Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ "Hợp tác giáo dục nghề nghiệp giữa Trung Quốc và Việt Nam từ năm 2013 đến năm 2023" do nghiên cứu sinh Lưu Dương Minh (Liu Yangming) thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, thuộc chuyên ngành Đông Nam Á học (mã số: 9310608.02), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Bùi Thành Nam và TS. Hoàng Huệ Anh.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Tính cấp thiết của đề tài được luận án xác lập dựa trên bốn bối cảnh thực tiễn và học thuật:
- Thứ nhất, mối quan hệ chính trị - ngoại giao giữa hai nước láng giềng đã được nâng cấp lên khuôn khổ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện từ năm 2008, tạo cơ sở chính trị vững chắc cho việc mở rộng giao lưu giáo dục. Giáo dục nghề nghiệp (GDNN) từng bước chuyển đổi từ các chương trình trao đổi học thuật đơn thuần giữa các cơ sở đào tạo sang hình thức liên kết có sự tham gia của doanh nghiệp, gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng lao động thực tế.
- Thứ hai, thị trường lao động tại cả Trung Quốc và Việt Nam đều đang đối mặt với nghịch lý "thừa thầy thiếu thợ", biểu hiện qua sự mất cân đối nghiêm trọng giữa giáo dục đại học hàn lâm và giáo dục nghề nghiệp kỹ thuật. Nhu cầu nhân lực kỹ thuật trực tiếp cho các ngành sản xuất công nghệ, đặc biệt trong bối cảnh các doanh nghiệp Trung Quốc (tiêu biểu như BYD, Huawei) mở rộng dòng vốn đầu tư trực tiếp (FDI) vào Việt Nam, đòi hỏi lực lượng lao động có tay nghề và thích ứng được với quy trình công nghệ của doanh nghiệp. Cả hai nước đều ban hành nhiều chính sách trọng tâm: Trung Quốc ban hành "Kế hoạch thực hiện cải cách GDNN quốc gia" năm 2019 (gọi tắt là 20 điều GDNN); Việt Nam ban hành Chỉ thị số 21-CT/TW của Ban Bí thư về đổi mới, phát triển GDNN đến năm 2030, tầm nhìn 2045 với mục tiêu thu hút 50-55% học sinh trung học vào hệ thống GDNN.
- Thứ ba, giai đoạn 2013-2023 đánh dấu những bước chuyển chính sách lớn: Trung Quốc khởi xướng Sáng kiến "Vành đai và Con đường" (BRI) năm 2013 với các định hướng hợp tác giáo dục; Việt Nam ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Đây cũng là mốc thời gian chứng kiến sự hình thành ba mô hình hợp tác cụ thể (Trường - Trường, Trường - Doanh nghiệp, Trường - Trường - Doanh nghiệp) và sự phục hồi sau gián đoạn của đại dịch COVID-19 (2019-2022).
- Thứ tư, khoảng trống nghiên cứu học thuật: Các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở nghiên cứu chính sách đơn lẻ của từng quốc gia, hợp tác giáo dục đại học nói chung hoặc các dự án riêng lẻ. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về hợp tác GDNN song phương Trung Quốc - Việt Nam giai đoạn 2013-2023 dưới lăng kính liên ngành Đông Nam Á học, gắn kết cấu trúc chủ thể với quan hệ khu vực và thị trường lao động.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của hợp tác GDNN giữa Trung Quốc và Việt Nam, đánh giá thực trạng hoạt động hợp tác trong giai đoạn 2013-2023, từ đó dự báo triển vọng và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quan hệ hợp tác này trong giai đoạn tiếp theo.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 4 nội dung đánh số:
- Tổng quan các tài liệu liên quan đến hợp tác GDNN giữa Trung Quốc và Việt Nam.
- Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của hợp tác GDNN giữa Trung Quốc và Việt Nam trong giai đoạn 2013-2023.
- Đánh giá thực trạng hợp tác GDNN giữa Trung Quốc và Việt Nam trong giai đoạn 2013-2023.
- Dự báo triển vọng và đề xuất các giải pháp thúc đẩy hợp tác GDNN giữa Trung Quốc và Việt Nam.
Giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu
Giả thuyết nghiên cứu xác định: Hợp tác GDNN giữa Trung Quốc và Việt Nam giai đoạn 2013-2023 được thúc đẩy bởi sự kết hợp giữa nhu cầu phát triển nguồn nhân lực, định hướng chính sách của hai nước, quan hệ chính trị - kinh tế song phương và quá trình gia tăng kết nối giữa Trung Quốc với khu vực Đông Nam Á. Hiệu quả hợp tác phụ thuộc vào mức độ tham gia và phối hợp giữa các chủ thể (cơ sở GDNN, doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước). Các mô hình hợp tác có cấu trúc chủ thể khác nhau sẽ tạo ra đặc điểm khác biệt về mục tiêu, phương thức tổ chức và mức độ gắn kết đào tạo với thị trường lao động.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu gồm 4 câu hỏi:
- Hợp tác GDNN giữa Trung Quốc và Việt Nam được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn nào?
- Hợp tác GDNN giữa hai nước được triển khai thông qua những hình thức và mô hình chủ yếu nào; đặc điểm, cơ chế vận hành và mức độ gắn kết giữa đào tạo với nhu cầu sử dụng nhân lực của các mô hình này ra sao?
- Thực tiễn và những vấn đề đặt ra trong hợp tác GDNN giữa Trung Quốc với một số tỉnh thuộc miền Bắc và miền Trung Việt Nam là gì?
- Những yếu tố nào tác động đến triển vọng hợp tác và cần có những định hướng, giải pháp nào để nâng cao hiệu quả hợp tác GDNN giữa Trung Quốc và Việt Nam trong thời gian tới?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động hợp tác giáo dục nghề nghiệp giữa Trung Quốc và Việt Nam từ năm 2013 đến năm 2023.
- Phạm vi nội dung: Các cấu trúc hợp tác GDNN gồm: Trường - Trường, Trường - Doanh nghiệp, và Trường - Trường - Doanh nghiệp.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2013-2023 (khung thời gian 10 năm khởi đầu từ Sáng kiến BRI và Nghị quyết 29-NQ/TW cho đến các văn kiện hợp tác mới năm 2023).
- Phạm vi không gian: Không gian địa lý giữa Trung Quốc và Việt Nam, tập trung vào mối liên kết giữa các trường cao đẳng nghề Trung Quốc, các doanh nghiệp Trung Quốc tại Việt Nam với các cơ sở và địa phương tại Việt Nam gồm: Hà Nội, Thái Nguyên, Bắc Ninh và Nghệ An.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa các tài liệu khoa học theo 3 nhóm nội dung chính:
Nhóm 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hợp tác giáo dục nghề nghiệp
- Tài liệu tiếng Anh: Simon McGrath (2012) phân tích sự phát triển của lý thuyết GDNN qua ba cách tiếp cận (nhân quyền, năng lực, phát triển con người tổng hợp); Doty, Charles R. và Weissman, Rae Doty C. tổng kết triết lý và chức năng của GDNN trong việc hình thành kỹ năng chuyên biệt và kỹ năng tổng quát; Junmin Li và Matthias Pilz tổng quan về sự chuyển giao chính sách GDNN quốc tế dưới góc độ kinh tế chính trị so sánh; Jannette Ryan (chủ biên, 2009) với công trình về quốc tế hóa giáo dục đại học Trung Quốc.
- Tài liệu tiếng Trung Quốc: Báo cáo của Viện Nghiên cứu Giáo dục Quốc tế - Đại học Ngoại ngữ Bắc Kinh hệ thống hóa 70 năm mở cửa giáo dục đối ngoại của Trung Quốc và chiến lược thúc đẩy giáo dục trong BRI (2016); Li Cuixia và Pei Shiying nghiên cứu hợp tác GDNN Trung - Việt dưới tác động của Hiệp định RCEP; bài viết tổng kết 70 năm đổi mới phát triển GDNN của Bộ Giáo dục Trung Quốc (2019) khẳng định quy mô hệ thống GDNN.
- Tài liệu tiếng Việt: Vũ Minh Tuấn (2005) nghiên cứu tổng quan quan hệ giáo dục Việt - Trung; Vụ Hợp tác Quốc tế (Bộ Giáo dục và Đào tạo) với cẩm nang quan hệ quốc tế trong giáo dục; Nguyễn Đăng Tiến nghiên cứu lịch sử giáo dục Việt Nam trước 1945 và ảnh hưởng của giáo dục Trung Quốc; Kỷ yếu hội thảo của Viện Nghiên cứu Trung Quốc (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam); luận án tiến sĩ của Vũ Minh Hải (2018) phân tích quan hệ giáo dục Việt - Trung từ năm 1950 dưới các lý thuyết quan hệ quốc tế (Chủ nghĩa Mác - Lênin, Hiện thực, Tự do, Kiến tạo).
Nhóm 2: Thực trạng hợp tác giáo dục nghề nghiệp giữa Trung Quốc và Việt Nam
- Tài liệu tiếng Anh: Ning Yan và Mingyu Xu (2019) xem xét hợp tác giáo dục trong khuôn khổ đối tác chiến lược ASEAN - Trung Quốc; Sanna Nummela và Pauliina Holm đánh giá thực trạng hệ thống TVET Việt Nam và khoảng trống kỹ năng nghề của thanh niên; Anthony Welch và Cai Hongxing nghiên cứu lịch sử quốc tế hóa giáo dục Trung Quốc.
- Tài liệu tiếng Trung Quốc: Liu Jin và Zhang Liwei (2019) so sánh giáo dục đại học dọc tuyến BRI; Wang Tingguan đánh giá thực trạng GDNN Việt Nam và nhu cầu của các doanh nghiệp Trung Quốc như BYD, Huawei; Zhou Lihong và Wang Zhongyu khảo sát GDNN Việt Nam nhìn từ chuỗi ngành sản xuất của BRI; Yu Zuguang nghiên cứu việc đưa văn hóa công nghiệp và xây dựng đội ngũ "giảng viên song năng" vào mô hình hợp tác trường - doanh nghiệp; Chen Li nghiên cứu phát triển giáo dục Việt Nam; Ma Jinfang (2018) khảo sát thực trạng và thách thức trong hợp tác giáo dục đại học Trung - Việt.
- Tài liệu tiếng Việt: Các nghiên cứu của Vũ Minh Tuấn, Vũ Minh Hải và kỷ yếu hội thảo song phương tập trung vào số liệu trao đổi lưu học sinh và các thỏa thuận cấp bộ ngành, song chưa đi sâu vào bậc học nghề nghiệp.
Nhóm 3: Triển vọng và giải pháp thúc đẩy hợp tác
- Tài liệu tiếng Anh: Weiping Shi phân tích thách thức giữa quy mô và chất lượng GDNN Trung Quốc; Siyu Liu và Ian Hardy (2019) phân tích chính sách cải cách GDNN năm 2019 của Quốc vụ viện Trung Quốc; GR Durden và G. Yang khảo sát hạn chế của GDNN trình độ cao đẳng tại tỉnh Liêu Ninh; Rui Gan đánh giá áp lực thi cử và tiềm năng phân bổ nguồn lực GDNN; Jiaben Zhu (2017) đề xuất quốc tế hóa GDNN theo BRI; Vi Hoàng Đăng phân tích mối quan hệ đối tác giữa cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp tại Việt Nam.
- Tài liệu tiếng Trung Quốc: Sun Xiaodong phân tích rào cản ngôn ngữ, văn hóa và giải pháp cơ chế quản lý dự án lâu dài; Qin Yanjuan và Han Shuzheng chỉ ra hiện tượng đồng chất hóa và thiếu hụt lòng tin; Fu Zeyun (2023) khai thác cơ hội hợp tác GDNN giữa tỉnh Vân Nam và Việt Nam từ Tuyên bố chung tháng 12/2023; Nong Lifu (2010) đánh giá sơ lược triển vọng hợp tác giáo dục song phương.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Hầu hết các nghiên cứu đã công bố tại Việt Nam và Trung Quốc chỉ tập trung vào giáo dục đại học hoặc tổng kết lịch sử ngoại giao giáo dục nói chung, nguồn dữ liệu phần lớn dừng lại trước năm 2018 và thiếu vắng sự kết nối thực địa tại doanh nghiệp. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách: nghiên cứu chuyên biệt bậc giáo dục nghề nghiệp; cập nhật khung thời gian 2013-2023; áp dụng cách tiếp cận liên ngành Đông Nam Á học để phân tích sự tương tác giữa 3 chủ thể (nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp) và 3 mô hình liên kết tại các địa bàn công nghiệp trọng điểm ở miền Bắc và miền Trung Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khái niệm và thuật ngữ công cụ
- Giáo dục nghề nghiệp (GDNN): Theo Luật Giáo dục Việt Nam (sửa đổi năm 2025), GDNN là một bậc học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đào tạo các trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác, cung cấp nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Theo Điều 2 và Điều 4 Luật GDNN nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (sửa đổi năm 2022), GDNN là phương tiện đào tạo nhân tài kỹ thuật chất lượng cao, kết hợp chặt chẽ giữa sản xuất và giáo dục, hợp tác giữa trường học và doanh nghiệp.
- Giảng viên song năng: Thuật ngữ chỉ đội ngũ nhà giáo vừa có năng lực sư phạm giảng dạy lý thuyết, vừa có kỹ năng nghề nghiệp thực tế để hướng dẫn thực hành tại xưởng và doanh nghiệp.
Khung lý thuyết và cách tiếp cận
Luận án tích hợp các lý thuyết quan hệ quốc tế và chuyên ngành khu vực:
- Chủ nghĩa tự do (Liberalism): Sử dụng để luận giải lợi ích tương hỗ, tính phụ thuộc lẫn nhau giữa hai quốc gia trong phát triển kinh tế, vai trò của các thể chế và sự tham gia của các chủ thể phi nhà nước (doanh nghiệp, trường cao đẳng nghề).
- Chủ nghĩa kiến tạo (Constructivism): Vận dụng để phân tích ảnh hưởng của nhận thức, các giá trị văn hóa tương đồng, bối cảnh lịch sử và bản sắc xã hội tác động đến quá trình thiết lập các thỏa thuận hợp tác giáo dục.
- Khu vực học và Đông Nam Á học: Cung cấp nền tảng xem xét quan hệ GDNN Trung Quốc - Việt Nam trong tổng thể cấu trúc địa - kinh tế và địa - chính trị của khu vực Đông Nam Á, gắn với chuỗi cung ứng khu vực và các khuôn khổ ASEAN - Trung Quốc, RCEP.
Cách tiếp cận gồm: Tiếp cận khu vực học, tiếp cận hệ thống (nhìn nhận hợp tác là một hệ thống đa chủ thể tương tác) và tiếp cận liên ngành (kết hợp giáo dục học, chính trị học, chính sách công, kinh tế học và lịch sử).
Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp phân tích tài liệu: Khảo cứu các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Cộng sản Trung Quốc, các luật GDNN, báo cáo quản lý nhà nước, biên bản thỏa thuận hợp tác song phương từ năm 2013 đến năm 2023.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn đại diện các doanh nghiệp Trung Quốc và doanh nghiệp liên kết tại khu vực miền Bắc và miền Trung Việt Nam nhằm xác định nhu cầu tuyển dụng, rào cản kỹ thuật và đánh giá hiệu quả lao động qua đào tạo.
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp (Case study): Đi sâu khảo sát các đơn vị điển hình áp dụng ba mô hình hợp tác: Trường - Trường; Trường - Doanh nghiệp; Trường - Trường - Doanh nghiệp (như các dự án hợp tác của các trường nghề tỉnh Vân Nam, Quảng Tây và các trường tại Việt Nam).
- Phương pháp nghiên cứu so sánh: So sánh cơ chế vận hành, hiệu quả giữa các mô hình hợp tác tại Việt Nam với kinh nghiệm triển khai xưởng Luban hoặc dự án SGAVE (Sino-German Advanced Vocational Education) của Trung Quốc tại các quốc gia khác.
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Thu thập ý kiến của cán bộ quản lý và giảng viên trực tiếp tại các cơ sở GDNN của cả hai nước nhằm kiểm chứng nhận định về tính khả thi của các chính sách và giải pháp đề xuất.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương này phân tích toàn diện lịch sử nghiên cứu về hợp tác giáo dục giữa hai nước, phân định 3 nhóm tài liệu (lý thuyết, thực trạng, giải pháp) xuất bản bằng tiếng Anh, tiếng Trung Quốc và tiếng Việt. Chương 1 chỉ rõ các công trình quốc tế như Simon McGrath, Junmin Li, Sanna Nummela đã phác thảo khung lý luận và hiện trạng TVET, trong khi các học giả Trung Quốc (Liu Jin, Wang Tingguan, Zhou Lihong) phân tích GDNN gắn với chiến lược "đi ra nước ngoài" của doanh nghiệp. Tác giả khẳng định khoảng trống tri thức về một công trình chuyên khảo đánh giá thực trạng giai đoạn 2013-2023 tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung Việt Nam, làm cơ sở khoa học để triển khai các chương tiếp theo.
Chương 2: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về hợp tác giáo dục nghề nghiệp giữa Trung Quốc và Việt Nam
Nội dung chương tập trung xác lập hệ thống khái niệm chuẩn mực về GDNN, mục tiêu đào tạo nghề nghiệp của hai quốc gia theo các bộ luật mới nhất (Luật Giáo dục sửa đổi năm 2025 của Việt Nam và Luật GDNN năm 2022 của Trung Quốc). Về cơ sở thực tiễn, chương làm rõ bối cảnh kinh tế - chính trị quốc tế và khu vực (RCEP, BRI, ASEAN), tổng hợp các cột mốc tiếp xúc cấp cao giữa hai Đảng, hai Nhà nước từ năm 2008 đến 2023. Đồng thời, chương 2 chỉ ra các yếu tố tác động đến quan hệ GDNN song phương bao gồm: thể chế chính trị tương đồng, khoảng cách địa lý tiếp giáp, sự chuyển dịch dòng vốn FDI sản xuất, và áp lực giải quyết bài toán cơ cấu nhân lực kỹ thuật trong nước.
Chương 3: Thực trạng hợp tác giáo dục nghề nghiệp giữa Trung Quốc và Việt Nam giai đoạn 2013–2023
Chương 3 trình bày các cứ liệu thực chứng về quy mô, cơ cấu lưu học sinh và phương thức triển khai hợp tác. Dữ liệu số liệu trong luận án tập trung làm rõ quy mô sinh viên Việt Nam tại Trung Quốc, tỷ lệ du học sinh theo học hệ cao đẳng nghề, số lượng người học nhận học bổng chính phủ và các khóa đào tạo ngắn hạn không cấp bằng.
| Danh mục bảng số liệu trong luận án |
Nội dung chỉ số và giai đoạn theo dõi trong văn bản |
| Bảng 2.1 |
Các quốc gia có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Việt Nam tính đến năm 2024 |
| Bảng 2.2 |
Những cuộc gặp cấp cao của lãnh đạo hai đảng, hai nhà nước và chính phủ giai đoạn 2008–2023 |
| Bảng 2.3 |
Những chính sách và thành tựu về việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực GDNN giai đoạn 2013–2023 |
| Bảng 3.1 & Biểu đồ 3.1 |
Số lượng, thứ hạng và tỷ lệ sinh viên Việt Nam học tại Trung Quốc giai đoạn 2013–2020 |
| Bảng 3.2 & Biểu đồ 3.3 |
Số lượng và tỷ lệ du học sinh Việt Nam học cao đẳng so với tổng số du học sinh giai đoạn 2013–2018 |
| Bảng 3.3 & Biểu đồ 3.4, 3.5, 3.6 |
Du học sinh Việt Nam được cấp bằng tốt nghiệp tại Trung Quốc giai đoạn 2013–2018 và thứ hạng châu Á |
| Bảng 3.4 & Biểu đồ 3.7, 3.8 |
Du học sinh ngắn hạn và du học sinh không cấp bằng của Việt Nam đến Trung Quốc giai đoạn 2013–2018 |
| Bảng 3.5 & Biểu đồ 3.9 |
Số suất học bổng Chính phủ Trung Quốc cấp cho sinh viên Việt Nam giai đoạn 2013–2018 |
Về mặt mô hình tổ chức, Chương 3 phân tích sâu 3 cấu trúc liên kết:
- Mô hình Trường - Trường: Hợp tác trao đổi giảng viên, chuyển giao giáo trình, công nhận tín chỉ và tổ chức đào tạo liên kết theo hình thức học chuyển tiếp (1+2 hoặc 2+1).
- Mô hình Trường - Doanh nghiệp: Doanh nghiệp FDI Trung Quốc trực tiếp đặt hàng đào tạo, tài trợ thiết bị thực hành kỹ thuật số (PLC, LMS) và tiếp nhận sinh viên thực tập có hưởng lương.
- Mô hình Trường - Trường - Doanh nghiệp: Mô hình đa giác kết hợp nguồn lực học thuật của hai trường đại học/cao đẳng nghề hai nước với yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp (tiêu biểu như mô hình Học viện Thợ lành nghề hiện đại Trung Quốc - ASEAN). Khảo sát thực địa tập trung tại Hà Nội, Thái Nguyên, Bắc Ninh và Nghệ An cho thấy mô hình này giúp người học tiếp cận trực tiếp dây chuyền công nghệ thực tế.
Chương 4: Đánh giá thực trạng, triển vọng và giải pháp thúc đẩy hợp tác giáo dục nghề nghiệp giữa Trung Quốc và Việt Nam
Chương 4 tổng hợp các kết quả thực tế đạt được: gia tăng số lượng nhân lực kỹ thuật biết tiếng Trung và có kỹ năng nghề, nâng cao năng lực cho giảng viên các trường cao đẳng qua các khóa tập huấn chuyên sâu. Tuy nhiên, luận án chỉ ra các hạn chế cố hữu:
- Rào cản ngôn ngữ chuyên ngành kỹ thuật và sự khác biệt văn hóa công nghiệp.
- Thiếu cơ chế công nhận chứng chỉ kỹ năng nghề và chuẩn trình độ tương đương giữa hai nước.
- Quy mô hợp tác còn mang tính cục bộ, phân tán, thiếu vắng các dự án chiến lược quy mô quốc gia.
- Cơ sở vật chất thực hành tại các cơ sở GDNN Việt Nam còn chênh lệch so với tiêu chuẩn công nghệ của doanh nghiệp.
Về triển vọng, sự phát triển của Hiệp định RCEP, các cam kết trong Tuyên bố chung năm 2023 và làn sóng chuyển dịch công nghiệp công nghệ cao mở ra dư địa hợp tác lớn. Từ đó, chương 4 đề xuất 6 nhóm giải pháp thực hiện:
- Tăng cường và đổi mới phương thức hợp tác đào tạo nghề nghiệp.
- Nâng cao năng lực quốc tế hóa cho đội ngũ giáo viên và sinh viên (chú trọng đào tạo "giảng viên song năng").
- Điều phối, cân đối nguồn lực và thu hẹp chênh lệch trình độ GDNN giữa hai bên.
- Thiết lập cơ chế phối hợp quản lý dự án lâu dài và định kỳ cấp chính phủ.
- Mở rộng hợp tác gắn với các dự án kết nối hạ tầng BRI và thông qua các kênh đa phương của tổ chức SEAMEO, ASEAN.
- Nhóm giải pháp dành riêng cho các cơ quan quản lý và cơ sở đào tạo của Việt Nam.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa khung lý luận về hợp tác giáo dục nghề nghiệp quốc tế dưới góc độ nghiên cứu khu vực học và liên ngành Đông Nam Á học, kết hợp hài hòa hai lý thuyết quan hệ quốc tế là Chủ nghĩa tự do và Chủ nghĩa kiến tạo.
- Phân định và mô hình hóa 3 cấu trúc hợp tác GDNN chủ yếu: Trường - Trường, Trường - Doanh nghiệp, và Trường - Trường - Doanh nghiệp; luận giải rõ sự khác biệt giữa các mô hình về mục tiêu đào tạo, cơ chế vận hành tài chính và mức độ gắn kết với thị trường lao động.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh toàn diện, cập nhật về thực trạng hợp tác GDNN Trung Quốc - Việt Nam giai đoạn 2013-2023 dựa trên hệ thống văn kiện chính sách, bảng số liệu thống kê du học sinh (giai đoạn 2013-2018 và 2013-2020) và dữ liệu điều tra thực địa tại 4 địa phương trọng điểm (Hà Nội, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Nghệ An).
- Phân tích nguyên nhân của các hạn chế kỹ thuật (như rào cản ngôn ngữ, chênh lệch khung trình độ, tính bền vững của các dự án liên kết) từ tiếng nói trực tiếp của doanh nghiệp và nhà trường.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đối với cấp chính phủ: Xây dựng cơ chế đối thoại định kỳ về GDNN theo tinh thần Tuyên bố chung tháng 12/2023; tiến tới đàm phán khung tiêu chuẩn kỹ năng nghề tương đương giữa hai nước nhằm tạo thuận lợi cho di chuyển lao động kỹ thuật.
- Đối với các cơ sở GDNN: Chú trọng đào tạo đội ngũ "giảng viên song năng"; chủ động xây dựng nền tảng quản trị số (DMP) và tài nguyên giáo dục mở (OER); kết hợp dạy chuyên môn nghề với tiếng Trung chuyên ngành kỹ thuật.
- Đối với doanh nghiệp: Tăng cường đặt hàng đào tạo theo địa chỉ, đầu tư trung tâm thực hành tại chỗ, và tham gia sâu vào quy trình xây dựng chuẩn đầu ra của nhà trường.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do tính chất phân tán của hệ thống dữ liệu quản lý GDNN và tác động gián đoạn của đại dịch COVID-19 trong giai đoạn 2019-2022, một số chuỗi số liệu thống kê chi tiết về du học sinh hệ cao đẳng nghề và học bổng chỉ phản ánh liên tục đến năm 2018-2020. Phạm vi khảo sát thực địa trực tiếp mới chỉ khoanh vùng tại một số tỉnh miền Bắc và miền Trung (Hà Nội, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Nghệ An), chưa bao quát toàn bộ các trung tâm công nghiệp phía Nam.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát định lượng trên diện rộng đối với người lao động tốt nghiệp từ các chương trình liên kết Trung - Việt đang làm việc trong các khu công nghiệp; nghiên cứu cơ chế công nhận tín chỉ nghề nghiệp trong khuôn khổ cộng đồng kinh tế ASEAN và Hiệp định RCEP; theo dõi các mô hình thể chế mới như Học viện Thợ lành nghề hiện đại sau mốc thời gian 2023.
Giá trị tham khảo
- Đối với các nhà hoạch định chính sách: Luận án là tài liệu tham khảo cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp), Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc xây dựng các hiệp định hợp tác lao động, chính sách hội nhập kỹ năng nghề và quy chuẩn liên kết đào tạo với đối tác Trung Quốc.
- Đối với các cơ sở GDNN và trường cao đẳng: Cung cấp kinh nghiệm thực tế về cách thức triển khai mô hình đào tạo "Trường - Trường - Doanh nghiệp", phương pháp giải quyết tình trạng thiếu hụt cơ sở thực hành thông qua hợp tác với doanh nghiệp FDI.
- Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh: Đóng vai trò tài liệu tham khảo chuyên khảo trong các ngành Đông Nam Á học, Khu vực học, Quan hệ quốc tế và Giáo dục so sánh, đặc biệt ở phương pháp tiếp cận liên ngành kết hợp giữa nghiên cứu quan hệ quốc tế với nghiên cứu thị trường lao động.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định mốc thời gian nghiên cứu từ 2013 đến 2023 dựa trên cơ sở nào?
Mốc 2013 bắt đầu khi Trung Quốc công bố Sáng kiến "Vành đai và Con đường" (BRI) và Việt Nam ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Mốc 2023 khép lại chặng đường 10 năm theo dõi các chuyển biến chính sách, ghi nhận Tuyên bố chung song phương đưa GDNN vào chương trình hợp tác cấp nhà nước, đồng thời đánh giá được quá trình phục hồi của hoạt động giao lưu sau dịch COVID-19.
2. Ba mô hình hợp tác GDNN chủ yếu được luận án phân tích là gì?
Luận án định danh và phân tích ba mô hình theo cấu trúc chủ thể:
- Mô hình Trường - Trường (liên kết đào tạo, trao đổi sinh viên và giáo trình).
- Mô hình Trường - Doanh nghiệp (doanh nghiệp đặt hàng đào tạo, tài trợ thiết bị, tiếp nhận thực tập).
- Mô hình Trường - Trường - Doanh nghiệp (kết hợp cơ sở giáo dục hai nước với doanh nghiệp sử dụng lao động).
3. Thuật ngữ "giảng viên song năng" trong luận án được hiểu như thế nào?
Theo định nghĩa được luận án trích dẫn từ các tài liệu chuyên ngành GDNN của Trung Quốc, "giảng viên song năng" là người làm công tác giảng dạy vừa có năng lực sư phạm để giảng dạy lý thuyết, vừa có kỹ năng nghề nghiệp thực tiễn vững vàng để trực tiếp hướng dẫn thực hành chuyên môn cho sinh viên tại xưởng sản xuất.
4. Những hạn chế lớn nhất trong hợp tác GDNN giữa hai nước được luận án chỉ ra là gì?
Các hạn chế cốt lõi gồm: rào cản ngôn ngữ chuyên ngành; sự thiếu hụt cơ chế công nhận trình độ và kỹ năng nghề tương đương; tính chất hợp tác phần lớn còn nhỏ lẻ, phân tán ở cấp trường; và sự chênh lệch về năng lực công nghệ, trang thiết bị đào tạo giữa hai quốc gia.
5. Khảo sát thực địa của luận án được tiến hành tập trung tại các địa bàn nào của Việt Nam?
Nghiên cứu sinh thực hiện khảo sát, phỏng vấn sâu đại diện các doanh nghiệp và chuyên gia tại 4 địa phương thuộc miền Bắc và miền Trung: Hà Nội, Thái Nguyên, Bắc Ninh và Nghệ An.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Lưu Dương Minh là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về hợp tác giáo dục nghề nghiệp giữa Trung Quốc và Việt Nam trong giai đoạn 2013-2023 dưới lăng kính Đông Nam Á học. Bằng việc kết hợp các khung lý thuyết quan hệ quốc tế với dữ liệu thống kê và khảo sát thực địa, luận án đã làm rõ cơ sở lý luận, cơ cấu chủ thể và thực trạng vận hành của 3 mô hình liên kết đào tạo nghề nghiệp song phương. Các kết quả đánh giá thành tựu, hạn chế và hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật và tăng cường liên kết kinh tế giữa hai quốc gia trong giai đoạn mới.