CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1. Cơ sở lý thuyết về lập địa 1. Khái niệm về lập địa - Ở Liên Xô, lập địa được gọi là điều kiện nơi sinh trưởng, nghĩa là tác động tổng hợp của các yếu tố ngoại cảnh hình thành nên các kiểu rừng nhất định và ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng của thực vật rừng - Ở Đức, lập địa được hiểu là một phạm vi địa bàn nhất định với tất cả những yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến sự sinh tưởng của cây cối.Schwanecker (1971), trên cơ sở thuyết lâm hình của Suchaev (1958) đã đưa ra khái niệm cụ thể về lập địa như sau: * Các yếu tố tĩnh: - Khí hậu.
- Địa hình - Đất Sinh thái cảnh (lập địa theo nghĩa hẹp) Sinh địa quần thể tự nhiên (lập địa theo nghĩa rộng) Sinh địa quần thể tác nhân. * Các yếu tố động: - Thế giới động vật - Thế giới thực vật - Thế giới sinh vật Quần thể sinh vật * Các yếu tố tác nhân: Xã hội con người - Ở Mỹ, D.M Smith (1996) cho rằng lập địa là tổng thể hoàn cảnh của một địa phương và có ý nghĩa truyền thống Water (1925) cho rằng lập địa là tất cả các yếu tố ngoại cảnh (khí hậu - thủy văn, đá mẹ - thổ nhưỡng, sinh vật, con người) thường xuyên tác động đến sự sống của sinh vật. Pogrebnhiac (Ucraina) đã phân chia lập địa làm cơ sở cho trồng rừng và xác định các kiểu rừng dựa Luan van 5 trên hai yếu tố chính là độ phì và độ ẩm của đất. Trong khi đó Blaglovidop và Buadop (1958), Tretop (1981) thì nền lập địa ở vùng Sankt-Peterburg lại được phân chia dựa vào các yếu tố: đá mẹ hình thành 6 đất, địa hình và chế độ thoát nước.
Tretop trong quá trình nghiên cứu còn bổ sung thêm tiêu chuẩn phân chia lập địa là kiểu mùn vì ông cho rằng kiểu mùn phản ánh quá trình hình thành và phát triển độ phì đất rừng. Theo Đỗ Thanh Hoa, (1993) có liệt kê các khái niệm về lập địa, như: Lập địa tiếng Anh là site, tiếng Pháp là Station, tiếng Đức là Srandort đây là từ ghép của stand và ort có nghĩa là hoàn cảnh tự nhiên ở một địa phương hay địa bàn cụ thể. Ở Việt Nam dùng theo phiên âm Hán - Việt là Lập địa. Theo Đỗ Thanh Hoa, (1993) trích dẫn nghiên cứu của Sucasov một chuyên gia phân loại rừng ở miền Bắc Liên Xô (cũ), nay là Liên bang Nga cho rằng: Kiểu điều kiện lập địa là tập hợp những khoảnh đất có khả năng xuất hiện những thực vật giống nhau, nghĩa là ở phức hệ giống nhau về các yếu tố tự nhiên như khí hậu đất đai.
Trong giáo trình trồng rừng - trường Đại học Lâm nghiệp có định nghĩa về lập địa như: Lập địa là hoàn cảnh nội bộ của rừng ở đây bao gồm khí hậu và thổ nhưỡng, giới hạn dưới của nó là tầng đất mà rễ cây có thể đạt được, giới hạn biên giới bên trên của tán cây, đồng thời phải hiểu là biên giới này không rõ rệt. Không những thế, hoàn cảnh bên trong và hoàn cảnh bên ngoài của rừng còn có ảnh hưởng tương hỗ, chuyển hoá lẫn nhau; các nhà lâm nghiệp nên hiểu lập địa ở nghĩa rộng về cấp độ phì của sinh thái học là độ phì khí hậu và độ phì thổ nhưỡng. Đỗ Thanh Hoa trích dẫn khái niệm Walter (1925): lập địa là tất cả các yếu tố ngoại cảnh thường xuyên tác động đến sinh trưởng và phát triển của thực vật. Theo tác giả cho rằng: Lập địa bao gồm tất cả các yếu tố như: Khí hậu, địa hình, sinh vật (thực vật, động vật, vi sinh vật) tạo thành một quần lạc sinh địa.
Tất cả các yếu tố trong quần lạc sinh địa có ảnh hưởng qua lại, tác động lẫn Luan van 6 nhau và phụ thuộc vào nhau, trong đó con người có vai trò đặc biệt quan trọng. Nguyễn Văn Khánh, (1996) khi nghiên cứu về lập địa đã đưa ra khái niệm như: Lập địa bắt đầu từ khái niệm phát sinh và mang tính khu vực, không gian thuộc về một lãnh thổ bất kỳ bắt đầu từ toàn bộ trái đất và kết thúc ở một khoảnh nhỏ bé. Một số nguyên tắc trong phân chia lập địa lâm nghiệp 1. Nguyên tắc khách quan Trong điều tra thu thập và xử lý số liệu phải mang tính khách quan, trung thực.
Vì mỗi vùng miền khác nhau có những nét đặc trưng riêng của thiên nhiên, cũng như sự tác động của con người ở đó, tuỳ thuộc vào phong tục tập quán của người dân địa phương. Vì vậy khi điều tra, thu thập số liệu cần phải tuân thủ tính khách quan. Nguyên tắc chung lãnh thổ Mỗi đơn vị phân vùng lớn hoặc nhỏ đều là một lãnh thổ cụ thể, chỉ tồn tại trong tự nhiên có một và một tên địa lý riêng. Nguyên tắc đồng nhất tương đối Một cá thể phân ra thường mang tính đại điện và cá thể thuộc cấp phân vị càng nhỏ tính đại điện càng cao.
Vì tự nhiên vô cùng phức tạp, một địa tổng thể được coi là đồng nhất, thực ra cũng chỉ đồng nhất trên nét lớn, theo đa số, đây đó còn xen kẽ những đặc điểm khác và luôn tạo ra những cái riêng bên cạnh những cái chung. Dựa vào tính đồng nhất tương đối cho phép xác định một đơn vị lãnh thổ bằng những ưu thế, đặc thù của nó bỏ qua những điều kiện phụ. Nguyên tắc tổng hợp Phân vùng lập địa lâm nghiệp được coi như là phân vùng địa tổng thể thì nguyên tắc tổng hợp là nguyên tắc rất quan trọng. Vì nó đòi hỏi phải tính toán đến mọi thành phần tham gia và như thế đã tránh cho phân vùng lập địa lâm nghiệp Luan van 7 dù có lấy khí hậu làm thành phần chủ đạo cũng không biến thành phân vùng riêng về khí hậu.
Mà xem xét một cách tổng hợp và ràng buộc giữa các thành phần, thống nhất chúng lại với nhau thành một thể tổng hợp hoàn chỉnh. Nguyên tắc đặt và gọi tên Phân vùng lập địa là sự phát triển và giới hạn một cách đúng đắn, các lập địa có đặc thù riêng và cần một biện pháp tác động riêng, do đó tên gọi phải đạt những yêu cầu sau: - Chỉ rõ vị trí địa lý và tính không lặp lại trong không gian. - Dễ hiểu nhưng phải phản ánh được bản chất của lập địa. - Nhất quán từ trên xuống dưới.
- Thường mang theo tên địa phương. Như vậy tên gọi của lập địa ngoài những cá thể mang đặc điểm riêng ra, tên gọi của chúng còn mang theo tên của địa phương nơi các thể đó sinh ra. Tình hình nghiên cứu lập địa trên thế giới 1. Tình nghiên cứu lập địa trên thế giới Những hiểu biết của nông dân thế giới về đất trải qua hàng chục thế kỷ là những thông tin quý báu.
Những thông tin này được bổ sung uyên bác của các nhà khoa học, tạo sự phát triển từng bước, để ra đời nhiều công trình nghiên cứu về đất, đặc biệt là những nghiên cứu về đánh giá đất và phân chia lập địa đã giúp con người hiểu và nắm được về khoa học đất, từ đó họ có thể quản lý sử dụng đất đai ngày một hiệu quả hơn. Kauritrev và Gretrin (1969) có trích dẫn nghiên cứu của Pogrebnhiac (Ucraina - 1962) một chuyên gia đã phân chia lập địa làm cơ sở cho trồng rừng và xác định các kiểu rừng dựa trên 2 tiêu chí chính là độ phì và độ ẩm của đất. Độ phì được chia làm 4 cấp: Mỗi nhóm ứng với một kiểu rừng nhất định (Thông, Bạch dương.) và biểu thị bằng chữ cái A, B, C, D. Độ ẩm chia làm 6 cấp từ khô đến đầm lầy và biểu thị bằng các chữa số: rất khô (0), khô (1), ẩm vừa (2), ẩm (3), ướt (4) và đầm lầy (5).
Việc xác Luan van 8 định độ phì có thể dựa vào tác dụng chỉ thị của tầng cây gỗ do chúng có bộ rễ ăn sâu và quan hệ chặt chẽ với độ phì của đất, còn độ ẩm dựa vào lớp thảm tươi do chúng nhạy cảm với sự thay đổi của độ ẩm.A (1972) trích dẫn nghiên cứu của Trectov (1981) về 3 yếu tố: Đá mẹ hình thành đất, địa hình, chế độ thoát nước phản ánh tiềm năng sản xuất của lập địa và tác động tổng hợp thông qua sự hình thành các kiểu mùn được hình thành ở vùng Đông Bắc Liên Xô (cũ), mối quan hệ các kiểu mùn hình thành với tác động của con người và năng suất của lâm phần. Theo ông chính các kiểu mùn rừng là thực tại của các lập địa trong một sinh khí hậu nhất định phân loại lập địa được phân chia như sau: - Nhóm lập địa dựa vào điều kiện thoát nước để phân chia. - Nhóm phụ lập địa dựa vào điều kiện thoát nước và đá mẹ hình thành đất để phân chia. - Kiểu lập địa dựa vào 3 yếu tố trên: Điều kiện thoát nước, đá mẹ hình thành đất và địa hình.
Với điều kiện thoát nước Trectov phân chia thành 6 kiểu như: Bảng 1. Phân chia điều kiện thoát nước của Trectov - Thoát nước mạnh Độ ẩm đất thường rất khô và khô - Thoát nước bình thường Độ ẩm đất thường ẩm vừa - Thoát nước không tốt Độ ẩm đất thường - Thoát nước kém Độ ẩm đất ướt - Tạo thành dòng chảy rất yếu Đất rất ẩm ướt - Tạo thành dòng chảy yếu Đất ướt Đỗ Thanh Hoa, 1993 trích dẫn những nghiên cứu của Đức, trong đó tiêu biểu với các tác giả: H. Hunger (1982) thuộc Luan van 9 trường đại học Dresden đã soạn thảo ra một giáo trình: “Giáo trình điều tra lập địa chú ý tới vùng nhiệt đới”, 4 đơn vị lập địa cơ bản được đưa ra và có sự so sánh với các đơn vị cảnh quan và khí hậu như: Bảng 1. Bốn đơn vị lập địa cơ bản của H.
Đơn vị cảnh quan tự nhiên Đơn vị khí hậu Đơn vị lập địa Đại cảnh quan Vùng khí hậu Vùng sinh trưởng Cảnh quan (riêng rẽ) Dạng khí hậu Khu sinh trưởng Bộ phận cảnh quan Dạng khí hậu Phạm vị bức khảm Cảnh quan cơ sở Dạng khí hậu địa hình Dạng lập địa Đỗ Thanh Hoa, 1993 cũng trích dẫn về nghiên cứu lập địa của nhà khoa học Trung Quốc, Dương Kế Cảo và các cộng sự cho thấy: Áp dụng phương pháp điều tra và phân vùng lập địa ở một số nơi thuộc Đông Bắc Trung Quốc (vùng Thái Hoàng Sơn, rộng khoảng 100.