phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. luận văn gồm 2 chương, 5 tiết. 14 Chƣơng 1 QUAN NIỆM VỀ HẠNH PHÚC VÀ HẠNH PHÚC TRONG GIA ĐÌNH: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN 1. Quan niệm về hạnh phúc 1.
Quan niệm về hạnh phúc trong lịch sử Đồng hành cùng quá trình sống là hành trình tìm kiếm hạnh phúc của con người. Từ xưa tới nay, điều kiện kinh tế, môi trường sống xã hội có thay đổi tới đâu chăng nữa thì thứ cuối cùng con người kiếm tìm vẫn là “hạnh phúc”. Phạm trù “hạnh phúc” được luận bàn trong rất nhiều tác phẩm ở các lĩnh vực khác nhau từ xưa tới nay. Thời kỳ cổ đại, quan niệm về hạnh phúc của con người được thể hiện rõ nét trong quan điểm của các trường phái triết học và tôn giáo lớn trên thế giới: Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo… Trong hệ thống học thuyết Nho giáo, phạm trù “hạnh phúc” không được bàn nhiều và bàn với tư cách là một phạm trù độc lập.
Ở góc nhìn nhất định, với Nho gia hạnh phúc được thể hiện qua 3 chữ: “Phúc”, “Hỷ” và “Lạc”. Về cơ bản, cả ba chứ này đều được hiểu là may mắn, thuận lợi, tốt lành… được mang tới cho con người. Tuy nhiên “hạnh phúc” không phải là cái đồng đẳng trong xã hội mà có sự phân biệt hạnh phúc của người “quân tử” và kẻ “tiểu nhân”. Ông nói: “Quân tử nghĩ đến đức, tiểu nhân nghĩ đến đất”.
Cũng theo quan điểm của Nho gia, người quân tử chỉ có được hạnh phúc thực sự khi hạnh phúc của họ gắn liền với việc giúp đời. Là một học thuyết chính trị - xã hội, nên chúng ta không khó hiểu khi quan niệm Nho gia hoàn toàn vắng bóng “hạnh phúc cá nhân”. Trái lại với quan điểm của Nho gia, Đạo gia (do Lão Tử sáng lập, Trang Tử phát triển) lại chú trọng và bàn nhiều tới hạnh phúc cá nhân. “Hạnh phúc” trong quan điểm của Đạo gia là trạng thái cân bằng âm dương, ở đó con người sống vô vi, nhàn hạ và hòa hợp với tự nhiên.
Hạnh phúc chỉ có được khi con người sống thanh đạm, biết đủ, biết dừng, không tham lam, không bon chen, không cạnh tranh. Quan điểm này ăn sâu vào tư tưởng và trở thành lối sống của 15 một bộ phận trí thức không gặp thời hoặc hoặc đã hoàn thành nghĩa vụ đối với xã hội. Mặc dù, quan điểm của Đạo gia có những nét tiến bộ rõ nét khi bàn về hạnh phúc song những quan điểm đó lại hướng con người tới cuộc sống tiêu cực, xa lánh xã hội. Hai quan niệm về hạnh phúc của Nho gia và Đạo gia, tuy đối lập nhau về cơ bản, nhưng cũng có những khía cạnh tương đồng, như coi khinh và phản đối lối sống chạy theo lợi ích vật chất tầm thường, ích kỷ của cá nhân, gắn hạnh phúc với đạo đức, phản đối việc mưu cầu hạnh phúc bằng con đường bất chính…nên cả hai quan niệm đều được những người trí thức phương Đông, trong đó có trí thức Việt Nam, vận dụng trong những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau của cuộc sống.
Cũng tương tự như trong quan niệm của nhiều lý thuyết khác, hạnh phúc theo quan điểm của Phật giáo về cơ bản có nguồn gốc cảm tính, xuất hiện từ cảm giác và từ niềm vui về mặt tinh thần. Phật giáo coi sứ mệnh của mình là giúp cho con người tìm thấy hạnh phúc. Toàn bộ quan điểm, quan niệm và hành vi, thái độ kiếm tìm hạnh phúc của con người đều tương ứng với lý thuyết trong “Tứ diệu đế” của Phật giáo. Ngoài lý thuyết trình bày trong tứ diệu đế, để có được hạnh phúc thực sự, Phật giáo còn yêu cầu tín đồ và khuyên nhủ con người thực hiện “ngũ giới”.
Như vậy, theo quan niệm của Phật giáo hạnh phúc thực sự của con người chỉ có thể đạt được qua thực hành Bát chính đạo và Ngũ giới. Bàn về hạnh phúc, trong lịch sử triết học phương Tây cũng thu hút được sự quan tâm của nhiều trường phái triết học và các triết gia. Cụ thể: Epicurus: “Hạnh phúc là mục đích tối hậu của đời sống loài người. Sự yên bình và hợp lẽ phải là nền tảng của hạnh phúc” Aristote: “Hạnh phúc là ý nghĩa và mục đích của cuộc đời, là mục tiêu và cũng là giới hạn tận cùng của sự tồn tại người” [9].
Phái Xirenait (Cyrenaics) do Arixtíp (Aristippus, khoảng 430-350 TCN), một môn đồ của Xôcrát, sáng lập, là một thứ chủ nghĩa khoái lạc tầm thường, vị kỷ, đưa ra một học thuyết mà theo đó, sự thỏa mãn những dục vọng trực tiếp của 16 cá nhân, không cần quan tâm đến người khác, được coi là mục đích tối cao. Những khoái cảm xác thịt, theo phái này, còn đáng giá hơn những niềm vui trí tuệ hư ảo và phức tạp. Thực tế lịch sử đã cho thấy sai lầm cơ bản trong quan điểm của phái này, vì khi cá nhân con người chạy theo những khoái cảm xác thịt tầm thường thì không thể có được hạnh phúc toàn diện, lâu dài được. Trái với chủ nghĩa khoái lạc vị kỷ, chủ nghĩa khoái lạc Êpiquya, gắn với trường phái triết học do Êpiquya (Epicurus, 341 - 271 TCN) sáng lập, là một thứ chủ nghĩa khoái lạc lý tính.
Phái Êpiquya cho rằng, khoái lạc chân chính chỉ có thể đạt được bằng lý trí. Họ đề cao những phẩm hạnh như tính tự chủ và sự cẩn trọng. Khoái lạc lớn nhất là ở cuộc sống bình dị và điều độ, tiêu dao với bè bạn và cùng đàm luận triết học với họ. Họ lập luận rằng, sẽ là không tốt nếu làm điều gì đó để có được khoái cảm nhất thời nhưng lại gây ra hậu quả xấu cho tương lai, chẳng hạn, sự hoang dâm quá độ sẽ có hậu quả bất hạnh về sau.
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các quan điểm của các nhà triết học trong các giai đoạn trước, đạo đức học Mác – Lênin đưa ra quan điểm về phạm trù hạnh phúc: “Hạnh phúc là trạng thái tâm lý đạo đức biểu hiện sự thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần, có tính lịch sử cụ thể, là những nghĩa vụ đạo đức được hoàn thành” [8]. Từ quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin về hạnh phúc, chúng ta có thể hiểu hạnh phúc với những nội dung cơ bản sau: Thứ nhất, là cảm giác vui sướng, thanh thản, phấn chấn của con người trong cuộc sống khi được thỏa mãn những nhu cầu chân chính cả về vật chất lẫn tinh thần trong những điều kiện lịch sử cụ thể. Thứ hai, là những nghĩa vụ đạo đức được hoàn thành. Trong cuộc sống có nhiều mối quan hệ.
Mỗi quan hệ lại có một nghĩa vụ đạo đức. Mỗi khi một nghĩa vụ đạo đức được hoàn thành con người cảm thấy hạnh phúc. Thứ ba, hạnh phúc gồm cả hai yếu tố khách quan và chủ quan. Trong mỗi quan điểm lịch sử cụ thể quan niệm về hạnh phúc có sự thay đổi.
Tuy nhiên, dù có thay đổi nhưng hạnh phúc cá nhân không tách rời hạnh phúc chung của xã hội. 17 Thứ tư, hạnh phúc có nguồn gốc từ lao động và đấu tranh, vì vậy nên hạnh phúc mang tính giai cấp. Trong xã hội có đối kháng giai cấp, hạnh phúc của người này là bất hạnh ở người khác. Trên cơ sở phân tích các quan điểm, quan niệm của các nhà triết học và các trường phái triết học về hạnh phúc, tôi chọn quan niệm hạnh phúc của chủ nghĩa Mác – Lênin làm khung lý thuyết nghiên cứu.
Quan điểm và cách đo lường, tính toán chỉ số hạnh phúc trên thế giới và Việt Nam hiện nay Thứ nhất, quan điểm và các tính toán chỉ số hạnh phúc của một số tổ chức, quốc gia trên thế giới Hiện nay, bên cạnh việc khảo sát, đo lường các chỉ số: HDI, GDP, GNP… nhiều quốc gia đã tiến hành khảo sát và đo lường chỉ số hạnh phúc của người dân nhằm điều chỉnh các chính sách của chính phủ cho phù hợp và tìm ra những giải pháp mới giúp người dân hài lòng hơn với cuộc sống và ngày càng hạnh phúc hơn. Trên cơ sở kế thừa các quan niệm về hạnh phúc trong lịch sử, các nhà khoa học đã tìm phương pháp mới nhằm cụ thể hóa chỉ số hạnh phúc của con người, biến chỉ số hạnh phúc từ một khái niệm “mờ” sang chỉ số hoàn toàn có thể định lượng được. Dưới đây, luận văn lược qua một vài quan niệm tiêu biểu và cách tính toán chỉ số hạnh phúc của các tổ chức quốc tế và một số quốc gia trên thế giới. * Chỉ số hạnh phúc hành tinh (Happiness Plant Index - HPI) Thước đo đánh giá về hạnh phúc được nhiều quốc gia trên thế giới tin tưởng là chỉ số HPI Bộ máy lý thuyết định hướng thiết kế chỉ số HPI trong “Báo cáo chỉ số hạnh phúc hành tinh” (Happiness Plant Index - HPI) được tính toán bởi Quỹ Kinh tế mới (New Economics Foundation – NEF) thì chỉ số hạnh phúc được đo lường bằng mức độ hài lòng với đời sống của con người, được cụ thể hóa với 3 thành tố cơ bản: mức độ sống, tuổi thọ trung bình và dấu chân sinh thái theo công thức: HPI = Life Satisfaction x Life Expectancy/Ecological Footprint 18 Trong đó: Life Satisfaction: mức độ hài lòng với cuộc sống hay mức độ được sống hạnh phúc (Well-being) của con người ở mỗi quốc gia.
Life Expectancy: Tuổi thọ bình quân thực tế mà mỗi quốc gia đạt được; không phải tất cả mà chỉ một phần trong đó là những năm sống hạnh phúc (Happy life years). Theo công thức này, người ta sẽ tính được chỉ số hạnh phúc của mỗi quốc gia hoặc của mỗi cộng đồng. Ý nghĩa của công thức này là: Hạnh phúc của mỗi quốc gia/cộng đồng là số năm trong vốn tuổi thọ mà con người cảm thấy hài lòng (Well-being) với cuộc sống của mình nếu điều này phù hợp với điều kiện tài nguyên tự nhiên được phép tiêu dùng (chỉ số hài lòng với cuộc sống nhân với chỉ số tuổi thọ chia cho chỉ số thực trạng tiêu dùng tài nguyên tự nhiên và mức độ làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái xung quanh). Thang HPI được thiết kế từ 0 - 100.
Theo NEF, thang lý tưởng (Reasonable Ideal) trong điều kiện hiện nay là 83,5; trong đó, chỉ số hài lòng với cuộc sống là 8,2; chỉ số tuổi thọ là 82,0 và chỉ số môi sinh là 1,5. * Báo cáo hạnh phúc thế giới (Word Happiness Report- WHR) Báo cáo hạnh phúc thế giới (Word Happiness Report- WHR) được công bố bởi Mạng lưới các giải pháp phát triển bền vững (SDSN) thuộc Liên Hợp Quốc phối hợp với viện nghiên cứu Trái đất cùng sự phối hợp của Trung tâm nghiên cứu hiệu suất kinh tế - CEP.