Chương I C ơ TẦNG ĐÔNG NAM Á TRONG VÃN HOÁ VIỆT NAM A. Sự KHU BIỆT VỎI VĂN HOÁ TRUNG HOA VẰ ẤN ĐỘ Ngày nay, bằng những cứ liệu của các bộ môn khác nhau, ngành khoa học nhân văn thế giới đã dần dần hoạch định được một khu vực lịch sử văn hoá Đông Nam Á bên cạnh các nền văn minh lớn khác ỏ châu Á1. Nền văn minh đó đã từng trải rộng lên phía Bắc tận đôi bờ sông Dương Tử, phía Tây gồm một phần Đông Bắc Ấn Độ (vừng Assam), phía Đông và phía Nam là cả một thế giới bán đảo và đảo nằm cạnh châu Đại Dương, thậm chí tói tận Hawaï (châu Mỹ) và Madagascar (châu Phi). Địa bàn phân bố của khu vực văn hoá Đông Nam Á này rộng lớn hơn nhiều so với cái mà các nhà địa lý học hiện đại gọi là Đông Nam Á.
Nền văn hoá đó có cội nguồn và bản sắc riêng, đã phát triển liên tục trong lịch sử. Đó là phức thể vàn hoá 1. Xem Phạm Đưc Dương. Southeast Asian Culture Unity in Diversity Phan Ngọc.
On the Community o f Southeast Asian Culture. Trong sách: Unity in diversity cooperation between Vietnam and other Southeast Asian countries. NXB Khoa học xã hội Hà Nội 1992 tr. 23 của các cư dân thuộc nền văn minh nông nghiệp lúa nưóc, với ba yếu tố: văn hoá núi, văn hoá đồng bằng và văn hoá biển, trong đó yếu tố đồng bằng tuy có sau, nhưng lại đóng vai trò chủ đạo.
Lịch sử ỏ đây đã diễn ra những quá trình phân tán - hội tụ, dẫn đến những phức thể văn hoá mói chung cho toàn vùng, bước hội tụ sau cao hơn bước hội tụ trước, đồng thòi cũng để lại nhiều sắc thái khác nhau có tính dân tộc hoặc mang dấu ấn địa phương. Vì vậy một đặc trưng nổi bật của văn hoá Đông Nam Á, nói theo thành ngữ của người Indonesia là "bhinneka tunggal ika" (thống nhất trong đa dạng)1, và, quá trình hội tụ bắt nguồn từ nhiều trung tâm khác nhau, cho nên nó không mang tính đơn tuyến trong sự biệt lập mà mang tính đa tuyến trong sự tiếp xúc đan xen nhiều chiều, tạo nên những đưồng đồng quy, những cấu trúc văn hoá - tộc người đa thành phần được vận hành theo những cơ chế linh hoạt mà đồng nhất. Kết quả là tính đa dạng ngày càng mỏ rộng trong không gian, tính đồng nhất được tiềm ẩn sâu trong thòi gian, và sự tác động qua lại giữa chúng trỏ thành một cơ chế tổng hợp quy định sự phát trien cua mỗi nước và của cả khu vực. Tuy nhiên để nhận diện được nền văn hoá Đông Nam Ắ.
chứnpr tn -V í; ết hai vấn đề thuộc vê' nhận thức i váp tiếp cận. 1- Tác giả của câu chăm ngôn trên là Mpu Tantuỉar, nhà văn, nhà thơ cung đình của Vương triều Mójópahít thế kỷ X1U-XIV. Câu châm ngôn trên ngày nay được ghi ưên Quốc huy của nước Cộng hoà Indonesia. 24 Một là, các học giả phương Tây một thòi đã coi Đông Nam Á không phải là một thực thể vân hoá mà là vùng ngoại vi tiếp giáp của hai nền văn minh lớn ỏ châu Á.
Đó là Trung Hoa và Ân Độ. Vì vậy họ đặt cho chúng ta cái tên ghép: Indo-Chine (Ấn) (Hoa) Ngay cả khi đặt chân lên vùng quần đảo Nam Dương họ vẫn tưỏng đó là những đảo của Ân Độ nên mới gọi là Indo-nesia (Ấn) (Đảo) Nhận thức này đã thống trị gần hai thế kỷ. Các học giả Pháp, Anh và phương Tây đinh ninh là như vậy, cho nên các công trình nghiên cứu của họ, dù có những cứ liệu trên thực địa không mấy ủng hộ quan điểm trên, nhưng cuối cùng họ vẫn coi đây là vùng Ân Độ hoá và Trung Hoa hoá. Người Ấn Độ mặc nhiên coi Đông Nam Á là thuộc nền văn hoá của họ; cũng vậy, người Trung Quốc coi Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản là thuộc văn hoá Hán.
Hai là, quả thật các nước Đông Nam Á, trong quá trình tiếp xúc, giao lưu với An Độ và Trung Hoa đã tiếp nhận rất sâu sắc ảnh hưỏng của hai nền văn hoá trên, đặc biệt khi người Đông Nam Á xây dựng các quốc gia cổ đại của mình, họ đã mô phỏng thể chế và nền từ chương học Trung Hoa và Ân Độ. Vì vậy muốn tiếp cận vối nền văn 25 hoá Đông Nam Á, chúng ta phải bóc tách các ảnh hưồng của các ýếu tố ngoại lai. Điều này không phải dễ. Chỉ cần một thí dụ: ngôn ngữ là công cụ giao tiếp, công cụ của tư duy, là đặc trưng tộc ngưòi.
Thế mà trong tiêng Việt có tới 60% là từ Hán được vay mượn. Ta có thể nói một câu tiếng Việt hoàn toàn nhưng không có một từ thuần Việt nào, ví dụ: "Ban giám hiệu trưòng Đại học Tổng hợp Hà Nội yêu cầu khoa Lịch sử, khoa Ngữ văn nghiêm chỉnh chấp hành chỉ thị tăng cường chất lượng đào tạo do Bộ Giáo dục ban hành!". Chả thế mà cụ Phan Bội Châu có thể nói chuyện bằng bút (bút đàm) với các chí sĩ yêu nước Trung Quốc, Nhật Bản. Giống như các nhà sư Lào, Thái Lan, Campuchia có thể nói chuyện vói nhau bằng những từ mà họ cùng mượn của tiếng Pali, Sanscrit.
Do đó, để nhận diện được nền văn hoá Đông Nam A khu biệt vối Trung Hoa và Ấn Độ, chúng ta cần có một cái nhìn đại thể về hai nền văn hoá này. Phải nói rằng, hai nền văn minh Trung Hoa và An Độ đã bao chứa trong nó những mô hình nguyên gốc của thê giới loài người (nông nghiệp và du mục). Vì vậy người ta gọi An Độ và Trung Hoa là những thế giới! c ả hai nền văn minh đó đều được cấu thành bỏi ba yếu tố: A ìn nông nghiệp khô. - Văn hoá của cư dân du mục.
- Văn hoá của cư dân lúa nưóc. 26 Mặc dù vậy, hai nền văn minh này có sự khu biệt rất cơ bản do phẩm chất của từng yếu tố và nhất là do cấu trúc và mối quan hệ giữa các yếu tố tạo nên đặc trưng riêng của mỗi thế giới: thế giới của quân tử và tiều nhân (Trung Hoa); thếgiới của thầy tu và vũ nữ (An Độ). Nền văn minh Trung Hoa mang đậm bản sắc châu Á, là một tổng hợp của văn hoá cư dân nông nghiệp khô thâm canh (trồng kê mạch) vùng trung nguyên lưu vực sông Hoàng Hà, đã hỗn dung với ván hoá của cư dân du mục phía Bắc và Tây Bắc (rợ Khuyển, Nhung), sau đó là với văn hoá của cư dân nông nghiệp lúa nưóc Đông Nam Á tiền sử (vùng Hoa Nam vối những trung tâm Ba Thục, Kinh Sỏ, Ngô Việt). Kết thúc cuộc "Hán - sỏ tranh hừng" nhà Hán đã thống nhất nước Trung Hoa từ Bắc xuống Nam (tiền Bắc hậu Nam) trong đó cư dân nông nghiệp khô - người Hán, đóng vai trò chủ thể, và, sau đó phát triển đất nước theo một trật tự ngược lại: tiền Nam, hậu Bắc.
Văn minh Trung Hoa được xem như là một bình chứa. Nhờ khả năng tổng hợp và quy phạm hoá thành văn bản mà ngưòi Hán đã đồng hoá các dân tộc khác bằng sức mạnh văn hoá kể cả những dân tộc "ngoại di" đã thống trị họ (Mông Cổ, Mãn Thanh). Nền văn minh ấy có lúc thịnh lúc suy, nhưng nó trưòng tồn cùng vói lịch sử Trung Hoa không bao giờ tắt, khác vói các nền văn minh khác trên thế giối có một thời rực sáng rồi một thời biến mất. Vói triết lý thực dụng và duy ý chí, người Hán tập trung vào chính trị - xã hội tạo nên một thể chế chặt chẽ 27 dựa trên chế độ tông tộc và ý thức hệ Nho giáo.
Đây là điển hình cho đế chế phương Đông cổ đại, tập trung trên hai bình diện: - Một nến văn hiến ngôn từ đồ sộ, trưòng tồn dựa trên chữ viết, sử, sách thánh hiền vói những "bách gia chư tử" và được truyền đạt bằng con đường giáo dục. Nho giáo do Khổng Tử sáng lập là học thuyết đề cao sự học và sự nghiệp giáo dục nhằm đào tạo những lớp người "quân tử" với phương châm "tiên học lễ, hậu học văn". Văn là để hiểu biết sâu rộng, lễ là để ứng xử đúng phép tắc. Với chế độ "học quan" nghiêm túc, thể chế Trung Hoa đã đào tạo và tuyển lựa một đội ngũ quản lý mẫu mực.
Khổng Tử là người thầy giáo vĩ đại dạy học không biết mệt mỏi. Theo quan niệm của Nho giáo "dạy tốt hơn cai trị tốt" (Mạnh Tử). - Một nền chính trị - xã hội nhất quán trên một tôn ti trật tự bất biến của chế độ đẳng cấp theo tông pháp, một chế độ vương quyền không dựa vào thần quyền mà theo nguyên tắc gia trưỏng phụ quyền cha truyền con nối và một lối ứng xử theo thuyết "tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ". Gia đình của ngưòi Hán là đại gia đình (tính đến cửu tộc) được mở rộng ra ngoài xã hội.
Mỗi hương (làng) là một họ được quản lý dựa trên trật tự bất biến của tông tôc. thâm chí không có tên mà chỉ thuộc về một -, Nguỵ. và sau này là Đại Hán, Đại Đường, Đại Tống. Vì vậy ỏ Trung Quốc người ta gọi là quốc gia (ta dịch là nhà nước) chứ không phải "làng nưóc" như ta.
28 Nền văn minh Trung Hoa đã đóng góp cho nhân loại không ít những phát minh lớn trong khoa học kỹ thuật Ga bàn, nghề làm giấy, nghề in, thuốc sứng.) và nhất là trong đời sống văn hoá với quan niệm "văn dĩ tải đạo". Đạo là của trời. Lẽ trời và lòng người tạo nên nguyên lý ứng xử của con người với tự nhiên và xã hội mà "văn" là phương tiện chuyển tải. Nền nghệ thuật ngôn từ Trung Hoa mà công cụ là chữ viết đã ghi lại lịch sử và mọi tri thức thành những pho sách - một di sản văn hiến ít có dân tộc nào trên thế giói sánh kịp.
Văn hoá Trung Hoa cũng quan tâm đến nghệ thuật phi ngôn từ (nghệ thuật tạo hình) nhưng so với nghệ thuật ngôn từ thì không tương ứng. Ngay hội hoạ được thế giói xem là nghệ thuật tạo hình, thì với người Trung Quốc vẽ cũng chỉ là viết, dùng bút lông mực đen vẽ trên giấy trắng. Do đó, tranh Trung Quốc không có màu. Trắng đen không phải là mầu.
Sắc độ của mầu đen cho phép ngưòi ta tìm mối quan hệ. Pháp thuật vẽ là công bút - giống như luyện viết. Vẽ một nét thành tranh. Người Trung Quốc ngắm đến nhập tâm cái anh ta định vẽ, rồi cũng như viết văn, anh ta vẽ cái trong đậu anh ta.