Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đoàn Thị Hoa (ngành Đông Nam Á học) tập trung giải quyết bài toán đào tạo nguồn nhân lực ngành du lịch bậc đại học trong giai đoạn Việt Nam đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế và vừa gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn:

  • Du lịch được Đảng và Nhà nước xác định là một ngành kinh tế quan trọng, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, từng bước phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định phát triển giáo dục và đào tạo là động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa và là điều kiện tiên quyết để phát triển nguồn lực con người.
  • Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, văn hóa và là đầu mối đào tạo nguồn nhân lực lớn của cả nước. Trong nhiều năm qua, hoạt động mở ngành đào tạo du lịch tại các trường đại học trên địa bàn diễn ra sôi động.
  • Tuy nhiên, công tác đào tạo bậc đại học còn bộc lộ nhiều điểm bất cập: nội dung chương trình giữa các trường chưa thống nhất; trình độ đội ngũ giảng viên, chất lượng giáo trình, phương tiện thực hành chưa đáp ứng được đòi hỏi thực tế; xuất hiện tình trạng "bất tương ứng" sâu sắc giữa đào tạo trong nhà trường và nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp du lịch.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về nguồn nhân lực du lịch và vai trò của đào tạo nhân lực du lịch trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
  2. Khảo sát, xem xét thực trạng tổ chức đào tạo chuyên ngành du lịch tại một số trường đại học, cao đẳng và cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Đánh giá mức độ tương thích và bất tương ứng giữa chương trình giảng dạy, kỹ năng đào tạo với yêu cầu thực tế của thị trường lao động du lịch.
  4. Đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, gắn kết đào tạo với thực tiễn sử dụng lao động du lịch ở bậc đại học.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động đào tạo nguồn nhân lực du lịch ở bậc đại học.
  • Phạm vi không gian: Tập trung khảo sát tại các trường đại học, cơ sở đào tạo ngành du lịch trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, có mở rộng liên hệ với hệ thống đào tạo cao đẳng, trung cấp và tham chiếu kinh nghiệm đào tạo du lịch tại một số quốc gia Đông Nam Á (Malaysia, Thái Lan).
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu dữ liệu phát triển ngành du lịch và thực trạng đào tạo tập trung trong giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2006, sử dụng các chuỗi thống kê giai đoạn 2000 – 2005 và định hướng đến năm 2010 – 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được triển khai dựa trên hệ thống văn bản pháp quy, chủ trương chính sách của Nhà nước kết hợp với các phương pháp điều tra xã hội học chuyên ngành:

Khung lý thuyết, thể chế và văn bản pháp luật sử dụng:

  • Văn kiện, chỉ thị của Đảng: Chỉ thị số 46-CT/TW ngày 14/10/1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VII về phát triển du lịch trong tình hình mới; Thông báo số 179-TB/TW ngày 11/11/1998 của Bộ Chính trị; các Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, IX và Dự thảo văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X.
  • Văn bản quy phạm pháp luật và quyết định của Chính phủ: Nghị định số 26/CP ngày 09/07/1960 thành lập Công ty Du lịch Việt Nam; Nghị định số 05/CP ngày 17/10/1992 thành lập lại Tổng cục Du lịch; Nghị định số 20-CP ngày 27/12/1992 và Nghị định số 53-CP ngày 07/8/1995 về tổ chức bộ máy Tổng cục Du lịch; Nghị quyết số 45/CP ngày 22/6/1993 về đổi mới quản lý và phát triển ngành du lịch; Nghị định số 94/2003/NĐ-CP ngày 18/9/2003 quy định chức năng, nhiệm vụ của Tổng cục Du lịch; Pháp lệnh Du lịch năm 1999 và Luật Du lịch năm 2005.
  • Chiến lược và quy hoạch ngành: Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam 1995 – 2010; Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001 – 2010; Chương trình hành động quốc gia về du lịch giai đoạn 2001 – 2005 và 2006 – 2010.
  • Mô hình đào tạo tham chiếu: Mô hình mô phỏng thành lập doanh nghiệp du lịch tại Khoa Du lịch - Đại học Dân lập Văn Lang liên kết với Tổ chức Hợp tác các Đại học Pháp ngữ (AUF) và các trường đại học Pháp (Toulouse, Perpignan, Angers...), Đại học UQAM (Canada), Đại học Cadi Ayyad (Maroc).

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Phương pháp thu thập và phân tích tài liệu thứ cấp: Kế thừa các kết quả nghiên cứu trong sách, giáo trình, kỷ yếu hội thảo của các tác giả Đinh Trung Kiên (2004), Phạm Trung Lượng (2002), Phú Văn Hẳn, Hồ Hữu Nhật, Trần Văn Phương, Lê Anh Tuấn.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Sử dụng phiếu bảng hỏi khảo sát trực tiếp các đối tượng là cán bộ quản lý, nhân viên kinh doanh, hướng dẫn viên du lịch đang công tác tại các doanh nghiệp trên địa bàn TP.HCM nhằm đánh giá tính tương thích của kiến thức đào tạo.
  • Phương pháp thống kê, tổng hợp và so sánh: Xử lý các chuỗi số liệu về cơ cấu giảng viên, vốn đầu tư hạ tầng, vốn FDI, lượng khách quốc tế và doanh thu du lịch.
  • Phương pháp phỏng vấn chuyên gia và quan sát thực tế: Trao đổi với giảng viên, sinh viên và đại diện doanh nghiệp lữ hành, khách sạn.

Nguồn dữ liệu: Dữ liệu công bố từ Tổng cục Du lịch Việt Nam, Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh, Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, Hiệp hội Du lịch Việt Nam và kết quả điều tra bằng bảng hỏi của chính tác giả.


Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Vài nét về phát triển du lịch ở Việt Nam

Chương I khái quát lịch sử hình thành, tiến trình đổi mới công tác quản lý, thu hút đầu tư và các thành tựu kinh tế - xã hội của ngành du lịch Việt Nam.

1. Các giai đoạn phát triển của ngành du lịch:

  • Giai đoạn 1960 – 1975: Thành lập Công ty Du lịch Việt Nam trực thuộc Bộ Ngoại thương (theo Nghị định 26/CP ngày 09/07/1960), sau chuyển sang Phủ Thủ tướng (1969) rồi Bộ Công an. Nhiệm vụ chủ yếu là phục vụ các đoàn khách của Đảng, Nhà nước và chuyên gia các nước xã hội chủ nghĩa; mở rộng một số cơ sở tại Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Tam Đảo, Hòa Bình...
  • Giai đoạn 1975 – 1990: Đất nước thống nhất, Tổng cục Du lịch Việt Nam được thành lập trực thuộc Hội đồng Chính phủ (tháng 6/1978). Tiếp quản, khôi phục và xây dựng mạng lưới cơ sở du lịch tại Huế, Đà Nẵng, Bình Định, Nha Trang, Lâm Đồng, TP.HCM, Vũng Tàu, Cần Thơ.
  • Giai đoạn 1990 đến thời điểm nghiên cứu: Du lịch khởi sắc cùng công cuộc Đổi mới. Tái lập Tổng cục Du lịch trực thuộc Chính phủ (tháng 11/1992 theo Nghị định 05/CP) và tiến tới hoàn thiện khung khổ pháp lý với Pháp lệnh Du lịch (1999), Luật Du lịch (2005).

2. Đổi mới quản lý, huy động vốn đầu tư và xúc tiến du lịch:

  • Huy động nguồn vốn trong nước: Giai đoạn 2001 – 2005, ngân sách Trung ương đã cấp 2.146 tỷ đồng hỗ trợ hạ tầng tại các khu du lịch trọng điểm thuộc 58 tỉnh, thành phố.
Năm Vốn ngân sách hỗ trợ (tỷ đồng) Số lượng dự án
2001 266 23
2002 380 73
2003 450 167
2004 500 122
2005 550 Ghi cho 58 tỉnh/thành
Tổng cộng 2.146 385
  • Thu hút FDI và tài trợ quốc tế: Toàn ngành ghi nhận 190 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng vốn đăng ký 4,64 tỷ USD tại 29 địa phương (giai đoạn 1998 – 2004 đạt 4,029 tỷ USD; lũy kế đạt 239 dự án với 6,112 tỷ USD). Nhiều dự án ODA lớn được triển khai: Dự án phát triển nguồn nhân lực du lịch do Luxembourg tài trợ (>10 triệu Euro), dự án do EU tài trợ (~12 triệu Euro), dự án "Phát triển du lịch Mêkông" do ADB tài trợ trị giá 12,2 triệu USD (gồm 8,47 triệu USD vốn vay ưu đãi). Việt Nam cũng bước đầu có 5 dự án đầu tư ra nước ngoài quy mô nhỏ trong lĩnh vực ẩm thực tại Nhật Bản, Đức, Hoa Kỳ.
  • Xúc tiến, quảng bá: Thành lập Cục Xúc tiến Du lịch; triển khai Chương trình Hành động quốc gia về du lịch với ngân sách nhà nước 112 tỷ đồng (2000 – 2005); 13 doanh nghiệp lữ hành quốc tế đã đặt 23 văn phòng đại diện tại 12 quốc gia.

3. Thành tựu phát triển ngành du lịch:

  • Hạ tầng cơ sở: Cả nước có khoảng 6.000 cơ sở lưu trú với 130.575 buồng phòng, trong đó 72.458 buồng đã được xếp hạng từ đạt chuẩn đến 5 sao (gồm 18 khách sạn 5 sao/5.251 buồng; 48 khách sạn 4 sao/5.797 buồng; 119 khách sạn 3 sao/8.724 buồng; 449 khách sạn 2 sao/18.447 buồng; 434 khách sạn 1 sao/10.757 buồng; 923 khách sạn đạt tiêu chuẩn tối thiểu). Cả nước có 399 doanh nghiệp lữ hành quốc tế (Hà Nội: 148, TP.HCM: 144, Quảng Ninh: 17, Đà Nẵng: 14, Hải Phòng: 8) và hơn 10.000 đơn vị lữ hành nội địa.
  • Lượng khách và doanh thu: Năm 2005, Việt Nam đón 3,43 triệu lượt khách quốc tế và trên 16 triệu lượt khách nội địa; tổng thu nhập du lịch đạt 30.000 tỷ đồng (tăng gấp hơn 22 lần so với mức 1.350 tỷ đồng năm 1990). Riêng tại TP.HCM, lượng khách quốc tế năm 2006 đạt 2,35 triệu lượt (tăng 17,5% so với năm 2005); tổng doanh thu du lịch đạt 16.200 tỷ đồng.
  • Hiệu quả xã hội: Ngành du lịch tạo việc làm cho hơn 234.000 lao động trực tiếp và khoảng 510.000 lao động gián tiếp trên phạm vi cả nước.

Chương II: Thực trạng đào tạo ngành du lịch ở bậc đại học

Chương II đi sâu phân tích hệ thống đào tạo, chất lượng đội ngũ giảng viên, mức độ bất tương ứng giữa cung - cầu lao động và kết quả điều tra thực tế tại TP.HCM.

1. Tình hình đào tạo ngành du lịch:

  • TP.HCM có hơn 50 trường đại học và hàng trăm trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp. Riêng ngành du lịch có gần 10 trường ĐH, CĐ, TCCN tham gia đào tạo (tính đến 2005).
  • Điển hình đào tạo đại học: Khoa Du lịch - Trường Đại học Dân lập Văn Lang đào tạo 2 chuyên ngành (Quản trị khách sạn - nhà hàng và Quản trị du lịch lữ hành), sau hơn 10 năm đã cung cấp hơn 1.000 cử nhân; liên kết AUF đào tạo chương trình sau đại học Master 1 (1 năm tại Việt Nam, 1 năm tại Pháp) cấp bằng chuẩn châu Âu (EU).
  • Điển hình đào tạo nghề: Trường Nghiệp vụ Du lịch Sài Gòn (thành lập năm 1991) đã đào tạo gần 4.000 cán bộ quản lý lữ hành, khách sạn và nhân viên nghiệp vụ, trong đó có 203 cựu học viên nắm giữ vị trí chủ chốt tại các doanh nghiệp lớn.
  • Đội ngũ giảng viên toàn quốc: Quy mô giảng viên đại học, cao đẳng tăng trưởng qua các năm, tuy nhiên tỷ lệ giảng viên có trình độ chuyên môn sau đại học giảng dạy trực tiếp ngành du lịch vẫn rất khan hiếm.
Tiêu chí phân loại trình độ Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 (Sơ bộ)
Tổng số giảng viên (Người) 32.357 35.941 38.671 39.985 47.613 48.541
- Trình độ Trên đại học 12.656 15.131 16.708 17.628 21.284 23.861
- Trình độ Đại học, cao đẳng 19.321 20.348 21.302 21.845 25.598 24.169
- Trình độ khác 380 462 661 512 731 511
Khối trường công lập 27.891 31.419 33.394 34.914 39.960 41.976
- Trên đại học 10.840 13.035 14.375 15.189 17.318 19.958
- Đại học, cao đẳng 16.718 17.945 18.425 19.251 22.035 21.529
- Trình độ khác 333 439 594 474 607 489
Khối trường ngoài công lập 4.466 4.522 5.277 5.071 7.653 6.565
- Trên đại học 1.816 2.096 2.333 2.439 3.966 3.903
- Đại học, cao đẳng 2.603 2.403 2.877 2.594 3.563 2.640
- Trình độ khác 47 23 67 38 124 22

2. Tính tương ứng và bất tương ứng với thực tế:

  • Tỷ lệ lao động ngành du lịch tốt nghiệp ĐH, CĐ tăng từ 13,3% (1997) lên 28,15% (2004); lao động được đào tạo ngoại ngữ tăng từ 67% (1998) lên 89% (2004).
  • Cả nước có gần 5.800 hướng dẫn viên du lịch; TP.HCM có hơn 1.300 người nhưng chỉ có 641 người đáp ứng đủ tiêu chuẩn cấp thẻ hành nghề chính thức.
  • Lực lượng lao động rơi vào tình trạng "vừa thừa vừa thiếu": thừa lao động lớn tuổi chưa qua đào tạo bài bản, thiếu trầm trọng nhân sự vững chuyên môn nghiệp vụ và thông thạo ngoại ngữ.
  • Thiếu hụt nghiêm trọng hướng dẫn viên các ngôn ngữ hiếm tại TP.HCM: tiếng Nga có 8 người, tiếng Tây Ban Nha có 16 người, tiếng Thái có 10 người, tiếng Hàn có 14 người (tính cả hướng dẫn viên chính thức và tạm thời).

3. Khảo sát thực tế về việc học và hành: Khóa luận công bố kết quả điều tra bằng bảng hỏi gồm 9 nội dung đánh giá từ những người đang trực tiếp làm việc trong ngành du lịch:

STT Nội dung câu hỏi khảo sát Phương án a (%) Phương án b (%) Phương án c (%) Phương án d (%)
1 Vị trí công tác hiện tại 9,09 (Lãnh đạo) 21,2 (Kinh doanh, tài chính) 21,2 (Hướng dẫn viên) 51,5 (Vai trò khác)
2 Trình độ đào tạo chuyên môn 12,1 (Sơ cấp) 39,4 (Trung cấp, CĐ) 48,4 (Đại học) 0,0
3 Dự báo nhu cầu nhân lực ĐH đến 2020 3,03 (Bão hòa) 39,4 (Gấp đôi hiện nay) 57,6 (Hơn gấp đôi) 0,0
4 Mức độ phù hợp của kiến thức đã học 15,15 (Phù hợp) 84,85 (Chưa phù hợp) 0,0 0,0
5 Mức độ ứng dụng kiến thức vào thực tế 6,06 (Áp dụng hoàn toàn) 40,4 (Áp dụng một nửa) 48,5 (Rất ít) 6,06 (Không sử dụng được)
6 Trình độ ngoại ngữ chuyên môn 3,03 (Lưu loát) 72,7 (Chưa lưu loát) 25,3 (Không giao tiếp được) 0,0
7 Tỷ trọng phân bổ chương trình 33,3 (Lý thuyết > thực hành) 30,3 (Lý thuyết < thực hành) 33,3 (Trên lớp > thực tế) 3,03 (Thực tế > giảng đường)
8 Kiến thức được coi là cần thiết nhất 9,09 (Tổng quan du lịch) 45,5 (Nghiệp vụ du lịch) 42,4 (Chuyên ngành) 3,03 (Khác)
9 Kiến thức coi là ít cần thiết nhất 6,06 (Văn hóa - xã hội) 93,94 (Kinh tế tổng quát) 0,0 (Lịch sử) 0,0

Thực tế đào tạo đại học bị đánh giá là dàn trải quá nhiều môn lý thuyết (khoảng 50 môn), thời gian kiến tập, thực tập tại doanh nghiệp quá ngắn ngày, khiến sinh viên tốt nghiệp thiếu kỹ năng xử lý tình huống nghiệp vụ và hạn chế về năng lực ngoại ngữ giao tiếp.


Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính:

  • Khái quát bức tranh phát triển của ngành du lịch Việt Nam và TP.HCM qua các mốc số liệu kinh tế: doanh thu du lịch toàn quốc năm 2005 đạt 30.000 tỷ đồng; TP.HCM năm 2006 đạt doanh thu 16.200 tỷ đồng và đón 2,35 triệu lượt khách quốc tế.
  • Chứng minh bằng số liệu thực nghiệm về khoảng cách giữa đào tạo và sử dụng lao động: 84,85% người được khảo sát cho rằng kiến thức đại học chưa phù hợp với công việc; 54,56% cho rằng kiến thức áp dụng rất ít hoặc không sử dụng được; 98% nhân sự tự nhận chưa lưu loát hoặc không giao tiếp được ngoại ngữ.
  • Chỉ rõ tình trạng mất cân đối cục bộ: TP.HCM có hơn 1.300 hướng dẫn viên nhưng chỉ 641 người được cấp thẻ hành nghề; đội ngũ hướng dẫn viên các tiếng hiếm (Nga, Hàn, Thái, Tây Ban Nha) chỉ có từ 8 đến 16 người mỗi thứ tiếng.

Giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất:

  1. Rà soát và kiện toàn nhân sự toàn ngành: Tiến hành sắp xếp lại bộ máy tổ chức; ưu tiên tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ quản lý có trình độ chuyên môn, phẩm chất và tư duy đổi mới.
  2. Xây dựng quy trình đào tạo lại và bồi dưỡng nghiệp vụ: Đào tạo chuẩn hóa lực lượng lao động hiện có tại các khách sạn, nhà hàng (đặc biệt từ 2 sao trở lên) và doanh nghiệp lữ hành.
  3. Đột phá về đào tạo ngoại ngữ và ngôn ngữ hiếm: Phối hợp liên ngành Giáo dục - Du lịch đưa các ngoại ngữ hiếm (Hàn, Nhật, Nga, Đức, Tây Ban Nha, Thái) vào giảng dạy từ bậc phổ thông hoặc ngay từ năm đầu đại học chuyên ngành du lịch.
  4. Đổi mới phương thức đào tạo và đẩy mạnh xã hội hóa:
    • Áp dụng hình thức đào tạo bồi dưỡng tại chỗ thông qua công việc (vừa làm vừa học).
    • Tạo cơ chế gắn kết bắt buộc giữa sinh viên với doanh nghiệp du lịch để rèn luyện kỹ năng tác nghiệp.
    • Khuyến khích tinh thần tự học, nghiên cứu độc lập của người học.
    • Tranh thủ vốn ODA từ Nhật Bản để xúc tiến xây dựng Học viện Du lịch.
  5. Phân hóa công tác đào tạo theo nhóm đối tượng:
    • Nhóm quản lý: Nâng cao năng lực quản trị kinh doanh, ngoại ngữ, tin học, đạt trình độ đại học và sau đại học.
    • Nhóm lao động trực tiếp: Tập trung bồi dưỡng tay nghề, kỹ năng giao tiếp, đạo đức nghề nghiệp và tác nghiệp hàng ngày.
  6. Chuẩn hóa chương trình và trách nhiệm của doanh nghiệp: Cắt giảm các học phần lý thuyết không cần thiết (giảm tải khung 50 môn học); doanh nghiệp du lịch phải chủ động trích kinh phí tái đào tạo nhân sự.

Đóng góp của đề tài:

  • Về mặt thực tiễn: Cung cấp tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên và các cơ sở giáo dục nắm bắt bức tranh tổng thể về nguồn nhân lực du lịch trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
  • Về mặt khoa học: Hệ thống hóa quá trình đào tạo nhân lực ngành du lịch tại TP.HCM, làm cơ sở dữ liệu cho các nghiên cứu quản lý giáo dục và kinh tế du lịch tiếp theo.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:
    • Dung lượng mẫu điều tra bằng bảng hỏi còn ở quy mô hẹp, tập trung chủ yếu vào nhóm nhân sự du lịch đang làm việc tại một số doanh nghiệp trên địa bàn TP.HCM.
    • Các tư liệu và công trình nghiên cứu về đào tạo du lịch bậc đại học thời điểm này còn tản mạn, chủ yếu là tài liệu lưu hành nội bộ tại các trường nên việc so sánh liên trường còn hạn chế.
    • Đề tài chưa đi sâu phân tích chi tiết chương trình đào tạo của từng phân ngành hẹp (như Quản trị Lễ tân, Quản trị Buồng phòng, Quản trị Hội nghị MICE).
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát quy mô lớn trên toàn bộ các trường đại học đào tạo du lịch thuộc khu vực phía Nam và cả nước.
    • Nghiên cứu xây dựng bộ chuẩn đầu ra nghề nghiệp du lịch tương thích với tiêu chuẩn nghề du lịch chung của khu vực ASEAN.
    • Đánh giá hiệu quả kinh tế của các chương trình đào tạo liên kết quốc tế và đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp lữ hành.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng:
    • Sinh viên, học viên cao học các ngành Du lịch, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Quản trị Khách sạn, Việt Nam học, Đông Nam Á học.
    • Ban giám hiệu, phòng đào tạo và giảng viên các trường đại học, cao đẳng đang xây dựng, điều chỉnh chương trình khung ngành du lịch.
    • Cơ quan quản lý nhà nước (Sở Du lịch, Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM) trong việc quy hoạch mạng lưới đào tạo nhân lực.
    • Các nhà quản trị doanh nghiệp du lịch, lữ hành, khách sạn trong việc xây dựng kế hoạch tuyển dụng và đào tạo nội bộ.
  • Phần nội dung đáng tham khảo nhất:
    • Hệ thống tư liệu lịch sử phát triển ngành du lịch Việt Nam và hệ thống văn bản pháp luật, chính sách giai đoạn 1960 – 2005 (Chương I).
    • Bộ số liệu khảo sát thực nghiệm 9 câu hỏi phản ánh khoảng cách giữa kiến thức giảng đường và thực tế nghề nghiệp (Chương II).
    • Mô hình liên kết quốc tế mô phỏng thành lập doanh nghiệp du lịch của Đại học Dân lập Văn Lang với các trường đại học Pháp ngữ (Chương II).

Câu hỏi thường gặp

1. Tác giả chỉ ra thực trạng thiếu hụt hướng dẫn viên ngoại ngữ hiếm tại TP.HCM qua những số liệu cụ thể nào? Theo số liệu từ Sở Du lịch TP.HCM được trích dẫn trong khóa luận, toàn thành phố có hơn 1.300 hướng dẫn viên nhưng chỉ có 641 người đủ điều kiện cấp thẻ hành nghề chính thức. Riêng đội ngũ hướng dẫn viên các thứ tiếng hiếm ở mức rất thấp (kể cả chính thức và tạm thời): tiếng Nga có 8 người, tiếng Tây Ban Nha có 16 người, tiếng Thái có 10 người và tiếng Hàn có 14 người.

2. Kết quả điều tra bằng bảng hỏi của tác giả phản ánh mức độ phù hợp của kiến thức đại học với thực tế công việc ra sao? Kết quả khảo sát 9 câu hỏi tại Chương II ghi nhận: có tới 84,85% ý kiến đánh giá kiến thức du lịch học trong trường là chưa phù hợp với thực tế công việc (chỉ 15,15% đánh giá phù hợp). Về mức độ ứng dụng, chỉ có 6,06% áp dụng hoàn toàn, 40,4% áp dụng một nửa, trong khi có tới 48,5% áp dụng rất ít và 6,06% hoàn toàn không sử dụng được.

3. Khóa luận ghi nhận mô hình đào tạo du lịch quốc tế tiên tiến nào tại TP.HCM? Khóa luận nêu bật mô hình tại Khoa Du lịch - Trường Đại học Dân lập Văn Lang: liên kết với Tổ chức Đại học Pháp ngữ (AUF) và các trường đại học của Pháp (Toulouse, Perpignan, Angers...), Canada (UQAM) tổ chức chương trình mô phỏng thành lập doanh nghiệp du lịch cho sinh viên năm cuối; đồng thời mở chương trình đào tạo sau đại học cấp bằng Master 1 chuẩn EU (học 1 năm tại Việt Nam, 1 năm tại Pháp).

4. Quy mô vốn ngân sách Trung ương và vốn FDI đầu tư vào ngành du lịch trong giai đoạn nghiên cứu đạt bao nhiêu? Trong giai đoạn 2001 – 2005, Chính phủ đã cấp 2.146 tỷ đồng vốn ngân sách Trung ương để hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng cho 385 dự án du lịch trọng điểm. Về vốn đầu tư nước ngoài (FDI), tính đến thời điểm nghiên cứu toàn ngành có 190 dự án với tổng vốn đăng ký 4,64 tỷ USD (lũy kế tổng số dự án đạt 239 dự án với 6,112 tỷ USD).

5. Tác giả đề xuất giải pháp trọng tâm nào để giải quyết bài toán thiếu hụt nhân lực ngoại ngữ ngành du lịch? Tác giả đề xuất ngành Du lịch cần phối hợp chặt chẽ với ngành Giáo dục đưa việc đào tạo các ngôn ngữ khan hiếm (Hàn, Nhật, Nga, Đức, Tây Ban Nha, Thái...) vào giảng dạy sớm từ bậc trung học phổ thông hoặc đào tạo chuyên sâu ngay khi sinh viên trúng tuyển vào các khoa du lịch; đồng thời kết hợp mở các lớp bồi dưỡng ngắn hạn chuyên ngành cho lực lượng lao động hiện có.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đoàn Thị Hoa đã hệ thống hóa chặng đường phát triển của ngành du lịch Việt Nam gắn liền với sự chuyển dịch thể chế quản lý nhà nước từ năm 1960 đến năm 2006. Đề tài đã phân tích thực trạng đào tạo nguồn nhân lực du lịch bậc đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh, chỉ rõ sự bất tương ứng sâu sắc giữa nội dung giảng dạy nặng tính lý thuyết hàn lâm với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp. Hệ thống số liệu khảo sát thực tế và các giải pháp đề xuất về chuẩn hóa chương trình, đào tạo ngôn ngữ hiếm và gắn kết đào tạo với thực hành nghề nghiệp mang giá trị tư liệu thực tiễn cho công tác quản lý giáo dục du lịch giai đoạn hội nhập.