Nghề sơn mài xã Tương Bình Hiệp, Thủ Dầu Một: Hiện trạng và phát triển

Tôi có thể giúp bạn tạo meta tags cho bài viết "Lvtn 2010 nghề sơn mài ở xã tương bình hiệp thị xã thủ dầu một tỉnh bình dương hiện trạng và xu hướng" như

Trường đại học

Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh

Chuyên ngành

Đông Nam Á học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo cáo thực tập tốt nghiệp

2010

71
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghề sơn mài xã Tương Bình Hiệp

Nghề sơn mài tại xã Tương Bình Hiệp, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đã tồn tại và phát triển từ lâu đời, trở thành một biểu tượng văn hóa truyền thống của vùng đất này. Theo báo cáo LVTN 2010, nghề sơn mài không chỉ là hoạt động kinh tế mà còn là nét văn hóa đặc trưng, thu hút sự quan tâm của cộng đồng địa phương. Xã Tương Bình Hiệp có điều kiện tự nhiên thuận lợi với nguồn nguyên liệu dồi dào như sơn ta, gỗ mít, vỏ ốc, vàng bạc quỳ, góp phần tạo nên những sản phẩm sơn mài tinh xảo. Các sản phẩm chủ yếu bao gồm tranh sơn mài, đồ mỹ nghệ, bàn ghế và vật dụng trang trí, phục vụ nhu cầu thị trường trong và ngoài tỉnh. Sự phát triển của nghề sơn mài còn gắn liền với lịch sử hình thành làng nghề truyền thống, nơi hội tụ các nghệ nhân tài hoa và kỹ thuật chế tác ngày càng hoàn thiện.

1.1. Lịch sử hình thành làng nghề sơn mài

Làng nghề sơn mài Tương Bình Hiệp có nguồn gốc từ thế kỷ 17-18, khi những người thợ thủ công di cư từ miền Bắc vào đây mang theo kỹ thuật sơn mài. Theo ghi chép, nghề sơn mài phát triển mạnh vào thời kỳ nhà Nguyễn, khi sản phẩm sơn mài được ưa chuộng bởi tầng lớp quan lại và quý tộc. Đến thế kỷ 20, làng nghề dần chuyên môn hóa, hình thành các xưởng sản xuất quy mô nhỏ. Theo Võ Tứ Xuyên (1996), nghề sơn mài Tương Bình Hiệp phát triển nhờ sự kế thừa từ các thế hệ nghệ nhân, với các kỹ thuật truyền thống như sơn bó, sơn quang, sơn thí. Sự gắn bó giữa cộng đồng và nghề sơn mài đã tạo nên bản sắc văn hóa độc đáo, góp phần bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể của tỉnh Bình Dương.

1.2. Đặc điểm địa lý và nguồn nguyên liệu

Xã Tương Bình Hiệp nằm ven sông Sài Gòn, có điều kiện khí hậu ẩm ướt thuận lợi cho việc trồng cây sơn ta. Nguồn nguyên liệu chính bao gồm sơn ta (sơn mật, sơn gigi nhât, sơn thịt), gỗ mít (dùng làm khung tranh), vỏ ốc (ốc xà cừ, ốc đụng), vàng bạc quỳ. Theo báo cáo LVTN 2010, sơn ta được phân loại theo độ nóng chảy: sơn mật (90°C), sơn gigi nhât (70-80°C), sơn thịt (50-55°C). Gỗ mít được ưa chuộng vì độ bền và khả năng chống cong vênh. Ngoài ra, vỏ ốc, trai còn cung cấp màu sắc và họa tiết trang trí độc đáo. Sự phong phú về nguyên liệu đã tạo nên đa dạng sản phẩm sơn mài tại địa phương.

II. Hiện trạng phát triển nghề sơn mài Tương Bình Hiệp

Hiện nay, nghề sơn mài tại xã Tương Bình Hiệp đang đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình phát triển. Theo báo cáo LVTN 2010, sản lượng sơn mài giảm dần do cạnh tranh từ sản phẩm công nghiệp và thiếu lao động kế thừa. Nhiều hộ gia đình chuyển sang sản xuất hàng tiêu dùng nhanh, dẫn đến suy giảm số lượng nghệ nhân sơn mài. Mặc dù vậy, sản phẩm sơn mài vẫn được đánh giá cao về chất lượng và tính thẩm mỹ, phục vụ nhu cầu xuất khẩu và khách hàng cao cấp. Các xưởng sản xuất nhỏ lẻ vẫn duy trì hoạt động, nhưng thiếu vốn đầu tư đổi mới công nghệ. Bên cạnh đó, thị trường tiêu thụ chủ yếu phụ thuộc vào du khách và các đơn đặt hàng nhỏ, thiếu sự ổn định. Việc thiếu liên kết giữa các hộ sản xuất cũng là một rào cản trong việc nâng cao giá trị sản phẩm.

2.1. Tình hình sản xuất và thị trường

Năm 2010, xã Tương Bình Hiệp có khoảng 50 hộ sản xuất sơn mài, tập trung chủ yếu tại các thôn 1, 2, 3. Sản phẩm chủ yếu là tranh sơn mài, đồ mỹ nghệ, bàn ghế, với doanh thu trung bình 200-300 triệu đồng/năm/hộ. Theo báo cáo, thị trường tiêu thụ chủ yếu là các tỉnh thành phía Nam, trong khi xuất khẩu chiếm tỷ trọng nhỏ do cạnh tranh từ sản phẩm Trung Quốc. Giá trị sản phẩm sơn mài cao hơn 3-5 lần so với sản phẩm gỗ thông thường, nhưng chi phí sản xuất lớn do nguyên liệu khan hiếm và lao động thủ công. Sự thiếu ổn định trong cung ứng sơn ta cũng ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất.

2.2. Những khó khăn và thách thức

Nghề sơn mài tại Tương Bình Hiệp đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt lao động trẻ do thu nhập thấp và điều kiện làm việc khắc nghiệt. Theo khảo sát LVTN 2010, 70% nghệ nhân có độ tuổi trên 50, trong khi thế hệ trẻ ít quan tâm đến nghề truyền thống. Ngoài ra, sự cạnh tranh từ sản phẩm sơn mài công nghiệp (có màu sắc đa dạng, giá thành rẻ) cũng đe dọa sự tồn tại của làng nghề. Thiếu vốn đầu tư đổi mới thiết bị, thiếu liên kết giữa các hộ sản xuất, và thiếu quảng bá thương hiệu là những rào cản chính. Theo Kim Tuyến (2005), làng nghề sơn mài Tương Bình Hiệp đang dần mai một do thiếu sự hỗ trợ từ chính quyền và doanh nghiệp.

III. Giải pháp phát triển nghề sơn mài bền vững

Để phát triển nghề sơn mài Tương Bình Hiệp bền vững, cần có sự chung tay của chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng. Giải pháp đầu tiên là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua các lớp đào tạo kỹ thuật sơn mài cho thanh niên. Theo báo cáo LVTN 2010, việc hợp tác với trường đại học, viện nghiên cứu để ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất sơn mài công nghiệp là cần thiết. Ngoài ra, cần xây dựng thương hiệu sản phẩm sơn mài Tương Bình Hiệp thông qua các chương trình quảng bá, tham gia hội chợ triển lãm. Chính quyền địa phương cần hỗ trợ vốn vay ưu đãi, cơ sở hạ tầng, và chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào làng nghề. Liên kết giữa các hộ sản xuất để hình thành hợp tác xã cũng là giải pháp quan trọng nhằm tăng sức cạnh tranh.

3.1. Đào tạo và kế thừa nghề truyền thống

Giải pháp cốt lõi là đào tạo thế hệ trẻ kế thừa nghề sơn mài thông qua các lớp học kỹ thuật tại trường làng nghề. Theo báo cáo LVTN 2010, cần xây dựng chương trình đào tạo kết hợp lý thuyết và thực hành, mời nghệ nhân giàu kinh nghiệm làm giảng viên. Ngoài ra, chính quyền có thể hỗ trợ học bổng cho sinh viên theo học ngành thủ công mỹ nghệ tại các trường đại học. Việc tổ chức các cuộc thi tay nghề sơn mài cũng khuyến khích sự cạnh tranh lành mạnh giữa các nghệ nhân. Theo Võ Tứ Xuyên (1996), việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể thông qua giáo dục là giải pháp lâu dài.

3.2. Ứng dụng công nghệ và phát triển thị trường

Nghề sơn mài cần ứng dụng công nghệ hiện đại để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Theo báo cáo LVTN 2010, các xưởng sản xuất có thể đầu tư máy móc chế biến sơn ta, hệ thống sấy công nghiệp, nhằm giảm thời gian sản xuất. Việc phát triển sản phẩm sơn mài công nghiệp (sơn mài trên nền gỗ ép, vải) cũng mở rộng thị trường tiêu thụ. Ngoài ra, cần đẩy mạnh quảng bá thương hiệu qua mạng xã hội, website, và tham gia các hội chợ triển lãm quốc tế. Theo Kim Tuyến (2005), việc xây dựng chuỗi giá trị từ nguyên liệu đến sản phẩm cuối cùng sẽ tăng sức cạnh tranh cho làng nghề.

IV. Kết luận và định hướng phát triển

Nghề sơn mài tại xã Tương Bình Hiệp là một di sản văn hóa quý giá, góp phần bảo tồn bản sắc dân tộc và phát triển kinh tế địa phương. Tuy nhiên, hiện nay nghề sơn mài đang đối mặt với nhiều thách thức như thiếu lao động trẻ, cạnh tranh từ sản phẩm công nghiệp, và thiếu vốn đầu tư. Giải pháp phát triển bền vững bao gồm đào tạo nhân lực, ứng dụng công nghệ, xây dựng thương hiệu, và hỗ trợ từ chính quyền. Theo báo cáo LVTN 2010, nếu được quan tâm đúng mức, nghề sơn mài Tương Bình Hiệp có tiềm năng trở thành điểm du lịch văn hóa, thu hút du khách và nhà sưu tập. Việc bảo tồn và phát huy nghề sơn mài không chỉ là trách nhiệm của cộng đồng địa phương mà còn là nghĩa vụ của toàn xã hội trong việc gìn giữ di sản văn hóa phi vật thể.

4.1. Tầm quan trọng của việc bảo tồn nghề truyền thống

Bảo tồn nghề sơn mài Tương Bình Hiệp không chỉ giữ gìn giá trị văn hóa mà còn góp phần phát triển kinh tế địa phương. Theo báo cáo LVTN 2010, sản phẩm sơn mài có giá trị thẩm mỹ cao, phục vụ nhu cầu thị trường cao cấp và xuất khẩu. Việc bảo tồn nghề sơn mài cũng là cách tôn vinh các nghệ nhân đã cống hiến cả đời cho làng nghề. Ngoài ra, nghề sơn mài còn thu hút du lịch văn hóa, tạo việc làm cho người dân địa phương. Theo Võ Tứ Xuyên (1996), việc bảo tồn nghề truyền thống là trách nhiệm của toàn xã hội, không chỉ riêng cộng đồng sản xuất.

4.2. Định hướng phát triển trong tương lai

Trong tương lai, nghề sơn mài Tương Bình Hiệp cần định hướng phát triển theo hướng bền vững, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại. Theo báo cáo LVTN 2010, cần xây dựng mô hình hợp tác xã sơn mài, liên kết giữa các hộ sản xuất để tăng sức cạnh tranh. Chính quyền địa phương cần hỗ trợ vốn, cơ sở hạ tầng, và chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư. Ngoài ra, cần đẩy mạnh quảng bá thương hiệu sơn mài Tương Bình Hiệp thông qua các chương trình xúc tiến thương mại. Việc ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất cũng giúp nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

30/05/2026
Lvtn 2010 nghề sơn mài ở xã tương bình hiệp thị xã thủ dầu một tỉnh bình dương hiện trạng và xu hướng

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 VAI NET VE SU’ HINH THANH VA PHAT TRIEN CUA NGANH TIEU THU CONG NGHIEP SAN XUAT SON MAI O BINH DUONG 1.1 Khái quát về lịch sử địa danh Bình Dương 1.1 Tên gọi Bình Dương, lịch sử hình thành tỉnh Bình Dương Năm 1698, Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh được cử vào Nam kinh lý, lập phủ Gia Định gồm hai huyện: Phước Long (kề từ tả ngạn sông Sài Gòn ra bờ biển Đông) và Tân Bình (kể từ hữu ngạn sông Sài Gòn tới sông Vàm Có Đông). Năm 1808, Phước Long được đổi thành phủ gồm 4 huyện: Bình An, Phước Chánh, Long Thành, Phước An; Tân Bình cũng thành phủ gồm 4 huyện: Bình Dương, Tân long, Thuận An, Phước Lộc. Năm 1832, toàn miền Nam chia thành 6 tỉnh. Năm 1834, gọi Nam kỳ là lục tỉnh: Biên Hoà, Phiên An (từ 1836 cải thành Gia Định), Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên.

Năm 1837, huyện Bình An chia ra hai huyện: Bình An (Thủ Dầu Một) và Ngãi An (Thủ Đức). Năm 1841, huyện Bình Dương chia ra hai huyện: Bình Dương (Sài Gòn) và Binh Long (Hóc Môn, Củ Chỉ). Cho đến thời Pháp thuộc Nam kỳ lục tỉnh sau này được chia thành 20 tỉnh mới. Hai bên bờ sông Sài Gòn là hai tỉnh Gia Định và Thủ Dầu Một.

Đến khi kháng chiến chống Pháp thành công (1954) miền Bắc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam (từ vĩ tuyến 17 trở vào) lập thé chế cộng hòa theo Mỹ. Chính quyền Sài Gòn ra sắc lệnh số 143/NV (22/10/1956) thay đôi tên và địa danh các tỉnh tại miền Nam. Do tỉnh Bình Dương được thiết lập, về địa giới chỉ còn quận Trị Tâm (xứ Dầu Tiếng) thuộc huyện Bình Dương xưa kia, còn đại bộ phận đất của Bình Dương trước đó đều nằm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh ngày nay. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1954-1945) phía cách mạng không gọi Binh Dương mà gọi là Thủ Dầu Một.

Sau giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30/04/1975) tên tỉnh Binh Duong cả tên Thủ Dầu Một cùng không còn tồn tại, thay vào đó là tỉnh Sông Bé (gồm ba tỉnh cũ xác nhập lại: Thủ Dầu Một, Bình Long và Bình Phước). Mãi đến ngày 6 tháng 11 năm 1996, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX đã quyết định tách tỉnh Sông Bé ra làm hai tỉnh: Bình Phước và Bình Dương.2 Vị trí địa lý, dân số, thổ nhưỡng, khí hậu Bình Dương Bình Dương là một tinh thuộc miền Đông Nam Bộ, phía bắc giáp Bình Phước, phía nam và tây nam giáp thành phố Hồ Chí Minh, phía tây giáp Tây Ninh, phía đông giáp Đồng Nai. Nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa Nam Trường Sơn của các tỉnh Tây Ninh, Bình Phước, Đồng Nai với các tỉnh còn lại của Nam bộ. Tỉnh ly của Bình Dương là thị xã Thủ Dầu Một, cách thành phố Hồ Chí Minh 30km về phía Nam và các thành phố Biên Hoà của tỉnh Đồng Nai 25km về phía Đông.

Bình Dương có diện tích tự nhiên 2695,5km2, dân số 1.636 người (kết quả điều tra dân số ngày 1/4/2009), mật độ dân số 550 người/ km?. Do kinh tế phát triển nhanh, trong thời gian qua Bình Dương thu hút nhiều dân nhập cư từ các địa phương khác. Kết quá điều tra dân số năm 2009 cho thấy: Trong 10 năm từ 1999-2009 dân số tỉnh Bình Dương đã tăng gấp đôi, là tỉnh có tốc độ tăng dân số cao nhất nước với tỷ lệ tăng trung bình 7,3%/năm. Là một tỉnh tương đối nhỏ so với các tỉnh khác của cả nước, nhưng có vị trí đặc biệt quan trọng về nhiều mặt, là một trong các điểm sáng trong phát triển kinh tế của nước và là một trong bốn tỉnh của tứ giác kinh tế phát triển của các tỉnh phía Nam Tổ quốc.

Địa hình Bình Dương chủ yếu là những đổi thấp, thế đất bằng phẳng, nền địa chất ôn định, vững chắc, phổ biến là những dãy đổi phù sa cổ. Đặc biệt có một vài đồi núi thấp nhô lên giữa địa hình bằng phẳng như núi Châu Thới (Dĩ An) cao 82m và ba ngọn núi thuộc huyện Dầu Tiếng là núi Ông cao 284,6m, núi La Tha cao 198m, núi Cậu cao 155m. Bình Dương có hệ thống giao thông thuỷ bộ phát triển sớm, tương đối thuận lợi va 6n định: từ thị xã Thủ Dầu Một có quốc lộ 13 đi Bình Phước nối vào quốc lộ 14 đi Tây Nguyên và các tỉnh miền Trung, nối vào quốc lộ 1 đi thành phố Hồ Chí Minh. Trong địa bàn tỉnh còn có các tỉnh lộ 742, 743, 744, 746, 752.

tạo thành mạng lưới giao thông liên hoàn, thông suốt. Bình Dương được bao bọc bởi ba con sông lớn: sông Sài Gòn ở phía Tây Nam ranh giới tỉnh Tây Ninh, Sông Bé ở phần phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước và sông Đồng Nai ở phía Đông, làm ranh giới với tỉnh Đồng Nai. Từ đây, khiến cho Bình Dương dễ dàng nối với các cảng biển lớn ở phía Nam Tổ quốc. Nằm ở phía Nam của dãy Trường Sơn, thừa hưởng một vùng thô nhưỡng tương đối phì nhiêu, với chế độ khí hậu thuỷ văn nhiệt đới nhiều nắng mưa, với tiềm năng khoáng sản phang phú, được thiên nhiên ưu đãi, Bình Dương đang vươn mình mạnh mẽ về phía trước để khẳng định mình và đóng góp cho sự nghiệp dân giàu nước mạnh.

Bình Dương tuy là một địa phương phát triển mạnh về kinh tế công nghiệp, thế nhưng bản sắc văn hóa truyền thống nơi đây vẫn luôn được lưu giữ và phát huy từ nhiền đời nay, tiêu biểu là các ngành nghé thủ công truyền thống như làm gốm sứ, điêu khắc gỗ, sơn mài. Khí hậu nhiệt đới, thích hợp cho hàng sơn mài cộng với điều kiện thông thương thuận lợi và đội ngũ lao động đông đảo đã giúp tỉnh Bình Dương có thế mạnh phát huy sản xuất hàng sơn mài truyền thống của Việt Nam.2 Lịch sử hình thành và phát triển của ngành sản xuất sơn mài ở Bình Dương 1.1 Lịch sử hình thành làng sơn mài ở tỉnh Bình Dương Nói về sơn mài Bình Dương thì theo các nghệ nhân đây là ngành đặc biệt, ra đời từ sự hóa duyên kỳ diệu từ nghề sơn cô xưa vốn có của dân tộc với những người nghệ sĩ tài hoa. Theo tr liệu Gia Định thành công chí của Trịnh Hoài Đức: “Nghề làm sơn mài Bình Dương do cư dân từ miền Bắc và Trung, từ xứ Ngũ Quảng (Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức (Thuận Hóa), Quảng Nam và Quảng Ngãi) xa xôi đến tụ cư, lập nghiệp ở huyện Bình An (Thủ Dâu Một) thế kỷ XVIII. Tương truyền, những cư dân xa xứ này dén vung đất mới, nhưng nơi chôn nhau cắt rắn vẫn là nỗi nhớ của họ.

Việc mưu sinh trên đất mới tạm én định, trong những thời gian rãnh rối việc động án, những người lưu dân này đã thực hiện những bước sơn mài đâu tiên để tưởng nhớ đến quê cha đất tổ, đỏ chính là những bức tranh vẽ cảnh đất nước, rặng tre làng, hàng cau, đình làng. Chỉnh những bức sơn mài đầu tiên đó đã được những người giầu có trong vùng biết đến và họ đã đặt mua những bức tương tự đem về trưng bày trong nhà, đông thời họ đã tạo nên một nghề mới cho những lưu dân này trong lúc nông nhàn. Sự kết hợp này đã hình thành “trung tâm sơn mài” của Bình Dương trong nhiều năm qua. ” Khi người Pháp chiếm Thủ Dầu Một, họ rất thích thú đến nghệ thuật sơn mài, các họa sĩ Pháp đã nhận thấy được giá trị của nghệ thuật này nên họ đã dùng các phương pháp sáng tạo nghệ thuật của phương Tây bé sung cho nghệ thuật cô truyền của dân tộc để tạo ra những sản phẩm sơn mài mang tính nghệ thuật cao cấp hơn.

Do đó, từ một nghề cô truyền cha truyền con nối có tính chất gia đình, sơn mài Bình Dương được phổ biến mạnh hơn và ngày càng phát triển theo chiều hướng rộng. 10 Nhiều thể hệ nyliệ nhân ra đời, nhiều lớp thợ sơn mài có tay nghề giỏi xuất hiện và hình thành mội nghề tiểu thủ công nghiệp lớn mạnh. Với những tác phẩm đơn giản ban đầu, người nghệ nhân không ngừng hoàn thiện kỹ thuật, và đào tạo những người kế tiếp cho một nghề có tương lai phát triển lâu dài của xã hội.2 Quá trình phát triển nghề sơn mài ở Bình Dương - Từ đâu thế kỷ XX đến năm 1945: Nghề sơn mài tuy được hình thành trên đất Bình Dương từ thế kỷ XVIIL, thế nhưng thời gian ấy nó vẫn chưa được phát triển rộng rãi trong cộng đồng. Mãi đến khi trường Bá nghệ Thủ Dầu Một ra đời, nó đã tạo một bước ngoặc lớn cho quá trình phát triển nghề sơn mài truyền thống trên đất Bình Dương.

Ngôi trường là cơ sở, là nơi đào tạo tay nghề và góp phân vào việc phát triển nghề mỹ thuật, trong đó có sơn mài. Nguyên nhân sâu xa cho sự ra đời của trường Bá nghệ Thủ Dầu Một là vào đầu thế kỷ XX, khi người Pháp nhận thấy có thể lợi dụng nghề mỹ thuật cô truyền phương Đông, kết hợp với kỹ thuật tạo đáng Châu Âu để tạo ra sản phẩm cao cấp dùng cho việc trang trí nhà cửa, dinh thự của họ. Năm1901, người Pháp cho xây dựng trường Bá nghệ tại Thủ Dầu Một, vì nơi đây họ có thể lợi dụng vào thế mạnh của các ngành kinh tế tập trung vào lâm sản, khai thác gỗ, tiểu thủ công nghiệp, nghề mộc, cưa xẻ, chế biến gỗ đạng thô sơ, nghề gốm sứ dân dụng và mỹ thuật, đặc biệt có nghề sơn ta và khám xà cừ khá tuyệt xảo. Mục tiêu xa xôi là dựng chiêu bài “khai hóa”, tuyên truyền, che giấu âm mưu xâm lược.

Mục tiêu gần gũi, thiết thực là sản xuất, cung cấp tại chỗ cho bọn cầm quyền những hàng tiêu dùng và trang trí nội thất có giá trị thấm mỹ cao. Do đó, từ một nghề sơn mài truyền thống của Tương Bình Hiệp có tính chất gia đình, đã được phổ biến và ngày càng phát triển theo chiều hướng rộng. Trường Bá nghệ (Ecole des Arts) cử ông De Lafause làm hiệu trưởng trường và cho những người biết chạm, khắc sơn, trang trí vào đây dạy nghề, với mục đích tạo một lớp thợ chính quy các bộ môn vẽ, chạm mộc và sơn mài. Chương trình dạy của trường II gồm có bốn môn: gỗ (Ebenisterie), điêu khắc (Sculpture), khảm xà cừ (Iicrustation), và đúc đồng (Fonderie de Bronze) nhưng trong thực tế thì chỉ chú trọng đến chạm gỗ và sử dụng son ta (laquer) dé sơn thếp.

Dưới sự chi phối của viên giám hiệu người Pháp đầu tiên, các sản phẩm thực hiện đều dựa vào tiêu chuẩn là vật dụng trang trí được trình bày tại bảo tàng Khải Định và cung điện triều đình Huế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ