Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa Việt Nam và Lào hướng đến mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN 2015" được tác giả Trần Thị Hiếu Trung thực hiện vào tháng 6 năm 2012 tại Khoa Xã hội học - Công tác xã hội - Đông Nam Á học, Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Phan Thị Hồng Xuân.
Bối cảnh thực tiễn của đề tài gắn liền với tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam qua các kỳ Đại hội Đảng từ Đại hội VII đến Đại hội XI, khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa và làm bạn, đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Trong chính sách đối ngoại đó, mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào được xác định là tài sản vô giá và tấm gương mẫu mực về sự gắn kết thủy chung giữa hai dân tộc. Đề tài được triển khai vào thời điểm có ý nghĩa chính trị đặc biệt khi hai nước cùng tổ chức "Năm đoàn kết hữu nghị hợp tác Việt Nam - Lào 2012", kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1962-2012) và 35 năm ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác (1977-2012). Đồng thời, đây cũng là giai đoạn Việt Nam tích cực hỗ trợ Lào tổ chức Hội nghị Cấp cao Á - Âu (ASEM) lần thứ 9 và hai quốc gia cùng phối hợp chặt chẽ hướng tới hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận gồm 2 nội dung chính:
- Tìm hiểu và phân tích mối quan hệ hợp tác giữa hai nước, từ đó khẳng định tính tất yếu và những lợi ích của việc đẩy mạnh mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Lào.
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu để nâng cao hơn nữa mối quan hệ giữa Việt Nam và Lào trong tương lai hướng đến mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN 2015.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định qua 3 khâu cụ thể:
- Làm rõ sự cần thiết tất yếu của mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Lào liên diễn qua các giai đoạn lịch sử.
- Xác định rõ vai trò, vị trí của Việt Nam và Lào trong tiến trình hội nhập.
- Xem xét thực trạng hợp tác và kiến nghị các phương hướng, giải pháp mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác trên các lĩnh vực Kinh tế, Văn hóa - Xã hội - Giáo dục, An ninh - Quốc phòng giữa Việt Nam và Lào.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm các mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai nước trên ba trụ cột chính (kinh tế, văn hóa - xã hội - giáo dục, an ninh - quốc phòng) từ năm 1962 đến năm 2012; cùng với vai trò, vị trí của Việt Nam và Lào trong tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN 2015. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian tập trung vào quan hệ song phương Việt Nam - Lào trong không gian khu vực Đông Nam Á, và phạm vi thời gian kéo dài từ khi hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao (05/09/1962) cho đến nửa đầu năm 2012.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào về mối quan hệ đặc biệt, đoàn kết quốc tế và liên minh chiến lược. Cơ sở pháp lý và định hướng nghiên cứu dựa trên hệ thống các văn bản thỏa thuận, hiệp ước song phương ký kết giữa hai chính phủ, tiêu biểu như: Tuyên bố chung Việt Nam - Lào (1976, 1977), Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam - Lào (1977), Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia (1977), Thỏa thuận Chiến lược hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật giai đoạn 2001-2010 và giai đoạn 2011-2020, cùng Hiệp định hợp tác giai đoạn 2011-2015. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng khung khổ liên kết khu vực của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Sáng kiến hội nhập ASEAN (IAI), Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng (GMS) và Hành lang Kinh tế Đông - Tây (EWEC).
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp đồng bộ các phương pháp khoa học xã hội:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết từ các nguồn văn bản, tài liệu lưu trữ.
- Phương pháp logic và phương pháp lịch sử nhằm phục dựng, đánh giá tiến trình phát triển của mối quan hệ qua từng thời kỳ lịch sử.
- Phương pháp phỏng vấn sâu nhân chứng và chuyên gia thực tế, bao gồm: Ngài Viensai Phommachane (Phó Tổng Lãnh sự CHDCND Lào tại TP.HCM); ông Trần Văn Hào (Thư ký phụ trách Hội Hữu nghị Việt Nam - Lào tại TP.HCM, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị TP.HCM); bà Lê Minh Hoàn (Quản lý Ký túc xá sinh viên Lào tại TP.HCM).
Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm các công trình nghiên cứu đã xuất bản của các học giả Việt Nam và Lào (như Hoài Nguyên, PGS. Phạm Đức Thành, Nguyễn Văn Vinh, Xayasane Bousavang, Thatsanaphone Koulavongsa); số liệu thống kê chính thức từ Tổng Lãnh sự quán Lào tại TP.HCM, Sở Ngoại vụ TP.HCM, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch TP.HCM, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị TP.HCM, Bảo tàng Hồ Chí Minh và các báo cáo chuyên ngành của hai nước.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Đất nước - con người Lào và tiền đề của mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Lào
Chương 1 khái quát các yếu tố địa lý, lịch sử, văn hóa xã hội của Lào và làm rõ những nền tảng tạo nên mối quan hệ đặc biệt giữa hai quốc gia:
-
Đất nước và con người Lào:
- Địa lý tự nhiên: Lào có diện tích khoảng 236.800 km², là quốc gia duy nhất tại Đông Nam Á không giáp biển, nằm ở trung tâm bán đảo Đông Dương. Biên giới tiếp giáp với 5 quốc gia: Việt Nam (2.069 km), Thái Lan (1.835 km), Campuchia (535 km), Trung Quốc (505 km) và Myanmar (236 km). Địa hình gồm 70% đồi núi và cao nguyên. Tiềm năng thủy điện lưu vực sông Mê Kông rất lớn (ước tính 42 triệu kW vào năm 2010, trong đó Lào chiếm 70%). Đập Nậm Ngừm xây dựng năm 1971 là công trình cung cấp điện nội địa và xuất khẩu sang Thái Lan.
- Lịch sử hình thành và phát triển: Vương quốc Lạn Xạng (Miền đất Triệu Voi) được thành lập năm 1316 bởi vua Pha Ngừm. Đô thành được vua Sethathirat dời từ Luang Prabang về Vientiane năm 1563. Thời kỳ hoàng kim phát triển dưới triều vua Souligna Vongsa (trị vì 57 năm). Giai đoạn cận - hiện đại chứng kiến sự thống trị của thực dân Pháp từ năm 1893, sự ra đời của Đảng Cộng sản Đông Dương (1930), Xứ ủy Ái Lào (1934), Chính phủ lâm thời ngày 12/10/1945 do Hoàng thân Souphanouvong làm Bộ trưởng Ngoại giao. Đến ngày 01/12/1975, Đại hội Quốc dân tuyên bố xóa bỏ chế độ phong kiến, thành lập nước CHDCND Lào (bầu Hoàng thân Souphanouvong làm Chủ tịch nước, ông Kaysone Phomvihane làm Thủ tướng). Ngày 23/07/1997, Lào chính thức gia nhập ASEAN.
- Dân cư và văn hóa: Dân số năm 2010 đạt 6,320 triệu người (nữ chiếm 50,2%), gồm 68 bộ tộc thuộc 3 nhóm chính: Lào Lùm (65%), Lào Thơng (22%), Lào Xủng (13%). Đời sống văn hóa gắn bó mật thiết với Phật giáo Tiểu thừa, điệu múa Lăm Vông, cấu trúc cư trú bản làng quanh ngôi chùa (gồm nhà Phật đường, nhà thuyết kinh, nhà nghỉ sư sãi), nhà sàn truyền thống, ẩm thực dùng cơm nếp và gia vị đặc trưng (mắm cá padek, nước mắm nampa).
-
Tiền đề của mối quan hệ hợp tác Việt Nam - Lào:
- Vị trí địa lý: Cùng thuộc Đông Nam Á lục địa, tựa lưng vào dãy Trường Sơn ("Trường Sơn Đông" và "Trường Sơn Tây"), chung đường biên giới trên 2.000 km và cùng khai thác dòng sông Mê Kông thông qua Ủy hội Mê Kông.
- Điều kiện tự nhiên - văn hóa - xã hội: Có tính bổ sung chiến lược; Việt Nam có hơn 3.200 km bờ biển giúp Lào mở lối thông thương ra biển thông qua các tuyến hành lang kinh tế và cảng biển. Hai nước chia sẻ nhiều nét tương đồng về văn hóa nông nghiệp lúa nước và các tộc người sinh sống xuyên biên giới (Lào, Lự, Thái, Khơ Mú, Xinh Mun).
- Tương đồng chính trị: Cả hai quốc gia đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, cùng thực hiện công cuộc Đổi mới, thi hành chính sách đối ngoại mở cửa và đặt mục tiêu thoát khỏi tình trạng kém phát triển vào năm 2020.
Chương 2: Mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Lào từ năm 1962 đến nay
Chương 2 phân tích tiến trình lịch sử hợp tác qua các giai đoạn chiến tranh giải phóng, thời kỳ khôi phục sau chiến tranh, giai đoạn Đổi mới và đi sâu vào các kết quả cụ thể trong "Năm đoàn kết hữu nghị 2012":
[1962 - 1975] Liên minh chiến đấu giải phóng dân tộc, thành lập CP31/CP38
↓
[1975 - 1986] Hợp tác toàn diện giữa hai Đảng cầm quyền, ký Hiệp ước 1977
↓
[1986 - 2012] Chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường, ký kết các chiến lược hợp tác
↓
[Năm 2012] "Năm đoàn kết hữu nghị", triển khai các dự án kinh tế, an ninh, văn hóa
-
Tiến trình hợp tác qua các thời kỳ:
- Giai đoạn 1962 - 1975: Thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức ngày 05/09/1962. Hai nước hình thành liên minh chiến đấu chung chiến trường chống đế quốc Mỹ. Việt Nam cử hàng vạn quân tình nguyện và chuyên gia chính trị, quân sự, kinh tế sang giúp Lào thông qua hệ thống Ban Cán sự, cơ quan chuyên trách CP31 (thành lập và đổi tên thành CP38 năm 1966), phối hợp giải phóng Cánh đồng Chum, Đường 9 Nam Lào, Bôlôven.
- Giai đoạn 1975 - 1986: Chuyển sang quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nhà nước độc lập có chủ quyền. Hai bên ký Tuyên bố chung ngày 11/02/1976 và đặc biệt là ngày 18/07/1977 ký kết hàng loạt văn kiện lịch sử: Tuyên bố chung, Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác, Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia, Hiệp ước viện trợ không hoàn lại và cho vay không lãi giai đoạn 1978-1980.
- Giai đoạn từ 1986 đến 2012: Chuyển từ cơ chế bao cấp sang phương thức hợp tác sản xuất - kinh doanh cùng có lợi. Ký kết hàng loạt văn kiện: Hiệp định quy chế biên giới (1990), Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (1996), Hiệp định vận tải đường bộ (1996), Quy chế sử dụng cảng Vũng Áng (2001), Chiến lược hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật giai đoạn 2011-2020 và Hiệp định hợp tác 2011-2015.
-
Thực trạng hợp tác trong "Năm đoàn kết hữu nghị 2012":
- Kinh tế - Thương mại và Đầu tư:
- Thương mại: Trong 4 tháng đầu năm 2012, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 340,56 triệu USD (tăng 14,9% so với cùng kỳ 2011). Xuất khẩu của Việt Nam sang Lào đạt 136,04 triệu USD (tăng 78,63%), nhập khẩu đạt 204,51 triệu USD (tăng 42,01%). Mặt hàng xuất khẩu dẫn đầu là xăng dầu (33.484 tấn, tương đương 36,666 triệu USD, chiếm 26,4% tổng kim ngạch xuất khẩu), tiếp theo là sắt thép (38.765 tấn, trị giá 33,487 triệu USD), phương tiện vận tải và phụ tùng. Thỏa thuận thương mại song phương 2012 phân loại hàng hóa thành 3 nhóm thuế suất (0%, giảm 50% so với ATIGA, và nhóm không ưu đãi).
- Đầu tư: Tính đến đầu năm 2012, Việt Nam có 207 dự án đầu tư tại Lào còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt trên 3,4 tỷ USD (đứng thứ 3 trong tổng số 52 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Lào; Lào là điểm đến đầu tư lớn nhất của Việt Nam trong số 55 quốc gia/vùng lãnh thổ). Ngày 22/02/2012, Ngân hàng Phongsavanh khai trương Văn phòng đại diện tại Hà Nội. Các dự án lớn được triển khai gồm: Nhà máy chế biến tinh bột sắn tại Laksao (4 triệu USD, công suất 100 tấn/ngày), dự án khai thác barit tại Vilaboury (3 triệu USD của DMC/PVN), dự án thủy điện Nam Kong 2 tại Attapeu (85 triệu USD của Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai).
- Giáo dục - Đào tạo:
- Giai đoạn 1996-2000, Việt Nam viện trợ không hoàn lại 346,57 tỷ đồng (tương đương 26,6 triệu USD), trong đó gần 46% dành cho giáo dục. Giai đoạn 2001-2005, vốn viện trợ đạt 500 tỷ đồng.
- Năm 2011, Việt Nam cấp 695 suất học bổng cho cán bộ, học sinh Lào; Lào cấp 40 suất học bổng cho Việt Nam. Tính đến tháng 11/2011, tổng số lưu học sinh Lào tại Việt Nam là hơn 5.000 người. Triển khai các dự án: Xây dựng trường phổ thông dân tộc nội trú tại Xieng Khouang, Trường THPT Hữu nghị Lào - Việt tại Vientiane, nâng cao năng lực Khoa tiếng Việt Đại học Quốc gia Lào.
- Văn hóa - Xã hội: Tổ chức Tuần văn hóa Lào tại Việt Nam (31/08/2011), chuỗi sự kiện "Những ngày Thành phố Hồ Chí Minh tại Viêng Chăn" (27/06/2012), xây dựng Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại tỉnh Khăm Muộn, thống nhất phát hành bộ tem bưu chính chung đầu tiên vào ngày 05/09/2012.
- An ninh - Quốc phòng:
- Công tác phòng chống tội phạm: Phối hợp triệt phá 444 vụ buôn bán phụ nữ, trẻ em (727 đối tượng, giải cứu 836 nạn nhân); năm 2010 xử lý 7.257 đối tượng buôn bán hàng lậu qua biên giới; phát hiện 21 đường dây vận chuyển ma túy từ khu vực Tam giác vàng tập kết tại 76 điểm giáp biên và 64 đường dây nội địa với gần 500 đối tượng nghi vấn.
- Biên giới và hạ tầng quốc phòng: Dự án tăng dày và tôn tạo mốc quốc giới đã xây dựng được 242/257 cột mốc trên thực địa (trên tổng thể toàn tuyến gồm 792 vị trí mốc/826 cột mốc). Ngày 06/11/2011, khánh thành Nhà máy in bản đồ Bộ Quốc phòng Lào tại Vientiane với tổng mức đầu tư 22 tỷ đồng từ nguồn viện trợ của Việt Nam.
Chương 3: Một số biện pháp góp phần nâng cao mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Lào hướng đến mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN 2015
Chương 3 luận giải vai trò của hai quốc gia trong ASEAN, nhận diện các vấn đề tồn tại và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả hợp tác:
-
Vai trò của Việt Nam và Lào trong ASEAN:
- Việt Nam đóng vai trò tích cực thúc đẩy thu hẹp khoảng cách phát triển thông qua Sáng kiến hội nhập ASEAN (IAI), đóng vai trò cầu nối gắn kết các nước thành viên cũ và mới.
- Lào phát huy lợi thế địa lý trung tâm lục địa Đông Nam Á, giữ vai trò đầu mối kết nối giao thông đường bộ và các hành lang kinh tế tiểu vùng.
-
Triển vọng và tồn tại:
- Triển vọng: Quan hệ chính trị tin cậy tuyệt đối; sự tương thích trong chiến lược phát triển kinh tế mở; tiềm năng hợp tác khai khoáng, năng lượng, nông nghiệp quy mô lớn.
- Tồn tại: Quy mô kim ngạch thương mại song phương chưa tương xứng với tiềm năng chính trị; cơ cấu hàng hóa xuất khẩu còn đơn điệu (ngoài xăng dầu và sắt thép, ít mặt hàng vượt mức 10 triệu USD/năm); cơ sở hạ tầng giao thông kết nối biên giới chưa đồng bộ; thủ tục hành chính và thông quan cần tiếp tục cải thiện.
-
Hệ thống biện pháp kiến nghị:
- Kinh tế:
- Khẩn trương triển khai Đề án phát triển thương mại Việt Nam - Lào giai đoạn 2008-2015 nhằm đạt mục tiêu 1 tỷ USD và 2 tỷ USD vào năm 2015.
- Thực hiện Quy hoạch phát triển mạng lưới chợ biên giới đến năm 2020 và Quy hoạch tổng thể thương mại biên giới 2012-2020, tầm nhìn 2030.
- Khai thác tối đa hiệu quả tuyến Hành lang Kinh tế Đông - Tây (EWEC) và các trục đường 8, 9, 12, 18B kết nối ra cảng biển miền Trung Việt Nam (đặc biệt là cảng Vũng Áng).
- Văn hóa - Xã hội - Giáo dục:
- Nâng cao chất lượng tuyển chọn và quản lý lưu học sinh; chuẩn hóa giáo trình giảng dạy tiếng Việt tại các cấp học ở Lào; tăng cường đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các ngành kinh tế, kỹ thuật.
- Mở rộng giao lưu văn hóa nhân dân, đặc biệt là cư dân các tỉnh giáp biên; duy trì tổ chức các sự kiện văn hóa thường niên.
- An ninh - Quốc phòng:
- Hoàn thành đúng tiến độ Dự án tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới trên toàn tuyến biên giới đất liền.
- Tăng cường cơ chế phối hợp tuần tra chung, chia sẻ thông tin nghiệp vụ nhằm đấu tranh ngăn chặn tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm ma túy khu vực Tam giác vàng và buôn lậu qua biên giới.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận tổng hợp hệ thống số liệu cụ thể phản ánh kết quả hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam và Lào:
| Lĩnh vực |
Chỉ số và dữ liệu thực tế ghi nhận trong văn bản |
| Thương mại |
- Kim ngạch 2007: 321 triệu USD; 2008: 422,9 triệu USD; 2010: 490 triệu USD. - 4 tháng đầu năm 2012: 340,56 triệu USD (Việt Nam xuất 136,04 triệu USD, nhập 204,51 triệu USD). - Xăng dầu xuất khẩu: 33.484 tấn (36,666 triệu USD); Sắt thép: 38.765 tấn (33,487 triệu USD). |
| Đầu tư |
- Hơn 3,4 tỷ USD vốn đăng ký với 207 dự án còn hiệu lực tính đến quý I/2012. - Việt Nam đứng thứ 3 tại Lào; Lào đứng thứ 1 trong danh sách đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam. |
| Giáo dục |
- Viện trợ không hoàn lại: Giai đoạn 1996-2000 đạt 346,57 tỷ đồng; giai đoạn 2001-2005 đạt 500 tỷ đồng. - Hơn 12.000 cán bộ, sinh viên Lào được đào tạo trong 10 năm; cuối năm 2011 có hơn 5.000 lưu học sinh Lào tại Việt Nam. - Năm 2011: Việt Nam cấp 695 suất học bổng, Lào cấp 40 suất học bổng. |
| An ninh - Biên giới |
- Điều tra 444 vụ buôn bán người (727 đối tượng, 836 nạn nhân). - Năm 2010 xử lý 7.257 đối tượng buôn lậu; phát hiện 21 đường dây ma túy Tam giác vàng. - Đã xây dựng 242/257 cột mốc trong dự án tăng dày hệ thống mốc quốc giới. - Viện trợ 22 tỷ đồng xây dựng Nhà máy in bản đồ Bộ Quốc phòng Lào (11/2011). |
Về đóng góp học thuật và thực tiễn:
- Khóa luận hệ thống hóa một cách toàn diện các cột mốc lịch sử, cơ sở pháp lý và các hiệp định quan trọng được ký kết giữa hai nước từ năm 1962 đến năm 2012.
- Cung cấp bức tranh thực trạng sinh động với các số liệu cập nhật về quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư, giáo dục và quốc phòng trong "Năm đoàn kết hữu nghị 2012".
- Đề xuất các giải pháp có tính khả thi nhằm tháo gỡ điểm nghẽn hạ tầng, thương mại và quản lý giáo dục, hướng tới mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN 2015.
- Đóng góp nguồn tư liệu tham khảo phục vụ công tác tuyên truyền, giáo dục thế hệ trẻ và hưởng ứng cuộc thi "Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam" năm 2012.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do thời điểm thực hiện khóa luận vào tháng 6 năm 2012, các số liệu thống kê kinh tế - xã hội chủ yếu được cập nhật đến hết năm 2011 và 4 tháng đầu năm 2012. Khóa luận chưa thể bao quát toàn bộ kết quả thực tế của giai đoạn sau năm 2012 khi Cộng đồng ASEAN chính thức đi vào hoạt động (cuối năm 2015).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tác giả định hướng việc tiếp tục theo dõi, đánh giá sự chuyển biến của quan hệ hợp tác song phương sau cột mốc năm 2015 dưới tác động của 3 trụ cột Cộng đồng ASEAN (Chính trị - An ninh, Kinh tế, Văn hóa - Xã hội), cũng như phân tích sâu hơn hiệu quả vận hành của các đại dự án đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp Việt Nam tại Lào trong dài hạn.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Giảng viên, sinh viên các ngành Đông Nam Á học, Quan hệ quốc tế, Lịch sử ngoại giao, Kinh tế đối ngoại khi tìm hiểu về lịch sử quan hệ đặc biệt Việt - Lào.
- Cán bộ làm công tác ngoại giao nhân dân, các hội hữu nghị và cơ quan quản lý biên giới.
- Các nhà nghiên cứu quan tâm đến tiến trình hội nhập tiểu vùng Mê Kông (GMS, EWEC) và tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN.
Phần nội dung có giá trị tham khảo cao nhất là hệ thống biên niên các hiệp định ký kết từ năm 1977 đến 2012 (tại Chương 2), các dữ liệu phỏng vấn sâu đại diện Tổng Lãnh sự quán Lào và các tổ chức phụ trách đối ngoại tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ quan chuyên trách nào của Việt Nam được thành lập trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ để chỉ đạo công tác giúp đỡ toàn diện cho Lào?
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Việt Nam đã cử các đoàn chuyên gia tổ chức thành các Ban Cán sự giúp bạn từ Trung ương đến địa phương; cơ quan chuyên trách cấp Trung ương được thành lập với mật danh CP31, đến năm 1966 được đổi tên thành CP38 nhằm chỉ đạo công tác giúp Lào toàn diện về chính trị, quân sự và kinh tế.
2. Trong 4 tháng đầu năm 2012, mặt hàng nào của Việt Nam chiếm vị trí dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu sang Lào?
Xăng dầu các loại là mặt hàng xuất khẩu dẫn đầu sang thị trường Lào trong 4 tháng đầu năm 2012, đạt khối lượng 33.484 tấn với trị giá 36,666 triệu USD, chiếm 26,4% tổng trị giá kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Lào thời kỳ này.
3. Công trình quốc phòng nào do Việt Nam viện trợ không hoàn lại được khánh thành tại Vientiane vào tháng 11 năm 2011?
Đó là Nhà máy in bản đồ Bộ Quốc phòng Lào, được khánh thành vào sáng ngày 06/11/2011 với tổng mức đầu tư 22 tỷ đồng từ nguồn ngân sách viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Việt Nam, trang bị dây chuyền in Offset hiện đại và được chuyên gia quân đội Việt Nam chuyển giao công nghệ.
4. Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác giữa Việt Nam và Lào được ký kết vào thời gian nào và giữ vai trò gì trong quan hệ song phương?
Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác được ký kết chính thức vào ngày 18/07/1977 tại Vientiane. Đây là hiệp ước toàn diện nhất, quan trọng nhất, đặt nền tảng chính trị và cơ sở pháp lý lâu dài cho tình đoàn kết đặc biệt và quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai quốc gia độc lập có chủ quyền.
5. Vốn viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Việt Nam dành cho Lào trong giai đoạn 2001-2005 đạt mức bao nhiêu và tập trung cho lĩnh vực nào?
Theo hiệp định hợp tác song phương, trong giai đoạn 2001-2005, Chính phủ Việt Nam đã dành khoản viện trợ không hoàn lại trị giá 500 tỷ đồng cho Lào, ưu tiên tập trung cho công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực và bồi dưỡng nghiệp vụ.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Hiếu Trung đã phục dựng toàn diện tiến trình phát triển của mối quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào từ mốc thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1962 đến "Năm đoàn kết hữu nghị 2012". Công trình làm rõ các tiền đề địa lý, lịch sử, văn hóa, chính trị gắn kết hai dân tộc và lượng hóa các thành tựu hợp tác trên các trụ cột kinh tế, giáo dục, văn hóa và an ninh biên giới. Đồng thời, nghiên cứu đề xuất hệ thống giải pháp thực tiễn nhằm phát huy tối đa lợi thế của hai nước, hướng tới mục tiêu hiện thực hóa Cộng đồng ASEAN vào năm 2015.