đặt vấn đề tại sao khi có văn học viết rồi thì văn học dân gian đã không teo đi, ngược lại vẫn tồn tại như một dòng riêng và phát triển, do đó vẫn tiếp tục và tăng cường vai trò làm nền cho sự kết tinh của văn học viết. Từ đó, tác giả đã đề xuất cần nhìn nhận mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết trong cả tiến trình lịch sử văn học dân tộc. Trần Đức Ngôn lại quan tâm đến các hình thức tương tác cơ bản giữa văn học dân gian và văn học viết. Tác giả phát hiện các hình thức tương tác phổ biến.
Đầu tiên là hình thức nhại. Trần Đức Ngôn khẳng định: “Hoàn toàn không có chuyện văn học dân gian nhại văn học dân gian. Những người làm văn học dân gian không bao giờ nhại nhau. Các 13 trường hợp nhại đều là văn học dân gian nhại văn học viết.
Bắt đầu từ sự nghiêm trang trong văn học bác học, văn học dân gian bẻ cong thành một tác phẩm khác, mất đi ý nghĩa đích thực và hoàn toàn mang ý nghĩa trào lộng” [115]. Tiếp theo là hình thức mô phỏng. Nói đúng hơn đây là những tác phẩm viết theo hình thức “ngụy dân gian”, nhiều người dễ nhầm tưởng là tác phẩm dân gian. Theo tác giả, đối với những tác phẩm này thì việc đi tìm sự khác biệt giữa tác phẩm dân gian mô phỏng và tác phẩm đích thực là rất khó khăn.
Cuối cùng là hình thức thâm nhập lẫn nhau. Tác giả cho rằng có hai dạng: thâm nhập lẫn nhau về chất liệu văn học và thâm nhập lẫn nhau về phong cách. “Sự thâm nhập lẫn nhau về chất liệu, dù diễn ra phổ biến, vẫn không làm xóa nhòa ranh giới giữa văn học dân gian và văn học viết. Mỗi tác gia văn học viết đều có ý thức rõ ràng rằng mình sử dụng chất liệu văn học dân gian để làm gì và sử dụng như thế nào.
Sự có mặt của chất liệu văn học dân gian trong tác phẩm văn học viết làm cho các tác phẩm này gần gũi với dân gian nhưng không làm biến chất bác học” [115]. Phạm Quang Trung khi Suy nghĩ thêm về mối quan hệ giữa văn chương dân gian với văn chương viết tiếp tục chỉ rõ những tác động qua lại của văn học dân gian đối với văn học viết và văn học viết đối với văn học dân gian. Văn chương dân gian tác động đối với văn chương viết, tập trung vào những ảnh hưởng dễ nhận thấy về cách sử dụng ngôn từ, yếu tố tục, chất phản kháng từ dân gian đã thật sự tác động tới tinh thần, làm nên giá trị tư tưởng nhiều truyện thơ Nôm. Tính nguyên hợp của văn chương dân gian như lời, ca, múa cũng được văn chương viết vận dụng một cách hài hòa với nhau.
Theo Phạm Quang Trung, tác động của văn chương viết đối với văn chương dân gian cũng có nhiều. Tác giả khái quát thành bốn sự tác động: “Một là, khi văn chương viết hình thành và trở nên phổ biến thì một trong những nhiệm vụ trọng yếu đầu tiên của nó là ghi lại văn chương dân gian, thật sự chắp thêm đôi cánh cho bộ phận văn chương vốn là duy nhất trước đó. Từ đây, văn chương dân gian có thể bay xa hơn, vọng sâu hơn, để rồi ảnh hưởng xã hội và tác động văn chương của nó ngày càng được khẳng định. Hai là, vai trò của các tên tuổi lớn đối với những sinh hoạt văn chương, văn nghệ dân gian.
Ba là, các nghệ sĩ dân gian được gần gũi thường xuyên với các tác giả danh tiếng, học hỏi ở họ nhiều điều về kỹ thuật viết văn, làm thơ, nhất là ý thức trau dồi văn chương theo những điều khe khắt mà tất yếu nếu muốn sáng tạo nên những tác phẩm vừa có ý nghĩa xã hội 14 vừa có ý nghĩa nghề nghiệp. Bốn là, lí luận văn chương nhờ gắn bó mật thiết với sự ra đời và hoàn thiện của văn chương viết có điều kiện phát triển, để rồi, bước vào thời hiện đại, nó tự giác đặt ra nhiệm vụ xây dựng một hệ thống lí thuyết hoàn chỉnh, có khả năng bao quát không chỉ những hiện tượng, trạng thái tiêu biểu nhất của văn chương viết mà cả văn chương dân gian. Nhờ một hệ thống lí luận khoa học như thế, văn chương dân gian càng có điều kiện nhận chân ra mình, phát huy thêm những sức mạnh vốn có, nhằm ngày càng thỏa mãn những nhu cầu tinh thần ngày một cao của xã hội” [115, tr. Nhìn mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết ở góc nhìn hẹp của thể loại truyện cổ tích nhà văn, Võ Quang Trọng cho rằng: “Truyện cổ tích do nhà văn sáng tác có cội nguồn gần gũi và mật thiết với truyện kể dân gian, trong đó trước nhất phải kể đến truyện cổ tích dân gian.
Thể loại văn học này phản ánh rõ nhất mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết. Truyện cổ tích nhà văn là một hiện tượng lớn, tồn tại trong lịch sử hình thành và phát triển của nhiều nền văn học thế giới” [115, tr. Trong bài viết này, tác giả đã bàn về hai vấn đề có tính chất cốt lõi: khái niệm truyện cổ tích văn học và đặc trưng của thể loại này. Về khái niệm thể loại, theo Võ Quang Trọng, dù ở Nga đã thống nhất sử dụng thuật ngữ “truyện cổ tích văn học” (literaturnaia xkadka) nhưng ở Việt Nam, cho đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn chưa đưa ra được một khái niệm chung.
Có người gọi là “truyện cổ tích mới” (Vân Thanh, Thu Thảo); có người gọi “truyện cổ tích của văn học thành văn” (Chu Xuân Diên); lại có người gọi là “truyện cổ tích thành văn”; “truyện cổ tích của nhà văn”. Về đặc trưng thể loại, Võ Quang Trọng khẳng định, dù truyện cổ tích dân gian và truyện cổ tích của nhà văn có nhiều đặc điểm chung giống nhau, nhưng truyện cổ tích của nhà văn cũng có những nét riêng của một thể loại văn học viết. Vì truyện cổ tích của nhà văn là một thể loại thuộc sáng tác cá nhân, không phải là sáng tác tập thể, và được lưu truyền bằng văn bản nên không có tính dị bản như cổ tích dân gian truyền miệng. “Như vậy, truyện cổ tích của nhà văn đã chuyển từ hình thức truyền miệng dân gian sang hình thức văn học viết, từ khuyết danh đến có tác giả cụ thể.
Nếu ở truyện cổ tích dân gian có nhiều dị bản khác nhau và hàng loạt mô típ nghệ thuật có sẵn được lặp đi lặp lại nhiều lần thì truyện cổ tích của nhà văn là sáng tác duy nhất và không lặp lại, được thể hiện thông qua cá tính sáng tạo của nhà văn và phát triển theo quy luật sáng tạo văn học. 15 Hoàng Cẩm Giang trong bài viết Sự thâm nhập và tái sinh của một số mô thức tự sự dân gian trong văn xuôi Việt Nam từ 1986 đến nay đã chỉ rõ quá trình thâm nhập và tái sinh của một số mô thức truyện kể dân gian trong văn học viết. Trước hết, đó là cuộc “xâm lăng” của cổ tích và huyền thoại. Tác giả viết: “Các truyện kể dân gian (cổ tích, huyền thoại, truyền thuyết) thường thâm nhập vào các tự sự hiện đại theo hai con đường chính: lối “giả huyền thoại, giả cổ tích” và lối “truyện cổ viết lại”.
Ngoài ra, chúng ta cần nhắc đến một loại thứ ba “truyện lồng truyện” - theo nghĩa là các truyện kể dân gian được trích dẫn một phần hay nguyên vẹn trong lòng các tự sự hiện đại tùy theo mục đích của các nhân vật và diễn biến câu chuyện” [115, tr. Từ đây, Hoàng Cẩm Giang đã khảo sát một số tác phẩm để minh chứng cho sự “xâm lăng” này. Đó là trường hợp của nhà văn Tạ Duy Anh với tác phẩm Đi tìm nhân vật khi đã đưa ra phần phụ lục gồm bốn tự sự dân gian được trích dẫn nguyên vẹn là Rùa và thỏ, Trí khôn của ta đây, Tấm Cám, Mị Chậu Trọng Thủy. Trường hợp đáng lưu ý tiếp theo là cuốn tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh với sự xuất hiện huyền thoại Ông Đùng bà Đà.
Theo Hoàng Cẩm Giang, huyền thoại này không được đưa vào tiểu thuyết ở hình trạng nguyên vẹn của nó mà bị cắt rời thành nhiều mảnh và được xâu chuỗi lại theo một tuyến tính mới dọc theo tác phẩm. Thứ hai, là những biến đổi trong cấu trúc thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết. “Tiếp nhận những yếu tố của văn học dân gian, các nhà văn của chúng ta đã sáng tạo nên những “folkore hiện đại”, đã làm một cuộc cách mạng trong tư duy thể loại so với truyền thống. Tất cả các hiện tượng nói trên: “giả cổ tích”, “truyện cổ viết lại”, “truyện lồng truyện” đều tự hóa thân thành những phương thức kể chuyện đặc biệt trong các tự sự hiện đại, góp phần làm biến đổi cấu trúc thể loại của chúng.
Tác giả cho rằng sự có mặt yếu tố huyền thoại trong cấu trúc tác phẩm đã mang lại cho tác phẩm chất thơ nhẹ nhàng, thấm đượm, đồng thời bao bọc các nhân vật và tình tiết bằng một thứ không khí huyền hoặc, bí ẩn. Nó đã tạo nên một không - thời gian đa khối, đa chiều: thế giới trong đó vừa trần trụi, nghiệt ngã, đầy rẫy khổ đau lại vừa thẳm sâu, mênh mông, kì ảo. Một trong những vấn đề lí luận nổi bật trong những sáng tác dân gian là yếu tố kì ảo, tính huyền thoại. Mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết, do đó, cũng được nhìn từ yếu tố thi pháp này.
Đặt vấn đề Huyền thoại văn chương: Thời điểm phát sáng và biến hóa trong văn học viết hiện đại, Đặng Anh Đào đã 16 thừa nhận huyền thoại trong văn học viết ảnh hưởng sâu sắc từ văn học dân gian. Tác giả khẳng định, chúng ta có thể tìm thấy bóng dáng sự biến hóa của huyền thoại văn chương ở mọi thời điểm phát triển của lịch sử văn chương viết, thật thiên hình vạn trạng. “Nếu không có một bề dày thẩm thấu văn học dân gian thì người đọc hiện đại không thể rung động đến tận tâm can vì những chiều sâu của triết lí hoặc phong cách tài hoa, giọng điệu mới mẻ in dấu ấn của những tài năng độc đáo - dẫu giữa họ tưởng như không có một nét gì chung” [115, tr. Theo Đặng Anh Đào, những khuôn mẫu muôn thuở của văn học dân gian đã được tác giả hiện đại tìm đến để chứa đựng những vấn đề cấp thiết của hiện sinh; chính huyền thoại đã kích thích năng lực phát hiện thông điệp, sự đồng sáng tạo trong tiếp nhận của độc giả.