Chương 1 CƠ SỞ CUA NHÂN TO TỰ BACH TRONG THAO THỨC 1. Nhân tố tự bạch trong tiểu thuyết Thuật ngữ “tự bạch” mà chúng tôi sử dụng ở đây được dịch từ tiếng Nga: ‘ispoved’ (tương đương confession trong tiếng Anh). Trong tiếng Nga, ispoved có nghĩa là tự bạch, tự thú, sám hối, xưng |ỘI. Điểm chung nhất của các ngữ nghĩa này đó là trạng thái thú nhận tội lỗi.
Chính vì vậy, “tự bạch” ở đây không chỉ đơn thuần là sự tự bộc bach, thé lộ tâm tư mà còn là sự tự thú nhận những lỗi lầm của bản thân. Vì người Nga đồng nhất ý nghĩa của hai thuật ngữ: tự bạch và tự thú, vậy nên nhân tô tự bạch ở đây chính là những ăn nan, hôi hận về tội lỗi của một ai đó và mong muôn được sửa chữa. Nhà nghiên cứu G.Ibatullina trong bài viết Lời bạch và “phong cách” hiện sinh (phiên bản tiếng Anh: Confessional word and the existential "style ") có lý giải: Từ “xưng tội” có nhiều ý nghĩa. Một trong những nghĩa của nó đã được xác định trong từ điển ngôn ngữ của V.Dal, và nghĩa thứ hai là dé chỉ một phần của hành động nghi lễ - là những lời thú tội trong nhà thờ, còn lớp nghĩa thứ ba rộng hơn, đó chính là “sự thú nhận”, “là ý nghĩ chân thành và đầy đủ, là cơ sở của niềm tin, suy nghĩ và hành động của con người” [20].Ibatullina, một trong những nghĩa đó liên quan đến khái niệm “tự thú” như là một thể loại văn học đặc biệt.
Ví dụ điển hình là các đại diện trong nền văn hóa châu Âu. Nếu ở các tác phẩm của Augustine, Rouseau, Tolstoy, chúng ta tìm thấy nhiều hay ít một dạng thức tự bạch thuần túy thì đến các tác phẩm như Thoughts của Marcus Aurelius, Stories of my disasters cua Pierre Abelard, Notes cua Natalia Dolgorukoi, Letters to a stranger cua A.Maurois, Diary of a witer của Dostoevsky, Fallen leaves của Rozanov., chúng ta thay sự phong phú về ý thức tự bạch được thé hiện trong các văn bản. Nguyễn Thị Hạnh QH-2007-X Nhân to tự bạch trong cấu trúc tiểu thuyết Thao thức của Aleksandr Kron Bản thân “tự bạch” hay “sám hối” chính là quá trình tự đánh giá, kiến giải, biện minh qua suy nghĩ, ứng xử. Quá trình đó không mang tính chính luận trước đông người mà hướng vào nội tâm, trò chuyện với lương tâm.Ibatullina nhắn mạnh: “Tự thú không tương thích với ý nghĩa là thé loại văn học như hình thức tự truyện, nhật ký, thư từ, tiêu thuyết và truyện ngắn.
Mặt khác, “tự bạch” còn có ý nghĩa là “ý định ban đầu”, là ý thức cơ bản, được phản ánh và thể hiện trong sự đa dạng của tất cả các hình thức giao tiếp bằng lời và thậm chí cho phép tạo ra những giao tiếp. “Xưng tội có thé được coi là một loại nguyên mẫu cho các hình thức giao tiếp có ý thức của con người — một loại giao tiếp có chủ ý” [20]. Những giao tiếp này là sự liên kết hai đối tượng cần trao đổi thông tin mà ở đó, họ không bị ràng buộc bởi bat kỳ mối quan hệ nao, điều quan trọng nhất là họ phải có tâm hồn tinh khiết và tinh thần tự giác. Tuy nhiên, cho dù giao tiếp xảy ra ở mức độ nhận thức hay siêu ý thức, bất kế có hoặc không phải là lời nói thì ý nghĩa của nó đã nam trong ý thức của chủ thể giao tiếp.Ibatullina, “tự thú không chỉ đơn thuần là một trạng thái ý thức mà còn là nỗ lực nhận thức dé di chuyền từ cấp độ ý thức này đến cấp độ ý thức khác cao hơn.
Ví dụ, Tatyana của Pushkin viết cho Onegin dé thú nhận tình yêu của mình” [20]. Một tuyên bố chân thành của tình yêu không thé không có ý nghĩa thuộc về tôn giáo vì tuyên bố của tình yêu dựa trên điều cơ bản là mong muốn mở linh hồn của chính mình, mở tâm hồn của nhau và thậm chí là nhập vào nhau. Vậy nên, “Tôi sám hối không chỉ là tôi chân thành mà còn là tôi muốn được chân thành” [20]. Khi thú tội, con người luôn có những căn thăng trong nội tâm, mong muốn được nói chuyện và được lắng nghe.
Từ đó, con người có thể giải tỏa được những giày vò trong nội tâm. Từ những phân tích của G.Ibatullina, ta có thể có ngay những liên tưởng đến một nghỉ lễ trong nhà thờ. Từ liên tưởng này, chúng ta có thé hiểu rõ hơn Nguyễn Thị Hạnh QH-2007-X Nhân to tự bạch trong cấu trúc tiểu thuyết Thao thức của Aleksandr Kron bản chất của thuật ngữ “tự bạch”. “Tự bạch” là một thuật ngữ xuất phát từ nhà thờ, nó cũng có nghĩa là “tự thú”, “xưng tội” và “sám hối”.
Trong ý nghĩa hẹp của nó, đó là một hành động được thực hiện hàng ngày và quá đỗi quen thuộc của những con chiên. Trong không gian nhà thờ, con chiên bộc bạch hết mọi nỗi niềm và tội lỗi với đức cha, lắng nghe lời xưng tội đó không chỉ có đức cha mà còn có Chúa Trời và sâu xa hơn nữa là chính linh hồn của người đang thú tội. Khi thực hiện nghi lễ thiêng liêng này, con người trở nên thành thực hơn bao giờ hết, lúc này họ mới được trở về cội nguồn, được là chính minh. Bởi vậy, những lời thốt ra từ người đang sám hối là những lời chân thật nhất.
Không dừng lại ở mức độ bộc bạch tâm tư hay tự thú lỗi lầm, hành động sam hối còn là một hình thức giao tiếp ở cấp cao khi hai ý thức tương tác nhau. Liên tưởng sang hành động xưng tội trong Thiên Chúa giáo, ta sẽ thấy rõ điều nay. Có những điều mà chỉ khi đối diện với đức cha, với Chúa, con người mới dám nói ra, đặc biệt là những lời thú nhận về tội lỗi. Khi thú tội, con chiên mong muốn được mở lòng hơn bao giờ hết.
Không dừng lại ở đó, họ còn mong muốn được nhận lại những lời khuyên răn dé tâm hồn được khai sáng. Bên cạnh ý nghĩa là một nghi thức trong nhà thờ, trong cuộc sống thường nhật, “tự bạch” còn là những lời tâm sự thành thực nhất của mỗi người sau quá trình tự kiểm điểm bản thân, và từ đó có mong muốn sửa chữa. Sau những lỗi lầm mặc phải, con người luôn tự xem xét lại mình, nhìn nhận lại cuộc sống xung quanh một cách bao dung và khách quan hơn. Trong văn học, như G.Ibatullina đã phân tích, nhân tố tự bạch đã tồn tại như là một phong cách.
Một trong những biểu hiện của nhân tố tự bạch đó là các đối thoại nội tâm và dòng ý thức. Theo nhà nghiên cứu, kể từ khi chủ đề tự ý thức trong con người tổn tại thì nhân tổ tự bạch (mang bóng dáng của tôn giáo) đã tồn tại trong các tác phâm văn học. Bà đã đưa ra hai dẫn chứng cho phong cách này đó là A.Sartre — hai đại diện của chủ nghĩa hiện Nguyễn Thị Hạnh QH-2007-X Nhân to tự bạch trong cấu trúc tiểu thuyết Thao thức của Aleksandr Kron sinh. Riêng về tác phẩm Wgười xa lạ của A.Camus, nhà nghiên cứu nhân mạnh đến ý nghĩa giao tiếp của tác phẩm.
Bà cho rằng trong Người xa lạ, chủ nghĩa cá nhân luôn ý thức về sự cô lập, luôn coi mình là người ngoài cuộc: “Hôm nay mẹ tôi qua đời và có thể hôm qua. Tôi không biết”. Dưới vỏ bọc của một kẻ xa lạ, nhân vật che giấu đi những mặc cảm và những tâm tư của mình. Nhưng đăng sau đó lại là những khát khao được bộc bạch và giao tiếp với thế giới xung quanh.
Trong văn học Nga, nhân tố tự bạch đã tồn tại trong một số tiểu thuyết ở thé ky XIX, trong đó, đậm đặc nhất phải ké đến các sáng tác của Dostoevsky, Lev Tolstoy. Sang đến thế ky XX, nó xâm nhập sâu hơn vào những cuốn tiểu thuyết viết về chiến tranh. Trong But ký mùa đông (sang tác năm 1863), Dostoevsky đã bày tỏ những trăn trở về tiền đồ của đất nước, nhân dân ruột thịt khi chứng kiến những biến chuyển về xã hội, con người châu Âu trong thời điểm chủ nghĩa tư bản phương Tây đang phát triển và phơi bày những sức mạnh hãnh tiến của mình. Nhà văn chăm chú quan sát, tìm hiểu, suy ngẫm và kết luận.
Tác phâm đã bộc lộ rất đậm nét những lời tự thú của nhà văn trước những lầm lạc trong suy nghĩ về định hướng xã hội — chính trị của đất nước Nga, con người Nga trong giai đoạn nhiều mâu thuẫn rối ren nửa sau thế kỷ XIX. Có thé nói, ý thức tự kiểm điểm bản thân luôn thường trực trong suy nghĩ nhà văn. Dù được mệnh danh là người bảo thủ nhưng con người Dostoevsky là một khối mâu thuẫn phức tạp. Ông luôn hoài nghi, tự bác bỏ luận điểm này, luận điểm kia dé tìm đến chân lý.
Chính vì vậy, các tác phẩm của Dostoevsky luôn mang dấu ấn một cuộc đối thoại nhiều lúc gay gắt với chính bản thân. “Đó là một đặc điểm tạo nên phong cách nghệ thuật của nhà văn Nga vĩ đại, tiêu biểu cho một thời kỳ xã hội Nga, con người Nga trải qua những cơn lốc xoáy lốc. Nó quy định thi pháp nghệ thuật của Dostoevsky, Nguyễn Thị Hạnh QH-2007-X Nhân to tự bạch trong cấu trúc tiểu thuyết Thao thức của Aleksandr Kron tạo nên tính đa thanh, tính đối thoại phức tạp trong tiêu thuyết của ông” [18, tr. Đến tác phẩm Nhật ký của một nhà văn (sáng tác năm 1873), Dostoevsky đã không đặt mình ở vị trí người nói hộ, nói thay.
Ông đã nói về những biến động diễn ra trong chính mình và “khắc họa những con người trải qua quá trình tự phân tích, tự mô xẻ tâm địa mình” [18, tr. Đó là quá trình tự nhận thức, tự kiểm điểm day chua chát, dang cay. Trong tiểu thuyết Phuc sinh của Lev Tolstoy, nhân vật chính Nekhlyudov đã có hành trình tìm lại chính mình với nhiều trăn trở và tự thú. Nếu như ở tudi mười chín, chàng còn là một thanh niên trong sáng tràn đầy lý tưởng cùng quyết tâm làm điều thiện, hiến cả cuộc đời cho hạnh phúc mọi người thì chỉ ba năm sau đã là một sỹ quan trung úy quân đội Nga hoàng và trở thành một người hoàn toàn khác.
Đó là một kẻ vị kỷ, ngỗ ngược, một gã trác táng. Chỉ khi gặp lại và nhận ra Maslova Katioucha đang đứng trên vành móng ngựa, Nekhlyudov với tư cách là viên bồi thẩm thì con người tự do, con người của lương tri mới trỗi dậy trong anh. Ý thức sám hối và mong muốn được chuộc lại tội lỗi trong Nekhlyudov mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Chàng nhận thấy không chỉ Maslova cần phục hồi nhân pham mà chính bản thân mình cũng cần phải tự tu thiện.