỷ triều. Sinh vật sống trong RNM không những có số lượng loài đông mà trong nội bộ mỗi loài còn có những biến dị phong phú dễ thích nghi với những nơi ở khác nhau, nguồn sống khác nhau và điều kiện sống biến đổi muôn màu. Bởi vậy RNM là nơi lưu giữ nguồn gen giàu có và có giá trị không chỉ cho các hệ sinh thái trên cạn mà cho cả vùng biển ven bờ RNM là một trong những hệ sinh thái quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học cho đới ven bờ, đồng thời duy trì nguồn lợi sinh vật tiềm tàng cho sự phát triển (trước hết với nghề cá) lâu bền. Duy trì nguồn lợi thuỷ sản tiềm tàng cho sự phát triển một nghề cá bền vững của đới ven bờ: Tôm he, tôm sú, tôm he mùa, tôm rảo, tôm bộp, tôm sắt…Chúng là cư dân trong vùng nhiệt đới ở cửa sông, đời sống của chúng rất gắn bó với môi trường RNM.
Như cách nói của người dân “Con tôm ôm cây đước” [3]. Tôm là loài ăn tạp, trong thành phần thức ăn, các mảnh vụn hữu cơ của cây ngập mặn chiếm một lượng đáng kể. RNM không tồn tại độc lập mà liện hệ mật thiết với các hệ sinh thái liên đới trong lục địa và biển. Không những thế nó còn duy trì một nguồn lợi sinh vật tiềm tàng cho biển, nhất là ở vùng thềm lục địa.
Những nghiên cứu của Haines (1983) trong vùng ngập mặn cửa sông ở Purari và Kikori đã đi đến kết luận rằng, RNM với ngư giới riêng của mình tham gia vào việc thành tạo một nơi sống đặc trưng (Critical habitat), có tính bản lề cho các loài cá biển và các loài cá nước ngọt. Xa hơn ông còn cho rằng, trong vùng cửa sông và trong nước ngọt ở Purari và sông Fly còn tồn tại những cặp “cùng giống” (Congeneric) của một loài mà chúng có thể thay thế cho nhau. Nhìn chung, vai trò, chức năng của RNM đối với nuôi trồng thuỷ sản có thể được tóm tắt theo sơ đồ sau (hình 1.1): 10 Mùn, bã, chuỗi thức ăn Lá, cành Thể nền cho hệ Động vật TV bám bám: hà Bảo vệ sinh sản vườn Ấu trùng và hậu ươm trùng để nuôi hải Rễ, thân sản Củng cố các bờ Thể nền cho các tài lân cận nguyên cận: ốc sò Nguyên liệu làm Sản lượng hải Cành, thân, vỏ Nguyên liệu sản cao và Hệ sinh các dụng cụ đánh thái bbbbbbbbb ba cá những cơ hội RNM Nguyên liệu làm tốt để phát nhà cho dân ven triển nghề biển nuôi hải sản Nơi bảo vệ các làng cá Bảo vệ chống tác Nơi bảo vệ cho RNM động của gió biển nghề nuôi hải sản: đầm, bè, lồng Nơi che chắn quanh năm cho nghề cá Hình 1. Vai trò, chức năng của RNM đối với nuôi trồng thuỷ sản (Kapetsky, 1986) e.
Ảnh hưởng của RNM đến diện tích đất bồi và hạn chế xói lở: Nhìn chung, sự phát triển của RNM và mở rộng diện tích đất bồi là 2 quá trình luôn luôn đi kèm nhau. Các dải RNM đều có thể thấy trên đất bùn mềm, đất sét pha cát, cát, và ngay cả trên các vỉa san hô (Snedaker, 1978, 1982). Ở những vùng đất mới bồi có độ mặn cao chúng ta dễ dàng nhìn thấy các thực vật tiên phong thuộc chi Mắm, Bần Ổi. Tại những vùng cửa sông có độ mặn thấp hơn thường là Bần Chua.
Rễ cây RNM, đặc biệt là những quần thể thực vật tiên phong mọc dày đặc có tác dụng 11 làm cho trầm tích bồi tụ nhanh hơn. Chúng vừa ngăn chặn có hiệu quả hoạt động công phá bờ biển của sóng, đồng thời là vật cản làm cho trầm tích lắng đọng. Mặt khác RNM có tác động hạn chế xói lở và các quá trình xâm thực bờ biển (Phan Nguyên Hồng, 2003). Tổng quan về đô thị hóa 1.
Khái niệm Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có cơ sơ hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, của một huyện hoặc một vùng trong huyện, trong tỉnh. Đô thị hóa được hiểu là quá trình mở rộng của đô thị, tính theo tỷ lệ phần trăm giữa diện tích hoặc số dân đô thị trên tổng diện tích hoặc số dân của một khu vực hoặc vùng. Bên cạnh đó, đô thị hóa cũng được tính theo tỷ lệ gia tăng của hai yếu tố trên theo thời gian. Đô thị tính bằng tỷ lệ phần tăng giữa diện tích trên tổng diện tích của một khu vực gọi là tốc độ đô thị hóa Đô thị hóa tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa số dân trên tổng số dân của một khu vực gọi là mức độ đô thị hóa.
Bên cạnh đó, đô thị hóa còn được hiểu là quá trình phát triển rộng và lối sống thành thị thể hiện qua các mặt: chất lượng cuộc sống, dân số, mật độ dân số… Quá trình đô thị hóa chính là cơ hội để Nhà nước tổ chức, quy hoạch lại cách thức hoạt động của đô thị, dân cư. Theo đó, các khu vực có tiềm năng phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội sẽ được quy hoạch theo hệ thống hiện đại. Các khu vực chưa có điều kiện kinh tế xã hội hoặc mật độ dân số thấp sẽ được điều chỉnh các ngành nghề, quy hoạch phù hợp để tăng cơ hội phát triển trong tương lai. Tóm lại, đô thị hóa là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị đồng thời phát triển đô thị hiện có theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và tăng quy mô dân số.
Đặc điểm đô thị hóa - Đô thị hóa mang tính xã hội và lịch sử và là sự phát triển về quy mô, số lượng, nâng cao vai trò của đô thị trong khu vực và hình thành các chùm đô thị. - Đô thị hóa gắn liền với sự biến đổi sâu sắc về kinh tế - xã hội của đô thị và nông thôn trên cơ sở phát triển công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng dịch vụ,…do vậy, đô thị hóa không thể tách rời với chế độ kinh tế - xã hội. 12 - Đô thị hóa nông thôn: là xu thế bền vững có tính quy luật, là quá trình phát triển nông thôn và phổ biến lối sống thành phố cho nông thôn. Thực chất đấy là tăng trưởng đô thị theo xu hướng bền vững.
- Đô thị hóa ngoại vi: là quá trình phát triển mạnh vùng ngoại vi của thành phố do kết quả phát triển công nghiệp và cơ sở hạ tầng… tạo ra các cụm đô thị…góp phần đẩy nhanh đô thị hóa nông thôn. - Đô thị hó giả tạo: là sự phát triển thành phố do tăng quá mức dân cư đô thị và do dân cư từ các vùng khác đến, đặc biệt là từ nông thôn dẫn đến tình trạng thất nghiệp, thiếu nhà ở, ô nhiễm môi trường, giảm chất lượng cuộc sống.