Chương 1. Bối cảnh văn hoá của sự hình thành lý thuyết nhà nước pháp quyền và của việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam. Xây dựng nhà nước pháp quyền trong bối cảnh văn hoá truyền thống Việt Nam- sự tiếp biến, những thuận lợi, và những khó khăn. Phương hướng cơ bản xây dựng nhà nước pháp quyền phù hợp với bối cảnh văn hoá truyền thống Việt Nam.
BỐI CẢNH VĂN HOÁ CỦA SỰ HÌNH THÀNH LÝ THUYẾT NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ CỦA VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM Trong Lời giới thiệu cho công trình “ Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam” của Viện sĩ Trần Ngọc Thêm, Giáo sư Phạm Đức Dương- Chủ tịch Hội Đông Nam Á học Việt Nam cho biết: “ Trong khoa học nhân văn không có khái niệm nào lại mơ hồ như khái niệm văn hoá”[81, tr20]. Cho nến nay chưa có một định nghĩa thống nhất về văn hoá, thậm chí có người cho rằng không có thuật ngữ nào phổ biến và nhiều nghĩa hơn thuật ngữ “văn hoá.” Người ta sử dụng nó cho nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội và con người, nó được hàng loạt các ngành khoa học nghiên cứu. Vào năm 1952, hai nhà nhân học người Mỹ là A.Kluckhohn, trong công trình “ Văn hoá: tổng quan về khái niệm và định nghĩa” đã tập hợp được 161 định nghĩa về văn hoá, trong đó định nghĩa sớm nhất vào năm 1871, muộn nhất là vào năm 1951 [32, tr16]. Đề tài luận văn này đề cập đến vấn đề văn hoá.
Cho nên, để làm cơ sở cho việc nghiên cứu tiếp theo, trước tiên chúng tôi sẽ trình bày nhận thức của mình xung quanh khái niệm văn hoá. Nhận thức về khái niệm văn hoá. 7 Người phương Đông đã sớm có quan niệm về văn hoá. Trong Kinh Dịch, quẻ Bỉ đã đã xuất hiện hai từ “văn” và “hoá”: “ Quan hồ nhân văn dĩ hoá thành thiên hạ.
Có lẽ người sử dụng từ “ văn hoá “ sớm nhất là Lưu Hướng (năm 77- 6 tr.CN), người thời Tây Hán. Văn hoá được ông quan niệm như là một phương thức giáo hoá con người- văn trị giáo hoá. Văn hoá ở đây được dùng đối lập với vũ lực: phàm dấy việc võ là vì không phục tùng, dùng văn hoá mà không sửa đổi, sau đó mới thêm chém giết [94, tr18]. Trong cách quan niệm của người phương Đông, văn đối lập với võ.
Văn là vẻ đẹp- cái đẹp của tinh thần. Hoá là trở thành. Văn hoá là trở thành đẹp đẽ về tinh thần. Như vậy, văn hoá gắn liền với giáo dục tinh thần, nhân cách con người.
Ở phương Tây, người Pháp, người Anh có từ culture, người Đức có từ kultur, người Nga có từ kultura, mà những chữ này được dịch sang tiếng Việt là văn hoá. Những chữ này bắt nguồn từ tiếng Latinh cultus có nghĩa là trồng trọt được dùng theo hai nghĩa: cultus agri là "trồng trọt ngoài đồng" và cultus animi là "trồng trọt tinh thần". Nghĩa thứ hai này được dùng để chỉ văn hoá. Văn hoá mang nghĩa là sự đào tạo, giáo dục con người, đào luyện tinh thần con người.
Cách quan niệm này cũng giống như người phương Đông. Văn hoá là một hiện tượng phổ quát của nhân sinh. Văn hoá “ vô sở bất tại”, không đâu không có. Tuân tử ngày xưa có phân biệt Tính và Nguỵ.
Tính là những gì tự nhiên. Ngụy là những gì nhân vi. Nguỵ chính là văn hoá. Văn hoá là nhân hoá.
Văn hoá biểu hiện ở cách thức, kiểu nhân vi. Xét ở nghĩa chung nhất, văn hoá biểu hiện ở kiểu nhân vi, kiểu sống, lối suy nghĩ và cách hành xử của con người. 8 Học giả Đào Duy Anh quan niệm: “Hai tiếng văn hoá chẳng qua chỉ là chung tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng: Văn hoá tức là sinh hoạt”[1, tr13]. Văn hoá là cách thức, kiểu sinh hoạt của con người.
Cách quan niệm này của gần với định nghĩa về văn hoá của UNESCO. Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO phát biểu: “ Đối với một số người, văn hoá chỉ bao gồm những kiệt tác trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động. Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hoá họp năm 1970 tại Venise”[81, tr20]. Trong đề tài này, khái niệm văn hoá được hiểu theo nghĩa rộng được cộng đồng quốc tế chấp nhận: “Tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác.” Văn hoá gồm trong tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác chứ văn hoá không phải là tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác.
Văn hoá không phải là tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lao động, pháp luật. Văn hoá biểu hiện ở tất cả những gì do con người tạo ra trong quá trình tương tác với tự nhiên và xã hội, nhưng bản thân sản phẩm do con người tạo ra không phải là văn hoá. Văn hoá không phải là một vật nhưng không vật nào do con người tạo ra không có mặt văn hoá của nó. Mặt văn hoá trong tất cả những thứ do con người sáng tạo ra biển hiện ở kiểu sống, ở phương thức sinh hoạt của con người.
Cách hiểu này được tiếp thu từ những quan niệm về văn hoá của các nhà văn hoá học Việt Nam. Giáo sư Trần Quốc Vượng hiểu: “ Văn hoá là thế ứng xử, năng động, của một cộng đồng ( ứng xử tập thể ) hay một cá nhân ( ứng xử cá 9 nhân ) đứng trước thiên nhiên, xã hội to nhỏ và đứng trước chính mình. Văn hoá là lối sống ( mode de vie ), là nếp sống ( train de vie ), tập thể và cá nhân” [95, tr87]. Đi sâu vào bản chất của văn hoá, với một cách tư duy thao tác luận, nhà văn hoá học Phan Ngọc quan niệm con người có một kiểu lao động riêng: anh ta mô hình hoá một vật bên ngoài theo cái mô hình trong óc mà anh ta tiếp thu hay xây dựng ra.
Do đó anh ra có một quan hệ bất biến: quan hệ giữa thế giới các mô hình trong óc anh ta, tức là thế giới các biểu tượng với cái thế giới thực tại đã bị anh ta mô hình hoá. Cả hai thế giới đều được hiện thực thành những vật cụ thể. Từ quan niệm như vậy, Phan Ngọc định nghĩa: “Văn hoá là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc mỗi cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại đã bị cá nhân hay tộc người này mô hình hoá theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng. Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hoá dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác với kiểu lựa chọn của cá nhân hay tộc người khác” [69, tr19-20].
Cách hiểu văn hoá biểu hiện ở kiểu lựa chọn ( hay là kiểu sống, nếp sống ) như vậy cũng giống với cách hiểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh về ý nghĩa của văn hoá: “ Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương tiện sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó chính là văn hoá. Văn hoá là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [35, tr431]. 10 Tóm lại, chúng tôi hiểu văn hoá là kiểu nhân hoá, kiểu nhân vi hình thành trong sự tương tác giữa con người với môi trưởng tự nhiên và xã hội.
Văn hoá biểu hiện ở tất cả những gì do con người sáng tạo ra nên văn hoá có một phạm vi rất rộng lớn. Tiếp cận từ lý thuyết hệ thống, Viện sĩ Trần Ngọc Thêm đã chỉ ra cấu trúc của hệ thống văn hoá gồm: văn hoá nhân thức ( nhận thức về vũ trụ, nhận thức về con người; văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên ( văn hoá tận dụng môi trường tự nhiên, văn hoá ứng phó với mô trường tự nhiên); văn hoá ứng xử với môi trường xã hội ( văn hoá tận dụng môi trường xã hội, văn hoá ứng phó với môi trường xã hội); văn hoá tổ chức cộng đồng ( văn hoá tổ chức đời sống tập thể, văn hoá tổ chức đời sống cá nhân) [81, tr30]. Bối cảnh văn hoá của sự hình thành lý thuyết nhà nước pháp quyền.Nhà nước pháp quyền- một lý thuyết của phương Tây. Thuật ngữ “Rechtstaat”- “nhà nước pháp quyền” khởi nguồn từ những nhà hiến pháp học và những nhà triết học pháp quyền của Đức và Áo vào thế kỷ XIX.
Trong khi đó, người Anh, Mỹ lại phát triển một chế độ mà họ gọi là “Rule of law” - pháp quyền1.Neil Cormick, “Rechtstaat” của Đức và “Rule of law” của Anh- Mỹ chỉ khác nhau về thuật ngữ còn nội dung thì giống nhau.] Trong các thuật ngữ “ nhà nước pháp quyền” (Rechtstaat) và “ pháp quyền “(Rule of law), Việt Nam đã chấp nhận thuật ngữ “nhà nước pháp quyền.” Trước khi khảo sát bối cảnh văn hoá của sự hình thành lý thuyết nhà nước pháp quyền, cần phải chỉ ra điểm cốt yếu của nhà nước pháp quyền. Tuy nhiên, đây là một vấn đề không dễ dàng. Giáo sư Umbach cho rằng, cũng như nhân quyền, thuật ngữ “ nhà nước pháp quyền “ thường chỉ được dùng như một cái 1 Có người dịch thuật ngữ này là “pháp trị “. 11 mác mà không mô tả được nội dung.
Ông cho biết ngay cả Châu Âu cũng không có những tiêu chí thống nhất về các đặc điểm thiết yếu của một nhà nước pháp quyền [ 89 ]. Có thể khó khăn trong việc chỉ ra những tiêu chí cơ bản để khẳng định một nhà nước được gọi là nhà nước pháp quyền, nhưng dù sao vẫn phải có yếu tố có thể coi là điểm cốt yếu của nhà nước pháp quyền. Joef Thesing cho rằng con người là đối tượng hàng đầu của nhà nước pháp quyền.