Chương 1 TONG QUAN VAN ĐỀ NGHIÊN COU 1. Những nghiên cứu về cây luỗng và sinh khối 1. Trên thể giới 1.1 Nghiên cứu về cây Luồng, Luding là cây thân ngằm dạng củ, thân khí sinh mọc cụm, chiều cao thân 15- 18m, đường kính 10-15m, ngọn cong hay hơi rủ, một số đốt gốc có vòng rễ khí sinh; King màu lụe xẵm, chiễu dài 26-32em, phần phẳng det một phía không lông, phần trên có it phần tring, bé diy vách thin 2 - 2,Sem; vòng thân không ni lên, chiều dài đốt 1,5em, ở đốt và phía dưới vòng mo déu có mội vòng lông nhung màu trắng. Chiều cao dưới cảnh 0,5 1m.
Mỗi đốt thân có nhiễu cảnh, cảnh chính 3. Be mo rụng sớm, chất da, lúc đầu màu nâu ving, lưng phú phần tring và có lông gai nhỏ miu nau; tai mo liễn với phẫn kéo di ra Rgoài của gốc phiến mo, dạng sóng, dải S-1Smm, rộng 2-3mm, phủ dày lông mỉ dạng lông bồm lợn đài lem; lưỡi mo cao 5.8mm, đầu xế răng không đều; phiền mo lật ra ngoài, gốc mat bụng cũng phủ day lông thắng cứng dạng lông bờm lợn, phẫn còn lại phủ lông gai nhỏ. “Cảnh nhỏ 8-15 lá; b lá ph lông, tai lã nhỏ, để rụng, lui lã cao Imm; chiễu dai phiến lá 10-15em, rộng 1-2em, gân cấp hai 5 hay 6 đôi. Cụm hoa không mang.
1a, mỗi đốt định 10-25 bông nhỏ, đường kính trục cụm 1-2,2em; bông nhỏ hình trứng ngược, dai 6 - 8.Smm, rộng 2 - 4mm, miu lục vàng: chiều dài mày ngoài 6- 2mm, tộng 4-Smm, đầu có mỗi nhọn nhỏ dạng gai dải 0,8-Imm; chiễu dai may trong $-6mm, Khoi cách giữa hai gir Imm, có 3 gân; chiều đài chỉ nhị mm, bao phần màu vàng hay sau Xhi khô màu tím, đài 6mm, đầu có mũi nhọn; chiều đài nhuy 6-7,5mm, phản trén của biu cing với vời và đầu nhuy đều phủ lông. Luồng có phân bổ tự nhiênở Myanma, được trồng tại Vườn thực vật Ấn Độ, ở Trang tâm nghiên cứu Lâm nghiệp Caleuta, Debra Dun và được dẫn giống vào Kerala, Dây là một trong những loài phổ biển ở Trung Quốc và Đài Loan. Ling "mọc ở những khu rừng âm, đất thấp, độ cao so với mặt nước biển đưới 1000m. Luding cũng chiu được điều kiện đất xu và khô bạn.
Đắt thích hợp là đất min trên "núi đã hoặ đất giàu nhôm và ð ít sắt hình thành ở khu vực nhiệt đới nóng âm. Luỗng được ding 48 xây dựng nhà cửa ở Myanma và Thái Lan. Nó là một trong những loài iễn vọng cho bột giấy. Kennard và Freyre (1957) sau khỉ nghiên sữu 27 loài tre trú trung 10 chỉ có mồng ăn được đã coi Luồng là loài ốt nhất cho chế biến măng vi măng non nhần và dễ cằm.
Ở Trung Quốc, nó được ding để làm “đũa, dim hoặc giấy. Theo thông tin rên mang ¢Flora of China (FOC vol. 22 Page 40) thi Lung (Dendrocalamus membranaceus Munro) còn có-têN khoa học là Bambusa ‘membranaceus là loài cây cổ thin khí sinh, cao từ 8 15m, đường kính thân từ 7- 10em, chiều dài đốt từ 34- 42em, ban đầu có phủ bội rắng, sau bóng. Cảnh mọc từ thân, có ừ 3 đến vài cảnh trên một đốt tập trung chữ yếu ở 1/3 chiều dã thân tính từ ngon xuống, cảnh ở giữa không phát tiễn lớn hơn các cảnh khác.
Be lá rụng, lúc bổ ‘iu có mẫu xanh cam, bình lip hoặc thud di, thường dài hơn đốt, mỏng. Phân ö Nam Vin ở đồng bằng ven song hoặc khu vục đồi rừng ở độ cao 500- 1000m ‘Nam (Lào, Myanma, Bắc Thái Lan, Bắc Việt Nam). Loài này cũng được xép vào chi Bambusa vì có đặc điểm thực Vật và2Ìš bắc nhưng lại có hơn các loài Bambusa một đầu cụm hoa. No là loi fe trúc quan trong nhất và có phân b6 tự nhiền rộng ở Khu vực & nhiệt đới Trung Quốc, xuẫt hiện tong rừng te trú thuẫn loài hoặc hỗn giao với cây thân gỗ lá rộng 1.2, Nghiên cứu vỀ sinh khối và khả năng hấp thụ cacbon của rừng b& mặt đất, nhưng sinh khối thực vật "Mặc đà rừng chí che phủ 31% diện tích của nó chiếm đến 75% sở với tổng sin khối thục vật trên cạn và lượng tăng trưởng hàng năm chiếm 37%.
Lượng các bon tích luỹ bởi rừng chiếm 47% tổng lượng các các loại hình sử dụng đắt khác đôi đất rừng thành ‘bon trên trái đất, nên việc chuyển có the động mạnh mé đến chu trinh carbon trên hành tỉnh. Những nghiên cứu hiện tổ có ảnh hưởng đến quá tinh tích luỹ và phát thải các nay đã hướng vào các nhân on của lớp thảm thực vật rừng [21], [30], [31]. Các hoạt động lâm nghiệp và sự thay đối phương thúc sử dụng dit, đặc biệt là sự suy thoái rừng nhiệt đới là một "nguyên nhân quan trọng làm tăng lượng CO2 tong khí quyén, ước tính Khoảng 1,6 13 tắn năm trong tổng số 6,3 tỷ tn khí CO2 /năm được phát thải ra do các hoạt động ccủa con người. Do đó, rừng nhiệt đói và sự biển động của nó có ý nghĩa rt to lớn trong việc hạn chế quá trình biến đổi khí hậu toàn cẩu [22], [30], [43], (453.
Sang thé ky XIX nhờ áp dụng các thành tựu khoa học như hoá phân tích, hoá thực vật và đặc bigt i vận dung nguyên lý twin hoàn vặt chất trong thiền nhiên, các nhà khoa học đã thu được những thành tựu đáng kể. Tiêu biễu cho lĩnh vue này có túc giả sau = Liebig, J (1862) (42), lần dẫu tiên đã định lượng VỀ sự tác động của thực ‘atti không khí và phát tri thành định luật “tồi tiểu” và sau đó ph iển thành luật luật "năng suất”. (1964) [45], đã thể hiện năng suất trên toàn thể giới bằng bản đồ năng sát, đồng thời với sự ra đời của chương tinh sinh học quốc tế "IBP" (1964) và chương trình sinh quyển con người "MAB” (1971) đã tác động mạnh m tới việc nghiên cứu sinh khối. Những nghiên cứu trong giai đoạn này tập trung vào các đối tượng đồng cỏ, savan, rừng rụng lá, rừng mưa thường xanh [42].R (1982) [32] [52], đã công bổ công trình "Sinh khối và năng.
suất sơ cấp ừng thể giới + World forest biomass and primary production data” trong đồ tập hợp 600 công tình Ua được xuất bản về sinh khối khô thân, cảnh, lá và một 6 thành phần, sản phẩm sự cẳp của hơn 1.200 lam phần thuộc 46 nước trên thể giới {22}, 261, (32) ~ Công trình nghi: cứu tương đổi toàn diện và có hệ thông về lượng các bon tích lu của rừng được thực hiện bởi Me Kenzie (2001), Theo Me Kenzie các bon trong hệ sinh ái rừng thường tập trung ở bốn bộ phận chính: thảm thực vật còn sống trên mặt dit, vật rơi rụng, rễ cấy và dit rùng. Việc xác định lượng các bon trong rimg thường được thực hiện thông qua xác định sinh khối rùng. Tuy thuộc ‘vio yêu cầu chỉ tiết của việc kiểm kế hay dự án thương mại các bon ma việt lựa chọn các bể chứa các bon được đề xuất. Các bé chứa các bon chủ yếu trong rừng.
gm: trong sinh khối ly rừng rên mặt đất và dưới mặt i; tong sinh khối cây "bụi thảm tươi (trên mặt đất và dưới mặt đất); trong sinh khối thảm mục và cây chết và trong đất [51]. CCác nhà sinh thái rùng dã dành sự quan tâm đặc biệt đến nghiên cứu sự khác nhau về sinh khối rừng ở các vùng sinh thái. Tuy nhiên, việc xác định đầy đủ sinh. khối rừng không đễ dàng, đặc biệt là sinh khối của hệ rễ, trong đất rừng, nên việc.
làm sáng tỏ vấn để trên đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn nữa mới đưa ra được những dẫn liệu mang tính thực tin và có sức thuyết phục cao. Việc xác định sinh khối rừng chủ yếu được thực hiện theo 3 cích iẾ cận sau: = Tiếp cận thứ nhất dựa vào mồi lên hệ giữa sinh khối rùng với kích thước của cây hoặc của từng bộ phận cây theo dạng bảm toán học nào đó, Hướng tgp cận này được sử dụng phổ biến ở Bắc Mỹ va châu Âu 36], (44), [4], (49}, [50]. Tuy nhiền, do khó khăn trong việc thu thập fỂ cy, nên hướng tiếp cận này chủ yếu dùng để xác định sinh khi của bộ phận trên mặt đt 27], [34], 37], [#1] Hiện nay một số phương tình ton xây dựng cho ước tính sinh khối được sử dụng khá phổ biển sồm: Brown (1997) và Chave (2005) cho rùng nhiệt đồi ở phạm vi toàn cầu [23], {24}, {25}, [29] và Ziais (2005) cho các loài cây ở Châu Âu. Cách iếp cận này xá cao vit phù hợp với quy mô quốc gia, vùng hoặc dự ấn cụ trang lại độ chính thể, Các biển thường được sử dụng trong các phương tình toán là đường kính ngang ngực, chiéu cao vit ngọn và các him sử dụng phổ biến là hàm mũ, tuyến tính.
Tuy shiên dễ lập được mô hình tn thì việc do đếm trực tiếp sinh khối tươi thường lage én hình bằng phương pháp chặt hạ. Ngoài các mô hình toán ước tính trực ty sinh khối rừng, th việc vóc tin sinh khối rừng có thể thực iện thông qua trữ lượng gỗ, BEF, BCEF và WD [29], (S1] - Tiếp cận thứ bai để xác định sinh khối rừng là đo trực tiếp quá trình sinh lý điều khiển cân bằng các bon trong hệ sinh thái. Cách này bao gồm việc do cường độ quang hợp và hô hấp cho từng thành phẩn trong bệ sinh thái rừng (lá, cành, thin, rổ), sau đó ngoại suy ra lượng CO2 tích luỹ trong toàn bộ hệ sinh thái. thái ừng thường sử dụng tiếp ận này để dy tinh tổng sản lượng nguyên, hồ hip của hộ sinh thái và sinh khối hiện có của nhiều dạng rừng trồng hỗn giao ở Bắc Mỹ 123).
Tuy nhiên cách iếp cận này đồi hỏi các trang thiết bị chính xác, hiện đại nên Xhông phi hợp với các nước đang phát tiển như Việt Nam. cận thứ ba là ứng dụng kỹ thuật viễn thám trong ước tinh sinh khối rimg, Trong cách tiếp cận này, các ảnh vệ tỉnh có độ phân giải cao và đặc biệt à ảnh ra đa cho phép có thể đo dém tương đối chính xác kích thước cây rừng và từ đó có thé sắc định sinh khối và ữ lượng các bon của rừng. Phương pháp này chủ yếu áp dụng cho đánh gi sinh khối và lượng các bon trên mặt đắt ở quy mô lớn, nhưng nó cũng khá tốn kém do yêu cầu về chất lượng ánh và ác điều tr mặt đặt. ‘Dua trên nghiên cứu về sinh khối rừng, các tính toán về trữ lượng các bon trong sinh khối được tiến hành.
Việc nghiện cứu trữ lượng các bon trong sinh khỏi thường được tiến hành bằng cách rit ‘ti và phân tích trong phòng thí nghiệm.