CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Với mục đích xác định cơ sở lí luận, nội dung phương pháp nghiên cứu của luận án cho lãnh thổ miền núi, các công trình đã công bố được phân tích theo các nhóm vấn đề chính sau: - Các công trình nghiên cứu về cơ sở địa lí theo tiếp cận CQ. - Các công trình về sử dụng hợp lí tài nguyên và BVMT theo tiếp cận CQ. - Các công trình nghiên cứu về Bắc Kạn liên quan đến luận án.
Tổng quan các công trình khoa học về cơ sở địa lí học theo tiếp cận cảnh quan a) Nhận thức về cơ sở địa lí học theo tiếp cận cảnh quan Địa lí học theo truyền thống (Từ điển Bách khoa địa lí, 1988) bao gồm 3 nhóm ngành chính: Địa lí tự nhiên, Địa lí KT - XH và Bản đồ học. Khoa học địa lí tự nhiên nghiên cứu các ĐKTN, TNTN như nguồn lực tự nhiên. Địa lí KT - XH nghiên cứu các điều kiện KT - XH và nhân văn như nguồn lực con người cho tổ chức không gian phát triển kinh tế. Bản đồ học là khoa học thể hiện một cách trực quan sự phân hóa các đối tượng địa lí trong không gian, mối quan hệ và sự biến đổi của chúng bằng hệ thống các kí hiệu thích hợp.
Cơ sở địa lý học có nội hàm rất rộng, được hiểu là những kết quả nghiên cứu về địa lí tự nhiên, KT - XH, chính trị và nhân văn làm căn cứ khoa học cho việc giải quyết các mục tiêu đã hoạch định. Tuy nhiên, dưới góc độ nghiên cứu của chuyên ngành địa lý nào đó, có thể cụ thể hóa nội hàm của “cơ sở địa lý học”. Đối với mục tiêu và nội dung của luận án này, chỉ dừng lại ở nghiên cứu cơ sở địa lí học theo tiếp cận CQ - một nội dung nghiên cứu hẹp của cơ sở địa lí học. Cảnh quan học là một lĩnh vực khoa học mang tính tổng hợp cao nhất trong nhóm khoa học Địa lí tự nhiên.
Đối tượng nghiên cứu CQ là các tổng hợp thể địa lí hay đúng hơn là các địa hệ (theo A. Ixatsenko, 1991), với phân vùng địa lí tự nhiên tổng hợp có vai trò quan trọng trong định hướng không gian sử dụng tài nguyên, cải tạo thiên nhiên, BVMT, phục vụ phát triển kinh tế của lãnh thổ (Ixatsenko, 1991). b) Các công trình khoa học về quan niệm cảnh quan Quan niệm đúng về CQ là cơ sở để xây dựng phương pháp luận cho nghiên cứu địa lí tự nhiên tổng hợp trong sử dụng hợp lí tài nguyên và BVMT, vì vậy việc xem xét và lựa chọn quan niệm về CQ là hết sức cần thiết. Hiện tại trên thế giới có 2 nhóm các nhà khoa học xem xét CQ theo hai cách nhìn dưới góc độ chuyên môn của mình: các nhà kiến trúc, du lịch.
sử dụng kiến thức của địa lí xem “cảnh quan” như “phong cảnh”, còn các nhà địa lí xem “cảnh quan” như một địa hệ thống. Các địa hệ thống này bao gồm bộ phận có thể nhìn thấy và cảm nhận được (đơn vị nhìn thấy - visual unit) và bộ phận không nhìn thấy (đơn vị tư duy - mental unit hoặc landscape of mind). 5 - Các công trình khoa học về quan niệm CQ như “phong cảnh”: Cảnh quan là phần không gian xung quanh có thể quan sát và cảm nhận được (Grano, 1928). Đó là sự kết hợp giữa đường nét sơn văn của địa hình với lớp phủ trên đó.
Quan niệm này được thể hiện rõ trong công trình “Phong cảnh tự nhiên toàn cầu” của G. Bertrand (1968) khi ông coi phong cảnh là một bộ phận sinh thái có thể nhận thấy của CQ. Vì thế, thuật ngữ “phong cảnh” (paysage) được sử dụng thay thế cho thuật ngữ “cảnh quan”, đồng thời quan niệm này hiện đang được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực quy hoạch kiến trúc đô thị và du lịch. Ở Việt Nam, quan niệm này cũng được sử dụng trong tác phẩm về “Kiến trúc cảnh quan” của Hàn Tất Ngạn (2012).
Ông quan niệm CQ là những thiên nhiên và nhân tạo hiện ra trước mắt, mang đến cho con người những cảm xúc và tâm trạng khác nhau. - Các công trình khoa học về quan niệm CQ như một địa hệ thống (Ixatsenko A., 1991) hay tổng hợp thể - holistic unit (Marc Antrop, 1981): Đây là quan điểm mang tính khoa học phát triển mạnh ở Nga và một số nước châu Âu như Tiệp, Ba Lan, Bỉ, Đức. Dưới góc độ địa lí học của trường phái Xô Viết, “cảnh quan” được hiểu theo 3 quan niệm khác nhau: i) Quan niệm xem CQ là khái niệm chung: Cảnh quan biểu thị tổng hợp thể lãnh thổ tự nhiên của một cấp bất kỳ. Tổng hợp thể tự nhiên (hay địa tổng thể tự nhiên) được coi là một hệ thống không gian và thời gian của các hợp phần địa lí có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau trong sự phân bố và phát triển như một thể thống nhất (A.
Những người đi theo quan điểm này có F. Prokaev,… [2,65,83] ii) Quan niệm xem CQ là đơn vị mang tính kiểu loại: Cảnh quan không phải là một lãnh thổ riêng biệt, mà là tập hợp một số tính chất chung của CQ điển hình cho khu vực này hay khác, không phụ thuộc vào đặc điểm phân bố của chúng. Trong thực tế chính là các lớp, phụ lớp, kiểu và loại CQ. Nhờ vào việc nghiên cứu các tính chất chung nào đó, người ta có thể phát hiện các thể tổng hợp tự nhiên bằng cách phân loại CQ theo các cấp phân loại.
Quan điểm này được thấy trong các công trình của B. Gvozdexky,… Ở Việt Nam, hầu hết các công trình nghiên cứu về CQ theo quan niệm CQ là đơn vị mang tính kiểu loại, có thể tìm thấy trong các công trình của Viện Địa lí thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, ĐH KHTN thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội (Phạm Hoàng Hải và nnk 1997; Trương Quang Hải, 1991; Nguyễn Cao Huần, 1992, 2002; Nguyễn Thành Long, 1993;. [29,34,46,72] iii) Quan niệm xem “cảnh quan” là những cá thể địa lí không lặp lại trong không gian, là đơn vị cơ bản của phân vùng địa lí tự nhiên, thể hiện sự tác động tương hỗ giữa các hợp phần tự nhiên trong lãnh thổ xác định. Theo quan niệm này, “Cảnh quan địa lý là một bộ phận được tách ra trong quá trình phát sinh của một miền, một đới địa lý và nói chung là của bất kỳ một đơn vị lãnh thổ nào lớn hơn, có đặc điểm là đồng nhất cả về mặt địa đới và phi địa đới và có một cấu trúc riêng, một cấu tạo hình thái 6 riêng” (A.
Ixatsenko, 1965, 1991) và được L. Xonlxev ủng hộ. Ở Việt Nam, quan niệm CQ là đơn vị cá thể được hiện thực hóa trong tác phẩm “Cảnh quan địa lí miền Bắc Việt Nam” của tác giả Vũ Tự Lập năm 1976. Trong các công trình khác, quan niệm cá thể về CQ được vận dụng cho các đơn vị phân vùng lãnh thổ.
[144] c) Các công trình khoa học về động lực mùa và chức năng cảnh quan - Động lực mùa của CQ: đa số các nhà địa lí Nga đều cho rằng động lực mùa của CQ là một nội dung không thể thiếu trong nghiên cứu đặc điểm CQ của một lãnh thổ. Theo ông vật hậu học là một bộ môn khoa học địa lí có nhiệm vụ nghiên cứu về động lực mùa của CQ. Peralman (1960, 1973), động lực mùa của CQ là một trong những chỉ tiêu quan trọng để phân loại CQ, nhất là các cấp lớn như cấp hệ, phụ hệ và kiểu. Song để có những chỉ tiêu rõ ràng và mang tính định lượng trong khi phân loại và phân tích cấu trúc CQ.
Ixatsenko (1953, 1991) cho rằng cần phải có những số liệu đo đạc cụ thể và liên tục trong nhiều năm về sự thay đổi nhiệt - ẩm của CQ theo mùa. Vì vậy, ông đã tiến hành đo đạc và tính toán về sự thay đổi nhiệt - ẩm tại 33 địa điểm thuộc các đới khác nhau của đồng bằng Nga khi nghiên cứu về động lực mùa của CQ khu vực này. Và cho đến nay, các quan điểm nêu trên vẫn luôn có ý nghĩa và được vận dụng khi nghiên cứu đặc điểm CQ của các vùng lãnh thổ ở các nước trên thế giới. [65] - Chức năng CQ: Forman và Godron (1986) đã định nghĩa chức năng CQ như là “mối tương tác giữa các yếu tố không gian, dòng chảy vật chất và năng lượng cùng sinh vật trong tự nhiên”.
Khoa học ở Trung Âu lại cho rằng chức năng CQ chính là xác định quá trình sinh địa hóa trong CQ. De Groot (1992) coi các chức năng CQ như là “khả năng của các quá trình vật chất và năng lượng trong tự nhiên cùng các thành phần của chúng có thể cung cấp các hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của con người”. Theo đó, có thể chia chức năng của một đơn vị CQ ra 3 nhóm chức năng chính là: Chức năng tự nhiên, chức năng sản xuất và chức năng xã hội (De Groot, 1992, 2006; Bastian và Roder, 2002). Quan điểm này được nhiều nhà nghiên cứu CQ tiếp nhận, trong đó nhấn mạnh chức năng theo nghĩa “tiềm năng.” [132,134,136] Như vậy, dưới góc nhìn hệ thống, CQ được xem xét đồng thời ở cả 3 khía cạnh: chung, kiểu loại và cá thể.
Mặc dù, còn tồn tại nhiều quan niệm CQ khác nhau nhưng đều thống nhất coi “cảnh quan” là một thực thể tự nhiên, là các “tổng hợp thể tự nhiên” ở các cấp khác nhau. Cảnh quan bất kì nào cũng gồm hai bộ phận: bộ phận nhìn thấy (đơn vị phong cảnh) và bộ phận không nhìn thấy (đơn vị tư duy). Cảnh quan được 7 nghiên cứu không chỉ theo đặc điểm hình thái mà theo cả cấu trúc (cấu trúc không gian, cấu trúc thời gian), chức năng (chức năng tự nhiên, chức năng KT - XH) và động lực CQ. Nhận thức đúng và đầy đủ về CQ sẽ cơ sở lí luận để lựa chọn và sử dụng các phương pháp nghiên cứu hợp lí cho một lãnh thổ cụ thể.
d) Các công trình khoa học về cảnh quan như một dạng tài nguyên không gian, là đối tượng lao động - Cảnh quan là một dạng tài nguyên không gian, chứa đựng quỹ sinh thái riêng: quan niệm này xuất phát từ việc coi CQ là một địa hệ thống, chiếm lĩnh một không gian xác định với đặc trưng về các ĐKTN, TNTN và hoạt động của con người.