Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình đổi mới và hội nhập kinh tế của Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI, ngành du lịch đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ, từng bước trở thành ngành kinh tế mũi nhọn đóng góp quan trọng vào ngân sách quốc gia. Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, với lợi thế bờ biển dài, tài nguyên thiên nhiên phong phú và vị trí địa lý thuận lợi thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, đã thu hút lượng lớn khách du lịch trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng về lượng du khách cũng kéo theo nhiều nguy cơ và rủi ro phức tạp, đe dọa trực tiếp đến tính mạng, tài sản của du khách và trật tự an toàn xã hội. Tính đến thời điểm năm 2007, trong các nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn cũng như các công trình nghiên cứu chuyên ngành du lịch tại Việt Nam, vấn đề rủi ro du lịch ở cấp độ địa phương cụ thể vẫn chưa được hệ thống hóa một cách bài bản.

Nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu thực tiễn này, khóa luận tốt nghiệp ngành Đông Nam Á học của tác giả Ngô Thị Kim Hà (Trường Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh, năm 2007) đã thực hiện đề tài "Rủi ro trong hoạt động du lịch của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và các giải pháp khắc phục".

Theo văn bản khóa luận, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể bao gồm:

  1. Hệ thống hóa toàn bộ các rủi ro đã xảy ra trong hoạt động du lịch tại địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2006.
  2. Điều tra, tìm hiểu và phân tích các nguyên nhân cốt lõi (cả chủ quan lẫn khách quan) dẫn đến các rủi ro đó, đồng thời đánh giá những biện pháp ứng phó thực tế đã được địa phương triển khai.
  3. Dự báo các nguy cơ và tình huống rủi ro tiềm ẩn có khả năng phát sinh trong tương lai cùng với tiến trình phát triển kinh tế - xã hội.
  4. Đề xuất hệ thống các giải pháp đồng bộ từ cơ sở vật chất, tổ chức quản lý, đào tạo nhân lực đến việc vận dụng bài học kinh nghiệm phát triển du lịch của một số quốc gia Đông Nam Á nhằm kiểm soát rủi ro, bảo vệ an toàn cho du khách và thúc đẩy ngành du lịch tỉnh phát triển bền vững.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động du lịch và toàn bộ các sự cố, tai nạn, nguy cơ rủi ro phát sinh trong quá trình vận hành các dịch vụ du lịch trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
  • Phạm vi không gian: Tập trung chủ yếu tại các khu, điểm du lịch, bãi tắm trọng điểm của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (thành phố Vũng Tàu, huyện Long Điền, huyện Đất Đỏ, huyện Xuyên Mộc, huyện Côn Đảo...); có đối chiếu, tham khảo thông tin từ một số địa phương có hoạt động du lịch tương tự.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập dữ liệu thực tế và phân tích rủi ro trong khoảng 5 năm đầu thế kỷ XXI, từ năm 2001 đến năm 2006 (kèm các số liệu cập nhật đầu năm 2007).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên các khái niệm nền tảng về rủi ro học và lý luận kinh tế - văn hóa du lịch:

  • Khung khái niệm rủi ro: Phân tích khái niệm rủi ro theo từ điển Oxford (khả năng gặp nguy hiểm, thiệt hại) và lý thuyết rủi ro hiện đại từ giữa thế kỷ XX (sự biến động tiềm ẩn ở các kết quả chưa biết trước). Phân định rõ hai loại hình cơ bản: rủi ro thuần túy (chỉ mang nguy cơ tổn thất, không có cơ hội kiếm lời) và rủi ro suy đoán (vừa có nguy cơ tổn thất vừa có cơ hội sinh lợi). Phân biệt rủi ro có thể phân tán (thông qua chia sẻ, bảo hiểm) và rủi ro không thể phân tán; làm rõ khái niệm sự bất định (trạng thái tâm lý chủ quan khi không đủ thông tin dự báo) cùng các loại chi phí rủi ro và chi phí bất định.
  • Khái niệm và cấu trúc hoạt động du lịch: Tiếp cận du lịch như một hiện tượng tổng thể hình thành từ quan hệ qua lại giữa 4 nhóm chủ thể chính: khách du lịch, doanh nghiệp cung ứng dịch vụ, chính quyền sở tại và cộng đồng cư dân địa phương. Khảo sát 5 lĩnh vực kinh doanh cốt lõi: dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, hoạt động vui chơi giải trí - mua sắm, và hoạt động kinh doanh lữ hành - trung gian.
  • Phân loại rủi ro du lịch: Tiếp cận theo nguồn phát sinh (môi trường văn hóa - chính trị - xã hội, môi trường tự nhiên - thiên tai - dịch bệnh, rủi ro trong từng lĩnh vực kinh doanh) và theo đối tượng gánh chịu thiệt hại (du khách, doanh nghiệp, chính quyền địa phương, người dân bản địa).

Phương pháp nghiên cứu được triển khai bao gồm:

  • Phương pháp điều tra, thống kê và mô tả tình huống: Thu thập số liệu tai nạn, sự cố bãi tắm, ngộ độc thực phẩm, vi phạm trật tự an toàn giao thông từ các cơ quan quản lý và lực lượng chức năng.
  • Phương pháp điền dã thực tế và quan sát trực tiếp: Khảo sát hiện trạng bãi tắm, cơ sở lưu trú, hệ sinh thái du lịch và hoạt động buôn bán tự do tại Bãi Sau, Bãi Dứa, Bãi Dâu, Long Hải, Bình Châu...
  • Phương pháp nghiên cứu văn hóa, dân tộc học và lịch sử: Khảo sát tập quán văn hóa biển, lễ hội truyền thống (Nghinh Ông, Lệ Cô) và các yếu tố giao tiếp đa văn hóa tác động đến hành vi của du khách.
  • Phương pháp phân tích tình huống nghiệp vụ: Vận dụng lý thuyết xử lý sự cố trong môn phương pháp hướng dẫn du lịch được đào tạo tại Khoa Đông Nam Á học.

Nguồn dữ liệu sử dụng:

  • Báo cáo và số liệu thống kê chính thức từ Sở Du lịch tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Trung tâm Xúc tiến Du lịch tỉnh.
  • Niên giám thống kê năm 2005 của Cục Thống kê tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
  • Báo cáo tổng hợp từ Sở Bưu chính Viễn thông tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường.
  • Dữ liệu lưu trữ, biên bản xử lý vi phạm của ngành Công an và Ban Quản lý các khu du lịch.
  • Tư liệu thực tế phản ánh trên Báo Bà Rịa - Vũng Tàu và các tài liệu lưu trữ chuyên ngành.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

Chương này trình bày toàn diện các điều kiện tự nhiên, tiến trình lịch sử, cấu trúc kinh tế - xã hội và bức tranh phát triển của ngành du lịch địa phương:

  • Lịch sử và tên gọi địa danh: Vũng Tàu qua các thời kỳ mang nhiều tên gọi: Tam Thắng (gắn với sự kiện thành lập ba làng Thắng Nhất, Thắng Nhì, Thắng Tam vào năm 1822 thời vua Minh Mạng do ba đội trưởng chỉ huy tiễu trừ cướp biển là Phạm Văn Dinh, Lê Văn Lộc, Ngô Văn Huyền lập nên); tên gọi Cap Saint Jacques (người Việt đọc trại thành "Ô Cấp" từ cách nói "Au Cap"); tên Cinco Chagas Verdareiras ("Năm vết thương của Chúa Cứu Thế" trên hải đồ thế giới thế kỷ XVI) và Thuyền Áo trong bản đồ Dinh Trấn Biên thế kỷ XVII. Về hành chính, sau năm 1975 thuộc tỉnh Đồng Nai, năm 1979 lập Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo, sau đó đổi tên thành tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
  • Điều kiện tự nhiên và dân số: Diện tích tự nhiên năm 2005 là 1.982,2 km²; dân số 913.100 người; mật độ dân số 461 người/km². Tỉnh có 8 đơn vị hành chính gồm 1 thành phố (Vũng Tàu), 1 thị xã (Bà Rịa) và 6 huyện (Long Điền, Tân Thành, Châu Đức, Xuyên Mộc, Đất Đỏ, Côn Đảo). Chiều dài bờ biển 305,4 km tính cả quần đảo Côn Sơn - Côn Đảo. Khí hậu nhiệt đới gió mùa: mùa mưa (tháng 5 - 10, gió Tây Nam), mùa khô (tháng 11 - 4 năm sau, gió Đông Bắc); nhiệt độ trung bình 27°C, 2.400 giờ nắng/năm, lượng mưa trung bình 1.500 mm.
  • Đặc điểm kinh tế - xã hội và văn hóa: Là trung tâm năng lượng và dầu khí lớn nhất cả nước (mỏ Bạch Hổ, Rồng, Đại Hùng, Rạng Đông). Trung tâm điện lực Phú Mỹ và Nhà máy điện Bà Rịa chiếm 40% tổng công suất điện cả nước (trên 4.000 MW/10.000 MW). Sản xuất công nghiệp gồm đạm urê (800.000 tấn/năm), polyethylene (100.000 tấn/năm), luyện thép, 7 khu công nghiệp tập trung và hệ thống cảng nước sâu Thị Vải. Văn hóa biển đặc sắc với 10 đền thờ cá voi (nhiều nhất miền Nam), lễ hội Nghinh Ông và lễ hội Dinh Cô Long Hải (từ 10/2 đến 12/2 âm lịch).
  • Thực trạng phát triển du lịch giai đoạn 2001 - 2005: Doanh thu du lịch đạt 3.577 tỷ đồng (tăng trưởng bình quân gần 13%/năm). Lượng khách nội địa đạt 23 triệu lượt (vượt 10% chỉ tiêu), khách quốc tế đạt 890.000 lượt (đạt 82% chỉ tiêu). Toàn tỉnh có trên 140 doanh nghiệp du lịch, khoảng 90 khách sạn, 15 khu du lịch. Điển hình việc nâng cấp cụm khách sạn Grand - Palace của OSC Việt Nam đạt chuẩn quốc tế 4 sao (vốn đầu tư gần 60 tỷ đồng) và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001-2000. Tỉnh đặt mục tiêu giai đoạn 2006 - 2010 đạt tốc độ tăng trưởng doanh thu 14,64%/năm, đón 7,6 triệu lượt khách, doanh thu đạt 1.760 tỷ đồng vào năm 2010, phân bố theo 5 cụm du lịch trọng điểm.

CHƯƠNG II: HỆ THỐNG CÁC RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH

Chương này tập trung thống kê chi tiết các sự cố, tai nạn thực tế đã xảy ra trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn 2002 - 2006 và phân tích căn nguyên phát sinh:

Năm Phao trôi xa, lật phao (vụ) Trẻ lạc (trường hợp) Khách bị tai nạn giao thông (vụ) Lọt ao xoáy (người) Khách bị ngộ độc thực phẩm (người)
2002 432 136 241 34 17
2003 256 145 253 43 19
2004 393 183 272 47 39
2005 457 132 232 25 27
2006 680 179 269 13 37

Phân tích nguyên nhân gây ra rủi ro:

  • Nguyên nhân chủ quan:
    • Quản lý nhà nước: Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành chưa đồng bộ; chính quyền cơ sở chưa đánh giá đúng mức tính chất phức tạp của các vấn nạn xã hội; hệ thống văn bản pháp luật thiếu tính đồng bộ; thủ tục hành chính kéo dài làm chậm tiến độ hạ tầng (như dự án nâng cấp bãi tắm Thùy Vân).
    • Ý thức của du khách: Không tuân thủ biển cảnh báo và hướng dẫn của cứu hộ viên; du khách mắc bệnh tim mạch hoặc uống rượu say vẫn xuống biển; hiện tượng tắm biển quá khuya (23 giờ đêm dẫn đến tử vong tại khu vực khách sạn Tháng Mười đến ngã ba Hoàng Hoa Thám - Thùy Vân).
    • Cơ cấu sản phẩm: Quá tập trung vào tắm biển và nghỉ dưỡng cuối tuần; thiếu vắng sản phẩm văn hóa, thể thao, tour MICE; 31 di tích lịch sử quy mô nhỏ, nằm rải rác và chưa được trùng tu tương xứng.
    • Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm và môi trường: Kinh doanh ăn uống tự phát, xả rác bừa bãi; chỉ có hơn 50% cơ sở lập báo cáo đánh giá tác động môi trường; nước thải chưa được xử lý triệt để mà ngấm qua hầm tự hoại xuống đất.
    • Nội tại doanh nghiệp: Quy mô nhỏ và vừa, kinh doanh theo lối mòn cũ, chậm đổi mới trang thiết bị và thiếu chủ động trong tiếp thị, xúc tiến.
  • Nguyên nhân khách quan:
    • Chu kỳ khí hậu biển: Mùa gió Đông Bắc (tháng 11 - 4) thổi tạo sóng góc 25° hình thành các ao xoáy nguy hiểm dọc bãi tắm; mùa gió Tây Nam (tháng 5 - 10) tạo sức gió thổi trôi phao ra xa bờ.
    • Thiên tai, dịch bệnh bất khả kháng: Bão số 9 (Durian) gây tàn phá nghiêm trọng; nguy cơ dịch bệnh nguy hiểm (SARS, HIV); sự cố tràn dầu trên vùng biển phía Nam ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường bãi tắm.

CHƯƠNG III: NGUY CƠ XẢY RA RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

Tác giả đi sâu phân tích các điểm nghẽn và nguy cơ tiềm ẩn trong thực tế vận hành:

  • Nguy cơ do cơ sở vật chất kỹ thuật:
    • Mặc dù 6 tháng đầu năm 2007 đón 3,5 triệu lượt khách, hệ thống lưu trú vẫn mất cân đối nghiêm trọng: thiếu khách sạn 5 sao, chủ yếu là 2 - 3 sao; Bãi Dâu yên tĩnh nhưng hạ tầng thô sơ, thiếu khu vui chơi, mạng lưới điện chập chờn và chưa có truyền hình cáp; một số cơ sở lấn chiếm vỉa hè (khách sạn Hải Sơn đường Lê Lợi chiếm 30m vỉa hè đặt bàn bida).
    • Phương tiện vui chơi bãi biển thiếu kiểm định an toàn: Toàn tỉnh có 42 ca nô, mô tô trượt nước thuộc 7 khu du lịch có đăng ký, song còn nhiều phương tiện tự do hoạt động chui; đài cứu hộ thiếu (đài cấp cứu 01 tại Bãi Sau đoạn khách sạn Tháng Mười đến Phan Châu Trinh xây dựng dở dang).
    • Hạ tầng giao thông bất cập: Tuyến đường ven biển Xuyên Mộc mới làm đã gồ ghề ổ gà; đường Nguyễn An Ninh mang 3 tên gọi khác nhau (Lê Hồng Phong, Quốc lộ 51B, Nguyễn An Ninh) gây rối cho du khách; ngã tư Quốc lộ 55 và hương lộ 10 tại thị trấn Long Điền thiếu đèn tín hiệu giao thông.
    • Ứng dụng công nghệ thông tin nghèo nàn: Theo Sở Bưu chính Viễn thông, doanh nghiệp du lịch chỉ dừng lại ở tin học văn phòng cơ bản, thiếu nhân sự chuyên trách công nghệ để quản trị rủi ro và tăng sức cạnh tranh.
  • Nguy cơ do khâu tổ chức, quản lý:
    • Tình hình trật tự trị an diễn biến xấu: Xuất hiện tình trạng chèo kéo, cò mồi "rải hoa hồng", ép giá ("mỡ khách rán tài xế"); Bãi Sau bị biến thành chợ hải sản tự phát gây mất mỹ quan và ô nhiễm; lòng lề đường Trương Công Định bị lấn chiếm bởi xe xích lô, hàng rong.
    • Gian lận thương mại: Năm 2006, cơ quan chức năng đã thu giữ 26 chiếc cân đồng hồ sai tiêu chuẩn đo lường; tình trạng chặt chém du khách tại các quán cơm Bãi Sau chưa được xử lý dứt điểm.
    • Ô nhiễm môi trường nghiêm trọng: Nguồn khoáng nóng Bình Châu suy giảm do khai thác quá mức; chất lượng không khí tại các khách sạn chưa đạt chuẩn; xử lý nước thải lỏng lẻo đe dọa mạch nước ngầm.
    • Rủi ro vận tải du lịch: Điển hình sự cố tàu cánh ngầm Greenline dồn ứ khách quá tải, chết máy giữa hành trình gây hoang mang, bức xúc cho hành khách.
    • Quản lý bãi tắm buông lỏng: Xuất hiện khái niệm "bãi tắm tự phát" do địa phương né tránh trách nhiệm cứu hộ, cứu nạn.

CHƯƠNG IV: CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

Khóa luận thiết kế 4 hệ thống giải pháp lớn nhằm ngăn chặn và giảm thiểu rủi ro:

  • Nhóm 1: Giải pháp về cơ sở vật chất kỹ thuật và dịch vụ:
    • Hoàn thiện hạ tầng du lịch trực tiếp tại Núi Dinh, thác Hòa Bình, Hoa Anh Đào, Minh Đạm, Bến Cát - Hồ Cốc, Côn Đảo và khu bảo tồn Bình Châu - Phước Bửu; điều chỉnh quy hoạch đất lâm nghiệp sang đất du lịch.
    • Nâng cấp cơ sở lưu trú, lắp đặt mạng Internet không dây (tiêu biểu như khách sạn DIC Star), đầu tư hệ thống đài cấp cứu bãi biển tại Bãi Sau và Bãi Dứa, lắp đặt trụ chống sét; bổ sung tàu cánh ngầm và xe chất lượng cao; ứng dụng công nghệ khai phá dữ liệu (Datamining) vào phân tích thị trường; xây dựng trung tâm hội chợ triển lãm MICE và nhà thi đấu đa năng Bàu Trũng.
  • Nhóm 2: Giải pháp về tổ chức quản lý điểm đến, bãi tắm, trật tự trị an, VSATTP và môi trường:
    • Ban hành đề án chấn chỉnh trật tự trị an (chọn TP. Vũng Tàu làm điểm giai đoạn 2006 - 2010), giải quyết triệt để tội phạm móc túi, cướp giật; cấm bán hàng rong tại bãi tắm; gom những người làm nghề chụp ảnh dạo, cho thuê phao dù vào các tổ hợp tác/nghiệp đoàn; di dời mô tô nước ra ngoài vùng tắm an toàn.
    • Phân công rõ trách nhiệm cho 11 cơ quan: Công an tỉnh, UBND các huyện/thành phố, Sở Du lịch, Sở LĐ-TB&XH, Ban Tổ chức Chính quyền, Sở Xây dựng/Địa chính, Sở GTVT, Sở Tư pháp, Sở VHTT/Thể dục Thể thao/Đài PTTH, Sở Thương mại/Tài chính Vật giá, và các doanh nghiệp du lịch.
    • Về an toàn thực phẩm: Cấp chứng nhận đủ điều kiện, lập hệ thống cảnh báo nhanh, công khai danh sách vi phạm, xử lý nghiêm người đứng đầu (cách chức, truy cứu hình sự nếu ngộ độc nghiêm trọng).
    • Về môi trường: Bắt buộc thực hiện đánh giá tác động môi trường (ĐTM), cấm xả rác/chôn rác trên bãi cát, bảo tồn nguồn khoáng nóng Bình Châu, tổ chức lao động công ích làm sạch môi trường biển.
  • Nhóm 3: Giải pháp về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực:
    • Thống kê toàn ngành năm 2005 có 6.041 lao động; trong đó lao động có trình độ công nhân kỹ thuật, trung cấp, cao đẳng, đại học tăng từ 2.256 người (năm 2001) lên 4.135 người (năm 2005).
    • Tăng cường liên kết đào tạo với Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu, Cao đẳng Cộng đồng, Trung cấp Du lịch tỉnh; mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cứu hộ thủy nạn, văn minh giao tiếp, bảo vệ môi trường cho đội ngũ trực tiếp phục vụ.
  • Nhóm 4: Vận dụng chiến lược và kinh nghiệm phát triển du lịch từ các nước Đông Nam Á:
    • Nghiên cứu mô hình quản lý an toàn điểm đến, quy hoạch không gian biển và xúc tiến du lịch từ các quốc gia phát triển du lịch trong khu vực ASEAN (như Thái Lan, Singapore, Malaysia).

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã đạt được những kết quả nghiên cứu và đóng góp thực tiễn nổi bật:

  • Số liệu thống kê thực chứng: Khóa luận đã tập hợp và chuẩn hóa chuỗi dữ liệu 5 năm (2002 - 2006) về các loại hình rủi ro tại Bà Rịa - Vũng Tàu, ghi nhận sự gia tăng đột biến của các vụ trôi phao/lật phao (từ 432 vụ năm 2002 lên 680 vụ năm 2006), tai nạn giao thông du lịch luôn ở mức cao (>230 - 270 vụ/năm), và sự suy giảm các ca lọt ao xoáy nguy hiểm (từ 34 - 47 ca giai đoạn 2002 - 2004 xuống còn 13 ca năm 2006 nhờ cắm cờ cảnh báo).
  • Mô hình phối hợp liên ngành giải quyết rủi ro: Đề xuất được cơ chế phối hợp cụ thể, quy định rõ trách nhiệm của 11 sở, ban, ngành và chính quyền địa phương trong việc quản lý điểm đến, bảo đảm trật tự an toàn, bài trừ nạn chặt chém và kiểm soát cứu hộ bãi tắm.
  • Đóng góp mới của đề tài: Đây là một trong những công trình học thuật đầu tiên tại Khoa Đông Nam Á học - Trường Đại học Mở TP.HCM tiếp cận trực diện vấn đề quản trị rủi ro trong hoạt động du lịch tại một địa phương trọng điểm ven biển, kết hợp giữa lý luận rủi ro hiện đại với phương pháp nghiên cứu liên ngành khoa học xã hội và nhân văn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Do vấn đề rủi ro du lịch tại thời điểm năm 2007 còn rất mới mẻ, nguồn tài liệu chuyên khảo trong nước còn hạn chế; phạm vi khảo sát số liệu thực tế dừng lại trong giai đoạn 2001 - 2006; tác giả tự nhận định công trình còn có những hạn chế nhất định về dung lượng phân tích kinh nghiệm quốc tế và chiều sâu lý luận quản trị khủng hoảng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu sang mô hình định lượng đánh giá mức độ rủi ro du lịch; nghiên cứu sâu hơn về ứng dụng công nghệ thông tin và khai phá dữ liệu (Datamining) trong dự báo luồng khách và cảnh báo sớm thiên tai biển; phân tích so sánh mô hình quản trị an toàn du lịch biển giữa Bà Rịa - Vũng Tàu với các trung tâm du lịch biển lớn trong khu vực Đông Nam Á như Phuket hay Bali.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với:

  • Sinh viên, học viên ngành Du lịch, Quản trị Dịch vụ Du lịch - Lữ hành, Đông Nam Á học và Quản lý Nhà nước: Cung cấp tài liệu thực chứng về phương pháp khảo sát, phân loại rủi ro và phân tích tình huống thực tế tại điểm đến du lịch biển.
  • Các cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp du lịch địa phương: Cung cấp khung giải pháp thực tế về quản lý trật tự bãi tắm, cơ chế kiểm soát giá cả, phương án phối hợp bảo vệ môi trường biển và chương trình đào tạo nghiệp vụ cứu hộ thủy nạn cho người lao động.

Câu hỏi thường gặp

1. Số liệu thống kê rủi ro du lịch Bà Rịa - Vũng Tàu giai đoạn 2002 - 2006 cho thấy những biến động nào đáng chú ý nhất?

Theo bảng thống kê của Sở Du lịch, số vụ phao trôi xa và lật phao tăng mạnh nhất, từ 432 vụ (năm 2002) lên mức cao nhất là 680 vụ (năm 2006). Tai nạn giao thông liên quan đến du khách duy trì ở mức rất cao, dao động từ 232 đến 272 vụ/năm. Trong khi đó, các ca lọt ao xoáy có xu hướng giảm rõ rệt, từ 47 người (năm 2004) xuống còn 13 người (năm 2006) nhờ hoạt động cảnh báo và cứu hộ bãi biển từng bước được tăng cường.

2. Yếu tố khí hậu tự nhiên gây ra những rủi ro đặc thù nào cho du khách tắm biển tại Bà Rịa - Vũng Tàu?

Chu kỳ gió mùa chi phối trực tiếp mức độ an toàn của bãi tắm:

  • Mùa gió Đông Bắc (tháng 11 đến tháng 4 năm sau): Biển động mạnh, gió thổi vào bờ theo góc 25° tạo nên các ao xoáy ngầm rất nguy hiểm dọc theo chiều dài bãi tắm, dễ cuốn trôi người tắm biển.
  • Mùa gió Tây Nam (tháng 5 đến tháng 10): Sức gió thổi hướng ra biển, thường xuyên đẩy du khách sử dụng phao bơi trôi dạt ra xa bờ không thể tự bơi vào.

3. Khóa luận chỉ ra những nguyên nhân chủ quan nào dẫn đến tình trạng mất an ninh trật tự và bất an cho du khách tại Bãi Sau?

Nguyên nhân chủ quan bắt nguồn từ việc bãi tắm Thùy Vân trước đây giao cho tư nhân quản lý dẫn đến hiện tượng "cò" du lịch lộng hành, móc ngoặc chia hoa hồng ép giá du khách ("mỡ khách rán tài xế"); nạn bán hàng rong, chụp ảnh dạo chèo kéo đeo bám; bãi biển bị biến thành chợ hải sản nhộn nhịp mất vệ sinh; cùng với tình trạng buông lỏng quản lý, sử dụng các loại cân đồng hồ sai chuẩn (năm 2006 thu giữ 26 chiếc cân sai phạm) và dự án nâng cấp bãi tắm Thùy Vân kéo dài nhiều năm không hoàn thành.

4. Tác giả đề xuất giải pháp cụ thể nào nhằm xử lý dứt điểm tình trạng buôn bán hàng rong và mất trật tự bãi biển?

Khóa luận đề xuất: Cấm hoàn toàn hoạt động buôn bán hàng rong trên các bãi tắm; tiến hành rà soát, thống kê danh sách người bán hàng rong để hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp; gom những người làm nghề tự do (chụp ảnh dạo, cho thuê dù phao, chạy mô tô nước) vào các tổ hợp tác hoặc nghiệp đoàn có sự quản lý trực tiếp của Ban Quản lý khu du lịch và chính quyền cơ sở; đồng thời đưa người ăn xin, trẻ em lang thang vào các cơ sở bảo trợ xã hội.

5. Thực trạng và chỉ số phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu được ghi nhận trong khóa luận như thế nào?

Tính đến năm 2005, toàn tỉnh có 6.041 người làm việc trong ngành du lịch. Cơ cấu chất lượng nhân lực có bước cải thiện rõ rệt: số lao động có trình độ từ công nhân kỹ thuật, cao đẳng và đại học đã tăng từ 2.256 người (năm 2001) lên 4.135 người (năm 2005). Tuy nhiên, nhân lực chuyên trách về công nghệ thông tin và nghiệp vụ quản lý rủi ro, cứu nạn cứu hộ tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn còn thiếu hụt và yếu về chuyên môn.


Kết luận

Khóa luận "Rủi ro trong hoạt động du lịch của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và các giải pháp khắc phục" của tác giả Ngô Thị Kim Hà là một công trình nghiên cứu công phu, phản ánh bức tranh thực tiễn sinh động của ngành du lịch địa phương trong giai đoạn 2001 - 2006. Bằng việc tổng hợp chuỗi số liệu thực chứng và phân tích căn nguyên từ tự nhiên, hạ tầng kỹ thuật đến khâu tổ chức quản lý nhà nước, đề tài đã chỉ rõ những điểm nghẽn an toàn đe dọa sự phát triển du lịch của tỉnh. Hệ thống giải pháp liên ngành 11 cơ quan và mô hình quản lý bãi tắm mà khóa luận đề xuất mang giá trị thực tiễn sâu sắc, đóng góp thiết thực cho công tác hoạch định chính sách du lịch an toàn và bền vững.