Luận án nghiên cứu về tài nguyên và bảo vệ môi trường tại tỉnh Bắc Kạn

Luận án nghiên cứu cơ sở địa lý cho việc sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường tỉnh Bắc Kạn, góp phần phát triển bền vững.

Chuyên ngành

Địa Lý

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án

2023

216
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

2. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu

3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài

4. Những điểm mới của đề tài

5. Luận điểm bảo vệ

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

7. Cơ sở tài liệu thực hiện đề tài

8. Cấu trúc luận án

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

1.1.1. Các công trình khoa học về cơ sở địa lí theo tiếp cận cảnh quan

1.1.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu về sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường

1.1.3. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến Bắc Kạn

1.2. Một số vấn đề lí luận nghiên cứu cảnh quan miền núi

1.2.1. Bản chất của cơ sở địa lí học theo tiếp cận cảnh quan

1.2.2. Cảnh quan miền núi và một số vấn đề ứng dụng có liên quan

1.3. Quan điểm, phương pháp và quy trình nghiên cứu

1.3.1. Quan điểm nghiên cứu và cách tiếp cận

1.3.2. Phương pháp nghiên cứu

1.3.3. Quy trình nghiên cứu

1.4. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CẢNH QUAN TỈNH BẮC KẠN

2.1. Đặc điểm và vai trò của các nhân tố thành tạo cảnh quan tỉnh Bắc Kạn

2.1.1. Nhân tố vị trí địa lí

2.1.2. Nhân tố tự nhiên

2.1.2.1. Thổ nhưỡng
2.1.2.2. Thảm thực vật
2.1.2.3. Các quá trình tự nhiên và tai biến thiên nhiên

2.1.3. Nhân tố dân cư và kinh tế - xã hội

2.2. Đặc điểm cảnh quan tỉnh Bắc Kạn

2.3. Hệ thống phân loại cảnh quan tỉnh Bắc Kạn

2.4. Đặc điểm cấu trúc, động lực mùa và chức năng cảnh quan tỉnh Bắc Kạn

2.5. Trạng thái biến đổi cảnh quan tỉnh Bắc Kạn

2.6. Tính đặc thù trong sự phân hóa, khai thác cảnh quan tỉnh Bắc Kạn và ý nghĩa đối với vấn đề sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường của tỉnh

2.7. Phân vùng cảnh quan tỉnh Bắc Kạn

2.7.1. Mục đích, nguyên tắc và phương pháp phân vùng cảnh quan

2.7.2. Hệ thống và chỉ tiêu phân vùng cảnh quan tỉnh Bắc Kạn

2.7.3. Đặc điểm các tiểu vùng cảnh quan tỉnh Bắc Kạn

2.8. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN CHO SỬ DỤNG HỢP LÍ TÀI NGUYÊN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG LÂM NGHIỆP TỈNH BẮC KẠN

3.1. Mục tiêu, nội dung, phương pháp và quy trình đánh giá thích nghi sinh thái cảnh quan tỉnh Bắc Kạn

3.1.1. Mục tiêu, nội dung đánh giá cảnh quan

3.1.2. Phương pháp và quy trình đánh giá cảnh quan

3.2. Đánh giá cảnh quan cho phát triển nông lâm nghiệp tỉnh Bắc Kạn

3.2.1. Đánh giá cảnh quan cho phát triển nông nghiệp tỉnh Bắc Kạn

3.2.2. Đánh giá cảnh quan cho phát triển lâm nghiệp tỉnh Bắc Kạn

3.2.3. Tổng hợp kết quả đánh giá cảnh quan cho phát triển nông lâm nghiệp tỉnh Bắc Kạn

3.3. Đánh giá mức độ bền vững chống xói mòn của cảnh quan tỉnh Bắc Kạn

3.3.1. Lựa chọn và phân cấp các chỉ tiêu đánh giá mức độ bền vững chống xói mòn của cảnh quan

3.3.2. Kết quả đánh giá mức độ bền vững chống xói mòn của cảnh quan

3.4. Định hướng không gian sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường tỉnh Bắc Kạn trong phát triển nông lâm nghiệp

3.4.1. Cơ sở đề xuất định hướng

3.4.2. Đề xuất định hướng không gian sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường tỉnh Bắc Kạn

3.5. Đề xuất một số mô hình hệ kinh tế sinh thái bền vững cho các tiểu vùng cảnh quan núi thấp và đồi cao của tỉnh Bắc Kạn

3.5.1. Hiện trạng phát triển các mô hình hệ kinh tế sinh thái của tỉnh Bắc Kạn

3.5.2. Lựa chọn đề xuất một số mô hình hệ kinh tế sinh thái bền vững cho các tiểu vùng cảnh quan núi thấp và đồi cao tỉnh Bắc Kạn

3.6. Tiểu kết chương 3

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài

Nghiên cứu về địa lý Bắc Kạn là một nhiệm vụ quan trọng trong bối cảnh phát triển bền vững. Tỉnh Bắc Kạn, với vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên phong phú, đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc quản lý và bảo vệ môi trường. Việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên không hợp lý đã dẫn đến tình trạng suy thoái tài nguyên và ô nhiễm môi trường. Do đó, nghiên cứu này nhằm xác lập cơ sở địa lý cho việc sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. "Phát triển bền vững là một trong những nhiệm vụ quan trọng mang tính cấp thiết đối với nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ". Điều này đặc biệt đúng với Bắc Kạn, nơi mà các nguồn tài nguyên đang dần cạn kiệt.

II. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu

Mục tiêu chính của nghiên cứu là xác lập cơ sở địa lý cho việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường trong phát triển nông lâm nghiệp tỉnh Bắc Kạn. Nghiên cứu sẽ thực hiện các nhiệm vụ như phân tích đặc điểm cảnh quan, đánh giá mức độ bền vững của cảnh quan và đề xuất các mô hình phát triển kinh tế sinh thái. "Để đạt được mục tiêu trên, luận án thực hiện các nội dung chính sau đây: xác lập cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu, đánh giá cảnh quan cho định hướng không gian sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên". Điều này sẽ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và bảo vệ môi trường.

III. Đặc điểm cảnh quan tỉnh Bắc Kạn

Cảnh quan tỉnh Bắc Kạn có sự đa dạng và phức tạp, với nhiều yếu tố tự nhiên ảnh hưởng đến cấu trúc và động lực của cảnh quan. Các nhân tố như vị trí địa lý, thổ nhưỡng, thảm thực vật và các quá trình tự nhiên đều đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành cảnh quan. "Cảnh quan tỉnh Bắc Kạn đa dạng, phức tạp với tính đặc thù trong cấu trúc và sự phân hóa". Việc phân tích các yếu tố này sẽ giúp xác định các vùng cảnh quan phù hợp cho phát triển nông lâm nghiệp và bảo vệ môi trường.

IV. Đánh giá cảnh quan cho sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

Đánh giá cảnh quan là một phần quan trọng trong việc xác định khả năng sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường. Nghiên cứu sẽ tập trung vào việc đánh giá mức độ bền vững của cảnh quan và khả năng chống xói mòn. "Đánh giá cảnh quan cho phát triển nông lâm nghiệp và giảm thiểu nguy cơ xói mòn đất tỉnh Bắc Kạn" là một trong những nhiệm vụ chính. Kết quả đánh giá sẽ cung cấp thông tin cần thiết cho việc lập kế hoạch phát triển bền vững.

V. Đề xuất mô hình hệ kinh tế sinh thái bền vững

Nghiên cứu sẽ đề xuất một số mô hình hệ kinh tế sinh thái cho các tiểu vùng cảnh quan núi thấp và đồi cao của tỉnh Bắc Kạn. Các mô hình này sẽ dựa trên kết quả nghiên cứu và đánh giá cảnh quan, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững và bảo vệ môi trường. "Đề xuất một số mô hình hệ kinh tế sinh thái bền vững cho các tiểu vùng cảnh quan" sẽ giúp tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên và nâng cao hiệu quả kinh tế cho người dân địa phương.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Với mục đích xác định cơ sở lí luận, nội dung phương pháp nghiên cứu của luận án cho lãnh thổ miền núi, các công trình đã công bố được phân tích theo các nhóm vấn đề chính sau: - Các công trình nghiên cứu về cơ sở địa lí theo tiếp cận CQ. - Các công trình về sử dụng hợp lí tài nguyên và BVMT theo tiếp cận CQ. - Các công trình nghiên cứu về Bắc Kạn liên quan đến luận án.

Tổng quan các công trình khoa học về cơ sở địa lí học theo tiếp cận cảnh quan a) Nhận thức về cơ sở địa lí học theo tiếp cận cảnh quan Địa lí học theo truyền thống (Từ điển Bách khoa địa lí, 1988) bao gồm 3 nhóm ngành chính: Địa lí tự nhiên, Địa lí KT - XH và Bản đồ học. Khoa học địa lí tự nhiên nghiên cứu các ĐKTN, TNTN như nguồn lực tự nhiên. Địa lí KT - XH nghiên cứu các điều kiện KT - XH và nhân văn như nguồn lực con người cho tổ chức không gian phát triển kinh tế. Bản đồ học là khoa học thể hiện một cách trực quan sự phân hóa các đối tượng địa lí trong không gian, mối quan hệ và sự biến đổi của chúng bằng hệ thống các kí hiệu thích hợp.

Cơ sở địa lý học có nội hàm rất rộng, được hiểu là những kết quả nghiên cứu về địa lí tự nhiên, KT - XH, chính trị và nhân văn làm căn cứ khoa học cho việc giải quyết các mục tiêu đã hoạch định. Tuy nhiên, dưới góc độ nghiên cứu của chuyên ngành địa lý nào đó, có thể cụ thể hóa nội hàm của “cơ sở địa lý học”. Đối với mục tiêu và nội dung của luận án này, chỉ dừng lại ở nghiên cứu cơ sở địa lí học theo tiếp cận CQ - một nội dung nghiên cứu hẹp của cơ sở địa lí học. Cảnh quan học là một lĩnh vực khoa học mang tính tổng hợp cao nhất trong nhóm khoa học Địa lí tự nhiên.

Đối tượng nghiên cứu CQ là các tổng hợp thể địa lí hay đúng hơn là các địa hệ (theo A. Ixatsenko, 1991), với phân vùng địa lí tự nhiên tổng hợp có vai trò quan trọng trong định hướng không gian sử dụng tài nguyên, cải tạo thiên nhiên, BVMT, phục vụ phát triển kinh tế của lãnh thổ (Ixatsenko, 1991). b) Các công trình khoa học về quan niệm cảnh quan Quan niệm đúng về CQ là cơ sở để xây dựng phương pháp luận cho nghiên cứu địa lí tự nhiên tổng hợp trong sử dụng hợp lí tài nguyên và BVMT, vì vậy việc xem xét và lựa chọn quan niệm về CQ là hết sức cần thiết. Hiện tại trên thế giới có 2 nhóm các nhà khoa học xem xét CQ theo hai cách nhìn dưới góc độ chuyên môn của mình: các nhà kiến trúc, du lịch.

sử dụng kiến thức của địa lí xem “cảnh quan” như “phong cảnh”, còn các nhà địa lí xem “cảnh quan” như một địa hệ thống. Các địa hệ thống này bao gồm bộ phận có thể nhìn thấy và cảm nhận được (đơn vị nhìn thấy - visual unit) và bộ phận không nhìn thấy (đơn vị tư duy - mental unit hoặc landscape of mind). 5 - Các công trình khoa học về quan niệm CQ như “phong cảnh”: Cảnh quan là phần không gian xung quanh có thể quan sát và cảm nhận được (Grano, 1928). Đó là sự kết hợp giữa đường nét sơn văn của địa hình với lớp phủ trên đó.

Quan niệm này được thể hiện rõ trong công trình “Phong cảnh tự nhiên toàn cầu” của G. Bertrand (1968) khi ông coi phong cảnh là một bộ phận sinh thái có thể nhận thấy của CQ. Vì thế, thuật ngữ “phong cảnh” (paysage) được sử dụng thay thế cho thuật ngữ “cảnh quan”, đồng thời quan niệm này hiện đang được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực quy hoạch kiến trúc đô thị và du lịch. Ở Việt Nam, quan niệm này cũng được sử dụng trong tác phẩm về “Kiến trúc cảnh quan” của Hàn Tất Ngạn (2012).

Ông quan niệm CQ là những thiên nhiên và nhân tạo hiện ra trước mắt, mang đến cho con người những cảm xúc và tâm trạng khác nhau. - Các công trình khoa học về quan niệm CQ như một địa hệ thống (Ixatsenko A., 1991) hay tổng hợp thể - holistic unit (Marc Antrop, 1981): Đây là quan điểm mang tính khoa học phát triển mạnh ở Nga và một số nước châu Âu như Tiệp, Ba Lan, Bỉ, Đức. Dưới góc độ địa lí học của trường phái Xô Viết, “cảnh quan” được hiểu theo 3 quan niệm khác nhau: i) Quan niệm xem CQ là khái niệm chung: Cảnh quan biểu thị tổng hợp thể lãnh thổ tự nhiên của một cấp bất kỳ. Tổng hợp thể tự nhiên (hay địa tổng thể tự nhiên) được coi là một hệ thống không gian và thời gian của các hợp phần địa lí có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau trong sự phân bố và phát triển như một thể thống nhất (A.

Những người đi theo quan điểm này có F. Prokaev,… [2,65,83] ii) Quan niệm xem CQ là đơn vị mang tính kiểu loại: Cảnh quan không phải là một lãnh thổ riêng biệt, mà là tập hợp một số tính chất chung của CQ điển hình cho khu vực này hay khác, không phụ thuộc vào đặc điểm phân bố của chúng. Trong thực tế chính là các lớp, phụ lớp, kiểu và loại CQ. Nhờ vào việc nghiên cứu các tính chất chung nào đó, người ta có thể phát hiện các thể tổng hợp tự nhiên bằng cách phân loại CQ theo các cấp phân loại.

Quan điểm này được thấy trong các công trình của B. Gvozdexky,… Ở Việt Nam, hầu hết các công trình nghiên cứu về CQ theo quan niệm CQ là đơn vị mang tính kiểu loại, có thể tìm thấy trong các công trình của Viện Địa lí thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, ĐH KHTN thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội (Phạm Hoàng Hải và nnk 1997; Trương Quang Hải, 1991; Nguyễn Cao Huần, 1992, 2002; Nguyễn Thành Long, 1993;. [29,34,46,72] iii) Quan niệm xem “cảnh quan” là những cá thể địa lí không lặp lại trong không gian, là đơn vị cơ bản của phân vùng địa lí tự nhiên, thể hiện sự tác động tương hỗ giữa các hợp phần tự nhiên trong lãnh thổ xác định. Theo quan niệm này, “Cảnh quan địa lý là một bộ phận được tách ra trong quá trình phát sinh của một miền, một đới địa lý và nói chung là của bất kỳ một đơn vị lãnh thổ nào lớn hơn, có đặc điểm là đồng nhất cả về mặt địa đới và phi địa đới và có một cấu trúc riêng, một cấu tạo hình thái 6 riêng” (A.

Ixatsenko, 1965, 1991) và được L. Xonlxev ủng hộ. Ở Việt Nam, quan niệm CQ là đơn vị cá thể được hiện thực hóa trong tác phẩm “Cảnh quan địa lí miền Bắc Việt Nam” của tác giả Vũ Tự Lập năm 1976. Trong các công trình khác, quan niệm cá thể về CQ được vận dụng cho các đơn vị phân vùng lãnh thổ.

[144] c) Các công trình khoa học về động lực mùa và chức năng cảnh quan - Động lực mùa của CQ: đa số các nhà địa lí Nga đều cho rằng động lực mùa của CQ là một nội dung không thể thiếu trong nghiên cứu đặc điểm CQ của một lãnh thổ. Theo ông vật hậu học là một bộ môn khoa học địa lí có nhiệm vụ nghiên cứu về động lực mùa của CQ. Peralman (1960, 1973), động lực mùa của CQ là một trong những chỉ tiêu quan trọng để phân loại CQ, nhất là các cấp lớn như cấp hệ, phụ hệ và kiểu. Song để có những chỉ tiêu rõ ràng và mang tính định lượng trong khi phân loại và phân tích cấu trúc CQ.

Ixatsenko (1953, 1991) cho rằng cần phải có những số liệu đo đạc cụ thể và liên tục trong nhiều năm về sự thay đổi nhiệt - ẩm của CQ theo mùa. Vì vậy, ông đã tiến hành đo đạc và tính toán về sự thay đổi nhiệt - ẩm tại 33 địa điểm thuộc các đới khác nhau của đồng bằng Nga khi nghiên cứu về động lực mùa của CQ khu vực này. Và cho đến nay, các quan điểm nêu trên vẫn luôn có ý nghĩa và được vận dụng khi nghiên cứu đặc điểm CQ của các vùng lãnh thổ ở các nước trên thế giới. [65] - Chức năng CQ: Forman và Godron (1986) đã định nghĩa chức năng CQ như là “mối tương tác giữa các yếu tố không gian, dòng chảy vật chất và năng lượng cùng sinh vật trong tự nhiên”.

Khoa học ở Trung Âu lại cho rằng chức năng CQ chính là xác định quá trình sinh địa hóa trong CQ. De Groot (1992) coi các chức năng CQ như là “khả năng của các quá trình vật chất và năng lượng trong tự nhiên cùng các thành phần của chúng có thể cung cấp các hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của con người”. Theo đó, có thể chia chức năng của một đơn vị CQ ra 3 nhóm chức năng chính là: Chức năng tự nhiên, chức năng sản xuất và chức năng xã hội (De Groot, 1992, 2006; Bastian và Roder, 2002). Quan điểm này được nhiều nhà nghiên cứu CQ tiếp nhận, trong đó nhấn mạnh chức năng theo nghĩa “tiềm năng.” [132,134,136] Như vậy, dưới góc nhìn hệ thống, CQ được xem xét đồng thời ở cả 3 khía cạnh: chung, kiểu loại và cá thể.

Mặc dù, còn tồn tại nhiều quan niệm CQ khác nhau nhưng đều thống nhất coi “cảnh quan” là một thực thể tự nhiên, là các “tổng hợp thể tự nhiên” ở các cấp khác nhau. Cảnh quan bất kì nào cũng gồm hai bộ phận: bộ phận nhìn thấy (đơn vị phong cảnh) và bộ phận không nhìn thấy (đơn vị tư duy). Cảnh quan được 7 nghiên cứu không chỉ theo đặc điểm hình thái mà theo cả cấu trúc (cấu trúc không gian, cấu trúc thời gian), chức năng (chức năng tự nhiên, chức năng KT - XH) và động lực CQ. Nhận thức đúng và đầy đủ về CQ sẽ cơ sở lí luận để lựa chọn và sử dụng các phương pháp nghiên cứu hợp lí cho một lãnh thổ cụ thể.

d) Các công trình khoa học về cảnh quan như một dạng tài nguyên không gian, là đối tượng lao động - Cảnh quan là một dạng tài nguyên không gian, chứa đựng quỹ sinh thái riêng: quan niệm này xuất phát từ việc coi CQ là một địa hệ thống, chiếm lĩnh một không gian xác định với đặc trưng về các ĐKTN, TNTN và hoạt động của con người.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận án nghiên cứu về tài nguyên và bảo vệ môi trường tại tỉnh Bắc Kạn" tập trung vào việc phân tích và đánh giá tình hình tài nguyên cũng như các vấn đề liên quan đến bảo vệ môi trường tại tỉnh Bắc Kạn. Luận án này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các nguồn tài nguyên thiên nhiên của tỉnh mà còn đề xuất các giải pháp nhằm bảo vệ và quản lý hiệu quả môi trường. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức khai thác và bảo vệ tài nguyên, từ đó nâng cao nhận thức và trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý tài nguyên và môi trường, bạn có thể tham khảo các bài viết liên quan như Luận văn thạc sĩ về quản lý tài nguyên và môi trường: Tăng cường quản lý môi trường trong khai thác than tại Quảng Ninh, nơi đề cập đến các giải pháp quản lý môi trường trong lĩnh vực khai thác tài nguyên. Bài viết Luận văn thạc sĩ về quản lý tài nguyên và môi trường: Đánh giá mâu thuẫn tại Quảng Bình cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về những thách thức trong quản lý tài nguyên môi trường. Cuối cùng, bài viết Nâng cao công tác quản lý bảo vệ môi trường trong khai thác mỏ tại công ty cổ phần than Đèo Nai Vinacomin, Quảng Ninh sẽ cung cấp thêm thông tin về các biện pháp bảo vệ môi trường trong ngành khai thác mỏ. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến tài nguyên và môi trường.