Nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đến rừng ngập mặn tại vườn quốc gia Mũi Cà Mau

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu đánh giá tổn thất và thiệt hại hệ sinh thái rừng ngập mặn vườn quốc gia mũi cà mau liên, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề

Trường đại học

Bộ Tài Nguyên và Môi Trường

Chuyên ngành

Biến đổi khí hậu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

179
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

1.2.1. Đối tượng nghiên cứu

1.2.2. Phạm vi nghiên cứu

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Luận điểm nghiên cứu của Luận án

1.5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

1.5.1. Ý nghĩa khoa học

1.5.2. Ý nghĩa thực tiễn

2. TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ TỔN THẤT VÀ THIỆT HẠI HỆ SINH THÁI RỪNG NGẬP MẶN LIÊN QUAN ĐẾN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

2.1. Cơ sở lý luận về đánh giá tổn thất và thiệt hại liên quan đến biến đổi khí hậu đối với hệ sinh thái rừng ngập mặn

2.2. Tổn thất và thiệt hại liên quan đến biến đổi khí hậu

2.3. Hệ sinh thái rừng ngập mặn và vai trò trong ứng phó với biến đổi khí hậu

2.4. Đánh giá tổn thất và thiệt hại hệ sinh thái rừng ngập mặn liên quan đến biến đổi khí hậu

2.4.1. Tổng quan chính sách, pháp luật của Việt Nam về đánh giá tổn thất và thiệt hại liên quan đến biến đổi khí hậu đối với hệ sinh thái rừng ngập mặn

2.4.2. Chính sách pháp luật về đánh giá tổn thất và thiệt hại liên quan đến biến đổi khí hậu

2.4.3. Chính sách, pháp luật về rừng ngập mặn ở Việt Nam

2.4.4. Tổng quan các nghiên cứu của quốc tế về đánh giá tổn thất và thiệt hại đối với hệ sinh thái rừng ngập mặn liên quan đến biến đổi khí hậu

2.4.5. Nghiên cứu đánh giá tổn thất và thiệt hại hệ sinh thái rừng ngập mặn liên quan đến biến đổi khí hậu

2.4.6. Nghiên cứu sử dụng phương pháp lượng giá kinh tế

2.4.7. Tổng quan các nghiên cứu ở Việt Nam về đánh giá tổn thất và thiệt hại đối với hệ sinh thái rừng ngập mặn liên quan đến biến đổi khí hậu

2.4.8. Tổng quan về khu vực nghiên cứu

2.4.9. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội

2.4.10. Hệ sinh thái rừng ngập mặn

2.4.11. Những thiếu hụt và vấn đề cần nghiên cứu

2.4.12. Tiểu kết

3. CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU TỔN THẤT VÀ THIỆT HẠI HỆ SINH THÁI RỪNG NGẬP MẶN VƯỜN QUỐC GIA MŨI CÀ MAU LIÊN QUAN ĐẾN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

3.1. Cách tiếp cận

3.2. Phương pháp luận nghiên cứu tổn thất và thiệt hại hệ sinh thái

3.3. Phương pháp tổng quan tài liệu

3.4. Phương pháp điều tra xã hội học

3.5. Phương pháp viễn thám và Hệ thống thông tin địa lý (GIS)

3.6. Phương pháp xử lý và phân loại ảnh

3.7. Phân tích biến động đường bờ

3.8. Phương pháp lượng giá

3.9. Phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh, phân tích

3.10. Phương pháp chuyên gia

3.11. Phân tích lựa chọn phương pháp, quy trình đánh giá tổn thất và thiệt hại hệ sinh thái rừng ngập mặn Vườn quốc gia Mũi Cà Mau liên quan đến biến đổi khí hậu

3.11.1. Xác định phương pháp phù hợp để đánh giá

3.11.2. Xác định quy trình đánh giá

3.12. Tiểu kết

4. KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ TỔN THẤT VÀ THIỆT HẠI HỆ SINH THÁI RỪNG NGẬP MẶN VƯỜN QUỐC GIA MŨI CÀ MAU LIÊN QUAN ĐẾN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

4.1. Kết quả đánh giá theo phương pháp dựa vào cộng đồng

4.1.1. Về biểu hiện của biến đổi khí hậu

4.1.2. Về tổn thất và thiệt hại dịch vụ hệ sinh thái rừng ngập mặn

4.1.3. Về các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu

4.1.4. Đánh giá chung về mức độ tổn thất và thiệt hại dịch vụ hệ sinh thái rừng ngập mặn của Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau

4.2. Kết quả đánh giá theo phương pháp viễn thám/GIS kết hợp lượng giá kinh tế

4.2.1. Đánh giá diễn biến thay đổi rừng ngập mặn thông qua biến động đường bờ khu vực Vườn quốc gia Mũi Cà Mau dưới tác động của nước biển dâng

4.2.2. Ước tính tổn thất và thiệt hại đối với hệ sinh thái rừng ngập mặn thông qua lượng giá kinh tế

4.2.3. Đánh giá chung về tổn thất và thiệt hại hệ sinh thái rừng ngập mặn Vườn quốc gia Mũi Cà Mau liên quan đến biến đổi khí hậu

4.2.4. Những vấn đề còn chưa chắc chắn của quá trình đánh giá

4.2.5. Đề xuất giải pháp giảm thiểu tổn thất và thiệt hại đối với hệ sinh thái rừng ngập mặn liên quan đến biến đổi khí hậu

4.2.6. Đánh giá chung về công tác ứng phó với biến đổi khí hậu và các tổn thất và thiệt hại ở Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau

4.2.7. Dự báo xu thế về biến động hệ sinh thái rừng ngập mặn Vườn quốc gia Mũi Cà Mau liên quan đến biến đổi khí hậu

4.2.8. Đề xuất giải pháp giảm thiểu tổn thất và thiệt hại đối với hệ sinh thái rừng ngập mặn liên quan đến biến đổi khí hậu

4.3. Tiểu kết

5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHIẾU ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT

MỘT SỐ HÌNH ẢNH THỰC ĐỊA

Tóm tắt

I. Giới thiệu về biến đổi khí hậu và hệ sinh thái rừng ngập mặn

Biến đổi khí hậu (biến đổi khí hậu) đang trở thành một trong những thách thức lớn nhất đối với môi trường toàn cầu. Tại Việt Nam, đặc biệt là ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, tác động của biến đổi khí hậu đến hệ sinh thái rừng ngập mặn (hệ sinh thái) là rất rõ rệt. Rừng ngập mặn không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ bờ biển mà còn cung cấp nhiều dịch vụ sinh thái thiết yếu cho cộng đồng. Theo báo cáo của Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC), diện tích rừng ngập mặn có thể giảm sút do nước biển dâng và các hiện tượng thời tiết cực đoan. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến đa dạng sinh học mà còn đến đời sống của hàng triệu người dân sống phụ thuộc vào các dịch vụ mà rừng ngập mặn cung cấp.

1.1. Vai trò của rừng ngập mặn

Rừng ngập mặn có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và sinh thái. Chúng giúp giảm thiểu tác động của sóng và gió, bảo vệ bờ biển khỏi xói mòn. Ngoài ra, rừng ngập mặn còn là nơi cư trú của nhiều loài động thực vật, góp phần duy trì sự đa dạng sinh học. Các dịch vụ mà rừng ngập mặn cung cấp bao gồm cung cấp thực phẩm, dược liệu, và các nguồn tài nguyên khác cho cộng đồng địa phương. Tuy nhiên, sự suy giảm diện tích rừng ngập mặn do biến đổi khí hậu đang đe dọa đến các dịch vụ này, gây ra những tổn thất lớn cho hệ sinh thái và cộng đồng.

II. Tác động của biến đổi khí hậu đến hệ sinh thái rừng ngập mặn tại Vườn quốc gia Mũi Cà Mau

Vườn quốc gia Mũi Cà Mau là một trong những khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ biến đổi khí hậu. Tác động của nước biển dâng và các hiện tượng thời tiết cực đoan đã làm thay đổi cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái rừng ngập mặn tại đây. Theo nghiên cứu, diện tích rừng ngập mặn tại Vườn quốc gia Mũi Cà Mau đã giảm đáng kể trong những năm qua. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến đa dạng sinh học mà còn đến sinh kế của hàng nghìn hộ dân sống trong khu vực. Các dịch vụ sinh thái như bảo vệ bờ biển, cung cấp thực phẩm và dược liệu đang bị đe dọa nghiêm trọng.

2.1. Nguy cơ mất mát hệ sinh thái

Nguy cơ mất mát hệ sinh thái rừng ngập mặn tại Vườn quốc gia Mũi Cà Mau là rất cao. Biến đổi khí hậu đã làm gia tăng tần suất và cường độ của các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, lũ lụt, và xâm nhập mặn. Những yếu tố này không chỉ làm giảm diện tích rừng ngập mặn mà còn làm suy giảm chất lượng môi trường sống của các loài động thực vật. Sự mất mát này có thể dẫn đến sự suy giảm đa dạng sinh học, làm tăng nguy cơ tuyệt chủng của nhiều loài, và ảnh hưởng đến khả năng phục hồi của hệ sinh thái.

III. Đánh giá tổn thất và thiệt hại do biến đổi khí hậu

Đánh giá tổn thất và thiệt hại do biến đổi khí hậu đối với hệ sinh thái rừng ngập mặn là một nhiệm vụ quan trọng. Các nghiên cứu cho thấy rằng tổn thất về diện tích và chất lượng rừng ngập mặn đã dẫn đến sự suy giảm các dịch vụ sinh thái mà chúng cung cấp. Việc đánh giá này không chỉ giúp nhận diện các vấn đề hiện tại mà còn cung cấp cơ sở để xây dựng các giải pháp bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái. Các phương pháp đánh giá cần được áp dụng một cách đồng bộ, kết hợp giữa tri thức của cộng đồng và tri thức khoa học để đạt được kết quả chính xác và hiệu quả.

3.1. Phương pháp đánh giá tổn thất

Phương pháp đánh giá tổn thất và thiệt hại đối với hệ sinh thái rừng ngập mặn cần được thực hiện một cách toàn diện. Các phương pháp định tính và định lượng có thể được kết hợp để cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình hiện tại. Việc sử dụng công nghệ viễn thám và hệ thống thông tin địa lý (GIS) có thể giúp theo dõi sự thay đổi của diện tích rừng ngập mặn theo thời gian. Đồng thời, việc thu thập ý kiến từ cộng đồng địa phương cũng rất quan trọng để hiểu rõ hơn về tác động của biến đổi khí hậu đến đời sống của họ.

IV. Giải pháp bảo tồn và quản lý rừng ngập mặn

Để giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu đến hệ sinh thái rừng ngập mặn, cần có các giải pháp bảo tồn và quản lý hiệu quả. Các biện pháp như trồng rừng, phục hồi các khu vực rừng ngập mặn đã bị suy thoái, và tăng cường quản lý tài nguyên thiên nhiên là rất cần thiết. Ngoài ra, việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của rừng ngập mặn cũng đóng vai trò quan trọng trong công tác bảo tồn. Các chính sách hỗ trợ từ chính phủ và các tổ chức quốc tế cũng cần được triển khai để đảm bảo sự bền vững của hệ sinh thái này.

4.1. Các biện pháp bảo tồn

Các biện pháp bảo tồn rừng ngập mặn cần được thực hiện đồng bộ và hiệu quả. Việc trồng rừng mới và phục hồi các khu vực rừng ngập mặn đã bị suy thoái là rất quan trọng. Đồng thời, cần có các chính sách bảo vệ rừng ngập mặn, ngăn chặn các hoạt động khai thác trái phép. Hợp tác giữa các cơ quan chức năng, tổ chức phi chính phủ và cộng đồng địa phương cũng cần được tăng cường để đảm bảo sự thành công của các chương trình bảo tồn.

25/01/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu đánh giá tổn thất và thiệt hại hệ sinh thái rừng ngập mặn vườn quốc gia mũi cà mau liên quan đến biến đổi khí hậu

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ TỔN THẤT VÀ THIỆT HẠI HỆ SINH THÁI RỪNG NGẬP MẶN LIÊN QUAN ĐẾN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 1. Cơ sở lý luận về đánh giá tổn thất và thiệt hại liên quan đến biến đổi khí hậu đối với hệ sinh thái rừng ngập mặn 1. Tổn thất và thiệt hại liên quan đến biến đổi khí hậu 1) Khái niệm “Tổn thất và thiệt hại” là một thuật ngữ chung được sử dụng trong các cuộc đàm phán về khí hậu của Liên Hợp Quốc để chỉ những hậu quả của biến đổi khí hậu vượt quá những gì con người có thể thích nghi hoặc khi có các lựa chọn nhưng một cộng đồng không có đủ nguồn lực để tiếp cận hoặc sử dụng chúng.

Cho đến nay, không có định nghĩa chính thức về tổn thất và thiệt hại theo Liên Hợp Quốc [105]. Thuật ngữ “tổn thất và thiệt hại” lần đầu tiên được chính thức sử dụng trong Kế hoạch hành động Bali được thông qua tại Hội nghị các bên tham gia UNFCCC lần thứ 13 (COP 13) tại Indonesia năm 2007. Tại COP 19 (2013), UNFCCC đã thiết lập Cơ chế quốc tế Warsaw về tổn thất và thiệt hại (WIM) với vai trò giải quyết TT&TH từ các hiện tượng diễn biến chậm và các vấn đề thời tiết cực đoan ở các nước đang phát triển, đặc biệt là các quốc gia dễ bị tổn thương do ảnh hưởng của BĐKH. Mặc dù không có định nghĩa chính thức trong các tài liệu nhưng UNFCCC (2012) đưa ra quan điểm: “TT&TH là những biểu hiện thực tế hoặc tiềm tàng liên quan đến tác động của biến đổi khí hậu ở các nước đang phát triển có ảnh hưởng tiêu cực đến con người và hệ thống tự nhiên”, bao gồm tác động từ các hiện tượng diễn biến chậm và các vấn đề thời tiết cực đoan [77].

Bên cạnh đó, nhiều tác giả cũng như tổ chức nghiên cứu cũng đưa ra các khái niệm về tổn thất và thiệt hại do biến đổi khí hậu. Theo Bouwer, TT&TH luan an 10 đơn giản là các mất mát do các hiện tượng thời tiết, theo đó, không bao gồm tổn thất và thiệt hại từ các hiện tượng diễn biến chậm và giới hạn phạm vi tác động trực tiếp [45]. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, TT&TH là tác động của BĐKH mà không ngăn chặn được bởi các giải pháp thích ứng và giảm nhẹ, làm nổi bật sự tương tác giữa thích ứng, giảm nhẹ và các chính sách về TT&TH. Cụ thể, theo Warner và Zakieldeen (2011), TT&TH là không thể tránh khỏi từ tác động bất lợi của BĐKH và là hậu quả của các giải pháp thích ứng, giảm thiểu không đầy đủ [84].

James và cộng sự (2014) định nghĩa “TT&TH xảy ra khi các nỗ lực giảm thiểu đã bị thất bại trong việc ngăn chặn sự gia tăng liên tục của phát thải khí nhà kính; còn các hoạt động thích ứng hiện tại không đủ để ngăn chặn tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu hiện tại và tương lai” [57]. Tương tự, Nishat và cộng sự (2013) cho rằng TT&TH là những tác động tiêu cực hiện tại hoặc trong tương lai của BĐKH mà sẽ không được giải quyết bằng các nỗ lực thích ứng [62]. Theo UNFCCC, TT&TH do BĐKH gây ra được hiểu là những thiệt hại không tránh khỏi sau khi đã thực hiện các biện pháp giảm nhẹ và thích ứng [103]. TT&TH được tạo thành từ 02 yếu tố chính: (i) Tác động từ các hiện tượng thời tiết cực đoan (extrem weather events) và; (ii) Tác động từ các hiện tượng diễn biến chậm (slow-on-set events), cụ thể: - Các hiện tượng thời tiết cực đoan như: (i) nắng nóng, rét đậm/rét hại; (ii) mưa lớn; (iii) các loại hình thiên tai như bão, lũ, lũ ống, lũ quét, sạt lở đất… có thể dẫn tới những TT&TH về con người, cơ sở hạ tầng, sản xuất nông nghiệp và vốn tự nhiên cũng như các tác động lâu dài về xã hội.

Nhìn chung, các hiện tượng thời tiết cực đoan đã được quan tâm nghiên cứu ở quy mô toàn cầu từ sớm. Thông tin về các hiện tượng thời tiết cực đoan có thể được thu thập từ thiên tai trong luan an 11 quá khứ. - Các hiện tượng diễn biến chậm là sự thay đổi dần dần các yếu tố khí hậu như: (i) sự thay đổi nhiệt độ trung bình, lượng mưa trung bình, gia tăng nhiệt độ trong các thủy vực như các con sông, hồ hay đại dương; (ii) sự dâng cao của mực nước biển; (iii) quá trình axit hóa đại dương. Những TT&TH gây ra có thể là sự chuyển đổi hay tổn thất hệ sinh thái, đa dạng sinh học, xói lở bờ biển hay mất đất, thay đổi mùa màng nông nghiệp, suy thoái đất, mất đi các ngành nghề hay yếu tố văn hóa truyền thống… ([53]; [68]; [79]).

2) Nội hàm “tổn thất” và “thiệt hại” Mặc dù UNFCCC không phân biệt giữa “tổn thất” và “thiệt hại” và hai thuật ngữ này được coi là đồng nghĩa trong các báo cáo của UNFCCC [103], tuy nhiên, một số nhà khoa học cũng đã cố gắng phân biệt, tách bạch giữa các tổn thất (losses) và thiệt hại (damages). Theo đó, “tổn thất (losses)” gắn liền với sự mất mát không thể phục hồi, ví dụ, tử vong do thiên tai liên quan đến nắng nóng hoặc sự phá hủy vĩnh viễn các rạn san hô, trong khi “thiệt hại (damage)” được coi là các mất mát có thể được giảm nhẹ hoặc sửa chữa, phục hồi, chẳng hạn như thiệt hại đối với các tòa nhà, tài sản [89]. Huq (2013) cũng cho rằng “tổn thất” là mất mát mãi mãi và không thể khôi phục trở lại, ví dụ về cuộc sống của con người, môi trường sống và loài động thực vật. Còn “thiệt hại” là có thể phục hồi, sửa chữa được như hệ thống đường giao thông, đê điều.

Theo Ủy ban kinh tế Liên hiệp quốc khu vực Châu Mỹ Latinh và Caribe (ECLAC) (2014), đối với TT&TH về môi trường, “thiệt hại” đề cập đến sự phá hủy, suy giảm hoặc thay đổi số lượng/chất lượng về tài sản, hàng hóa môi trường – những loại hàng hóa được khai thác từ vốn tự nhiên, còn “tổn thất” được định nghĩa là những mất mát chất lượng/số lượng dịch vụ môi trường – những loại không xác định được giá trên thị trường, dẫn đến suy giảm hoặc thay đổi năng suất sản xuất hoặc dòng chảy của các dịch vụ này [49]. luan an 12 3) TT&TH liên quan đến BĐKH và TT&TH do thiên tai Hiện nay, rất nhiều nghiên cứu trên thế giới đã và đang được thực hiện để làm rõ sự “đóng góp” của yếu tố BĐKH do con người tạo ra đối với các hiện tượng thiên tai, thời tiết cực đoan, vốn vẫn xảy ra trong tự nhiên. Theo Báo cáo SREX Việt Nam, “các hiện tượng cực đoan” (thời tiết hay khí hậu) đề cập đến các hiện tượng vật lý ban đầu trong đó có nguyên nhân do con người hơn là các nguyên nhân khí hậu khác [35]. Trên thực tế, các hiện tượng thiên tai, cực đoan (bão, lũ, sạt lở đất.) đã xảy ra từ rất lâu trên thế giới, trong khi BĐKH do sự phát thải KNK từ các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của con người mới được ghi nhận từ thời kỳ tiền công nghiệp, tức khoảng hơn 200 năm.

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng BĐKH đã làm gia tăng thiên tai về cả cường độ, tần suất xuất hiện của các hiện tượng thời tiết cực đoan (bão, áp thấp nhiệt đới, các đợt nắng nóng, các trận rét đậm, rét hại, sương giá, mưa đá, mưa lũ) và các tai biến như trượt lở, xói lở, lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn, cháy rừng, sa mạc hoá, dịch bệnh, từ đó gây ra các TT&TH. Theo James và cộng sự (2019), sự phát thải KNK từ con người đã làm thay đổi khí hậu và thời tiết, cùng với những thay đổi của thủy quyển, băng quyển, sinh quyển, cũng như sự phơi nhiễm và tính dễ bị tổn thương là những cấu phần chính gây nên các TT&TH [58]. Trong một nghiên cứu khác, Bouwer (2011) cũng đã cố gắng tách biệt các TT&TH do thiên tai và các TT&TH liên quan đến BĐKH, tuy nhiên, việc tách bạch rõ ràng các TT&TH là rất khó. TT&TH liên quan đến BĐKH bao gồm cả TT&TH do thiên tai gây nên, do vậy, ứng phó với thiên tai cũng là một phần của hoạt động ứng phó với BĐKH [45].

Tựu chung lại, quan điểm của các tác giả, tổ chức về cơ bản là thống nhất về khái niệm TT&TH liên quan BĐKH. Có thể hiểu, “TT&TH liên quan đến BĐKH là những mất mát không tránh khỏi sau khi đã thực hiện các biện pháp giảm nhẹ và thích ứng. Các TT&TH có thể là hậu quả của các hiện tượng thời luan an 13 tiết cực đoan nhất thời (sudden-onset events), như bão, lũ, hạn hán, nắng nóng., hoặc các quá trình diễn biến chậm, qua thời gian (slow-onset events) như nhiệt độ tăng, nước biển dâng, xâm nhập mặn, a xit hóa đại dương, hoang mạc hóa. TT&TH xảy ra đối với con người (như thiệt hại về sức khỏe, sinh kế…) và các hệ thống tự nhiên (như suy giảm ĐDSH, hệ sinh thái…)”.

Trong phạm vi nghiên cứu, Luận án không tách biệt riêng rẽ hai thuật ngữ “tổn thất” và “thiệt hại” mà xem “tổn thất và thiệt hại” là một khái niệm chung. Cũng như các nghiên cứu khác trên thế giới hiện nay, việc tách bạch rõ ràng TT&TH do BĐKH gây ra và TT&TH do thiên tai thường khó thực hiện. Các nghiên cứu trên thế giới mới chỉ ra rằng BĐKH làm gia tăng cả về cường độ, tần suất của các hiện tượng thời tiết cực đoan. Do đó, trong phạm vi Luận án, TT&TH liên quan đến BĐKH được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả các TT&TH do thiên tai (được gia tăng là do diễn biến của BĐKH) gây ra.

4) Các loại hình tổn thất và thiệt hại Theo UNFCCC, TT&TH liên quan đến BĐKH có thể được phân thành 02 loại: (i) tổn thất và thiệt hại kinh tế (economic loss and damage) và; (ii) tổn thất và thiệt hại phi kinh tế (non-economic loss and damage). TT&TH kinh tế là những tổn thất về tài nguyên, hàng hóa và dịch vụ mà có thể được trao đổi, mua bán trên thị trường, bao gồm thu nhập (từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ) và tài sản (tự nhiên và nhân tạo). TT&TH phi kinh tế là những tổn thất và thiệt hại của con người (tính mạng, sức khỏe, thay đổi nơi cư trú), xã hội (lãnh thổ, các di sản văn hóa, các tri thức bản địa) và môi trường (đa dạng sinh học và các dịch vụ hệ sinh thái) [103]. Bên cạnh cách phân loại theo bản chất của UNFCCC, TT&TH cũng có thể được phân loại theo khả năng ứng phó.

Cụ thể, theo R.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đến rừng ngập mặn tại vườn quốc gia Mũi Cà Mau" của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Ánh, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Trung Thắng, tập trung vào việc đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với hệ sinh thái rừng ngập mặn tại khu vực Mũi Cà Mau. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng hiện tại của rừng ngập mặn mà còn chỉ ra những thách thức mà hệ sinh thái này đang phải đối mặt do biến đổi khí hậu. Độc giả sẽ nhận được thông tin quý giá về tầm quan trọng của rừng ngập mặn trong việc bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Để mở rộng thêm kiến thức về các tác động môi trường liên quan, bạn có thể tham khảo bài viết "Báo cáo đánh giá tác động môi trường dự án Moka tại KCN Đông Mai, Quảng Ninh", nơi phân tích các tác động môi trường trong một dự án công nghiệp, hoặc bài viết "Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến động vật phiêu sinh tại rừng ngập mặn tỉnh Bến Tre", nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu đến động vật trong hệ sinh thái rừng ngập mặn. Cả hai tài liệu này đều liên quan đến chủ đề biến đổi khí hậu và tác động của nó đến môi trường tự nhiên, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này.