Khóa luận: Hợp tác hữu nghị Việt Nam - Lào hướng tới Cộng đồng ASEAN 2015 - Đại học Mở TP.HCM

Phân tích mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa Việt Nam và Lào, nhấn mạnh vai trò của hai quốc gia trong việc xây dựng Cộng đồng ASEAN 2015 và các mục tiêu chung.

Chuyên ngành

Đông Nam Á học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2012

117
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan hợp tác hữu nghị Việt Nam Lào hướng Cộng đồng ASEAN

Mối quan hệ hợp tác hữu nghị Việt Nam - Lào là biểu tượng đặc biệt trong quan hệ quốc tế. Quan hệ ngoại giao chính thức thiết lập năm 1962. Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác ký năm 1977 đặt nền móng vững chắc. Hai nước chia sẻ đường biên giới dài hơn 2.300 km. Địa lý liền kề tạo điều kiện thuận lợi cho giao thương. Cộng đồng văn hóa, lịch sử chung gắn kết hai dân tộc. Việt Nam và Lào cùng hướng đến mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN 2015. Hợp tác trên nhiều lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, an ninh. Quan hệ đặc biệt này đóng vai trò quan trọng trong tiến trình hội nhập khu vực. ASEAN 2015 đánh dấu bước ngoặt trong liên kết kinh tế khu vực. Hai quốc gia cần tăng cường hợp tác để đáp ứng yêu cầu hội nhập. Mối quan hệ Việt - Lào là tài sản quý báu của cả hai dân tộc.

1.1. Nền tảng lịch sử quan hệ Việt Nam Lào

Quan hệ Việt Nam - Lào hình thành từ cuộc đấu tranh chống thực dân. Hai dân tộc cùng chiến đấu giành độc lập tự do. Năm 1962 đánh dấu bước ngoặt quan trọng với việc thiết lập ngoại giao chính thức. Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác năm 1977 nâng quan hệ lên tầm cao mới. Lịch sử chung tạo nên sự tin cậy chính trị đặc biệt. Truyền thống đoàn kết được vun đắp qua nhiều thế hệ. Đây là nền tảng vững chắc cho hợp tác hướng đến Cộng đồng ASEAN 2015.

1.2. Mục tiêu Cộng đồng ASEAN 2015 và vai trò hợp tác song phương

Cộng đồng ASEAN 2015 bao gồm ba trụ cột chính. Trụ cột Chính trị - An ninh, Kinh tế, Văn hóa - Xã hội. Việt Nam và Lào đều là thành viên tích cực của ASEAN. Hợp tác song phương giúp hai nước đáp ứng yêu cầu hội nhập. Tự do hóa thương mại đòi hỏi cải cách thể chế. Kết nối hạ tầng khu vực cần đầu tư lớn. Nguồn nhân lực phải đạt chuẩn khu vực. Quan hệ Việt - Lào tạo sức mạnh tổng hợp trong tiến trình hội nhập ASEAN.

II. Các lĩnh vực hợp tác và thách thức xây dựng Cộng đồng ASEAN

Hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Lào đạt nhiều kết quả tích cực. Kim ngạch thương mại tăng trưởng ổn định qua các năm. Việt Nam nằm trong nhóm nhà đầu tư lớn nhất tại Lào. Các dự án đầu tư trải rộng nhiều ngành: năng lượng, nông nghiệp, viễn thông. Hợp tác an ninh - quốc phòng được tăng cường mạnh mẽ. Hai nước phối hợp quản lý biên giới hiệu quả. Công tác phòng chống tội phạm xuyên quốc gia đạt kết quả tốt. Hợp tác giáo dục - đào tạo mở rộng quy mô. Hàng nghìn lưu học sinh Lào học tập tại Việt Nam. Tuy nhiên, nhiều thách thức đặt ra cho mối quan hệ này. Chênh lệch trình độ phát triển kinh tế giữa hai nước còn lớn. Hạ tầng giao thông liên kết còn nhiều hạn chế. Nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập ASEAN. Hành lang pháp lý cho hợp tác cần hoàn thiện thêm.

2.1. Thành tựu hợp tác kinh tế thương mại Việt Lào

Thương mại song phương Việt - Lào tăng trưởng liên tục. Hiệp định Thương mại mới ký năm 2015 tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc. Doanh nghiệp Việt Nam đầu tư mạnh vào Lào với nhiều dự án lớn. Các lĩnh vực năng lượng, khai khoáng, nông nghiệp thu hút vốn đầu tư. Hành lang kinh tế Đông - Tây kết nối hai nước. Xuất khẩu Việt Nam sang Lào đa dạng hàng hóa. Nhập khẩu nguyên liệu từ Lào phục vụ sản xuất. Hợp tác thương mại góp phần hiện thực hóa Cộng đồng Kinh tế ASEAN 2015.

2.2. Thách thức trong tiến trình hội nhập ASEAN

Chênh lệch trình độ phát triển là thách thức lớn nhất. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp hai nước còn hạn chế. Hạ tầng giao thông kết nối thiếu đồng bộ. Rào cản kỹ thuật trong thương mại cần tháo gỡ. Nguồn nhân lực chưa đạt chuẩn khu vực ASEAN. Thể chế pháp luật cần cải cách mạnh mẽ hơn. Phân bổ nguồn lực đầu tư chưa hiệu quả. Thách thức từ cạnh tranh với các nước ASEAN khác ngày càng gay gắt.

III. Giải pháp tăng cường hợp tác Việt Lào phục vụ hội nhập ASEAN

Chính phủ hai nước triển khai nhiều giải pháp tăng cường hợp tác. Hợp tác giữa các địa phương biên giới được mở rộng mạnh mẽ. Chương trình kết nghĩa tỉnh thành phát huy hiệu quả rõ rệt. Giao lưu văn hóa khu vực biên giới được tổ chức thường xuyên. Sự kiện giao lưu các tỉnh Tây Nguyên, Nam Trung Bộ với Lào năm 2011 thành công tốt đẹp. Bốn cặp tỉnh tham gia với quy mô lớn. Hoạt động này thúc đẩy hợp tác đầu tư phát triển kinh tế xã hội. Đảm bảo an ninh quốc phòng khu vực biên giới được củng cố. Đời sống nhân dân các dân tộc được cải thiện. Bộ tem chung Việt Nam - Lào phát hành năm 2012 kỷ niệm 50 năm ngoại giao. Đây là biểu tượng hợp tác văn hóa đặc biệt. Nhân lực chất lượng cao được ưu tiên đào tạo. Hợp tác khoa học công nghệ được đẩy mạnh. Kết nối hạ tầng số phục vụ hội nhập ASEAN.

3.1. Hợp tác địa phương và giao lưu văn hóa biên giới

Chương trình kết nghĩa tỉnh thành Việt - Lào đạt kết quả tích cực. Quảng Trị kết nghĩa với Xa Va Na Khẹt. Thừa Thiên Huế hợp tác với Xa La Van. Quảng Nam liên kết với Sê Koong. Kon Tum phối hợp với Attapeu. Giao lưu văn hóa khu vực biên giới tạo cơ hội kết thân. Giới thiệu nét văn hóa đặc sắc của mỗi dân tộc. Thúc đẩy hợp tác đầu tư phát triển kinh tế xã hội. Cải thiện đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân biên giới.

3.2. Đào tạo nguồn nhân lực và hợp tác khoa học công nghệ

Việt Nam cấp hàng nghìn suất học bổng cho lưu học sinh Lào mỗi năm. Đào tạo cán bộ quản lý đạt chuẩn khu vực. Chương trình đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường ASEAN. Hợp tác nghiên cứu khoa học được mở rộng. Chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp, năng lượng. Xây dựng hệ thống đào tạo trực tuyến liên thông. Nâng cao năng lực tiếng Anh phục vụ hội nhập. Đào tạo kỹ năng quản lý dự án quốc tế cho cán bộ hai nước.

IV. Ý nghĩa và triển vọng hợp tác Việt Lào trong Cộng đồng ASEAN

Mối quan hệ hợp tác hữu nghị Việt Nam - Lào mang ý nghĩa chiến lược sâu sắc. Quan hệ đặc biệt này là tài sản quý báu của hai dân tộc. Sự tin cậy chính trị cao tạo nền tảng vững chắc. Hai nước cùng chia sẻ lợi ích chiến lược trong hội nhập khu vực. ASEAN 2015 mở ra cơ hội hợp tác mới to lớn. Cộng đồng Kinh tế ASEAN đòi hỏi liên kết sâu rộng. Cộng đồng Chính trị - An ninh ASEAN cần sự phối hợp chặt chẽ. Cộng đồng Văn hóa - Xã hội ASEAN đề cao bản sắc dân tộc. Việt Nam và Lào có lợi thế so sánh bổ sung cho nhau. Năng lượng, khoáng sản Lào kết hợp công nghệ, thị trường Việt Nam. Triển vọng hợp tác rất sáng sủa trong thập kỷ tới. Hai nước đặt mục tiêu nâng kim ngạch thương mại lên 2 tỷ USD. Đầu tư Việt Nam vào Lào tiếp tục tăng trưởng mạnh. Quan hệ Việt - Lào là hình mẫu hợp tác trong ASEAN.

4.1. Ý nghĩa chiến lược của quan hệ đặc biệt Việt Lào

Quan hệ Việt Nam - Lào là biểu tượng đoàn kết quốc tế. Hai đảng cầm quyền duy trì đối thoại chiến lược thường xuyên. Sự tin cậy chính trị tạo nền tảng hợp tác lâu dài. Cùng bảo vệ lợi ích quốc gia trong hội nhập khu vực. Phối hợp lập trường tại các diễn đàn ASEAN. Ủng hộ lẫn nhau trong các vấn đề quốc tế. Quan hệ đặc biệt góp phần duy trì hòa bình ổn định khu vực. Đây là mô hình hợp tác thành công trong quan hệ quốc tế hiện đại.

4.2. Triển vọng hợp tác hướng đến Cộng đồng ASEAN

Triển vọng hợp tác Việt - Lào rất tích cực trong thập kỷ tới. Mục tiêu thương mại song phương đạt 2 tỷ USD vào 2020. Đầu tư Việt Nam vào Lào tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ. Hành lang kinh tế mới được mở rộng kết nối ASEAN. Hợp tác du lịch liên quốc gia phát triển nhanh. Hạ tầng số hóa được ưu tiên đầu tư. Nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu hội nhập. Hai nước hướng đến quan hệ đối tác chiến lược toàn diện trong ASEAN.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

29/05/2026
Mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa việt nam và lào hướng đến mục tiêu xây dựng cộng đồng asean 2015 khóa luận tốt nghiệp đại học

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1, chúng tôi đã tổng luận khái quát về tiền đề của mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Lào. 16 CHƯƠNG 2: MỐI QUAN HỆ HỢP TÁC GIỮA VIỆT NAM VÀ LÀO TỪ 1962 ĐÉN NAY 2.1 Mối quan hệ họp tác giữa Việt Nam và Lào từ năm 1962 đến nay: 2.1 Mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Lào từ năm 1962 đến năm 1975 Ngày 05/09/1962, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Vương quốc Lào thiết lập quan hệ ngoại giao. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, quan hệ hai nước Việt - Lào là liên minh chiến đấu. Khi nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ra đời ngày 02/12/1975, mối quan hệ này chuyển sang giai đoạn mới là quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai Đảng và hai nhà nước.

Mỹ tiến hành “chiến tranh đặc biệt” ở Lào, mở rộng chiến tranh toàn diện ở Việt Nam. Hai nước trở thành chiến trường chung chống Mỹ. Hội nghị TW Đảng Nhân Dân Cách mạng Lào tháng 5/1965 ra nghị quyết đẩy mạnh chiến tranh nhân dân chống Mỹ xâm lược. Trên tinh thần ấy hai Đảng đã nhất trí đề ra chủ trương đấu tranh ở Lào là vừa đánh vừa đàm, vừa củng cố và phát triển lực lượng ở Lào.

Hai bên nhất trí Việt Nam giúp Lào “toàn diện, lâu dài, cơ bản và liên tục”. Trên tinh thần đó lực lượng Việt Nam tăng cường, phối hợp với lực lượng vũ trang Lào giải phóng một số vùng có ý nghĩa chiến lược cho cả hai nước: cánh đồng Chum, đường 9 Nam Lào, cao nguyên Bôlôven, hơn 2/3 nước Lào được giải phóng. Năm 1972, với thắng lợi của “Điện Biên Phủ trên không” Mỹ buộc ký hiệp định Pari về Việt Nam. Năm 1973, đồng thời Hiệp định Viên Chăn về Lào cũng được ký kết, Mỹ rút khỏi hai nước.

Ngày 30/04/1975 Miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng. Nhân dân Lào nổi dậy giành chính quyền trong toàn quốc và ngày 02/12/1975 nước CHDCND Lào ra đời. Như vậy trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, Việt Nam đã cử hàng vạn quân tình nguyện sang Lào; đồng thời đã cử hàng trăm chuyên gia chính trị, quân sự, kinh tế được tổ chức từ TW đến các tỉnh huyện của Lào, được gọi là “Ban Cán Sự” đặt bên cạnh hệ thống chính quyền các cấp của bạn. Ban Cán Sự có nhiệm vụ giúp bạn xây dựng Đảng, chính quyền, xây dựng căn cứ cách mạng.

Cơ quan chuyên trách giúp 17 bạn được thành lập- CP31, năm 1966 được đổi thành CP38, bao gồm hàng ngàn cán bộ chính trị, quân sự, kinh tế để chỉ đạo công tác giúp Lào toàn diện cho đến ngày hoàn toàn giải phóng. Điểm qua lịch sử cột mốc quan trọng giai đoạn 1962-1975, chúng ta thấy quan hệ đặc biệt Việt- Lào đã được thể hiện rõ nét trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Có thể thấy rõ những nét đặc trưng cơ bản của quan hệ đặc biệt trong thời kỳ này là sự cưu mang, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau của cách mạng hai nước. Nhờ có sự giúp đỡ đặc biệt ấy cách mạng Lào nhanh chóng trưởng thành và thành công.

“Sở dĩ cách mạng Lào đạt được nhĩmg thắng lợi to lớn đó là do tỉnh thần đoàn kết đau tranh anh dũng kiên cường của nhản dân, cản bộ, chiến sĩ Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Lào, đòng thời cũng do sự đóng góp quan trọng của đồng chí và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã hết lòng theo dõi, giúp đỡ chủng tôi trong mỗi giai đoạn của cách mạng”.2 Mối quan hệ họ*p tác giữa Việt Nam và Lào giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1986 Sau cuộc kháng chiến trường kỳ chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ thắng lợi, nhiệm vụ giải phóng dân tộc đã hoàn thành trọn vẹn đối với cả hai nước. Việt Nam và Lào bước ra khỏi cuộc chiến tranh với tư cách là người chiến thắng. Với sự hợp tác và giúp đỡ của các nước XHCN và cộng đồng quốc tế, CHDCND Lào đã ổn định tình hình đất nước sau chiến tranh, thiết lập và giữ vững được Chính quyền Cách mạng, chế độ mới trong cả nước. Tháng 10/1975, Đảng Nhân dân cách mạng Lào đã ra hoạt động công khai sau 20 năm hoạt động bí mật, cùng với sự kiện ra đời của Nhà nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào (02/12/1975) và CHXHCN Việt Nam được thành lập 1976 đã đưa quan hệ Việt- Lào sang một trang mới.

Đó là quan hệ giữa Đảng cầm quyền, đồng thời quan hệ giữa hai Nhà nước độc lập có chủ quyền, thống nhất, tự nguyện đoàn kết liên minh với nhau trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin, tinh thần quốc tế vô sản. Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc ngày 01/12/1975, tại thủ đô Vientian ông Cayxỏn Phômvihản: “Thực hiện chính sách đối TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM THƯ VIỆN 18 ngoại độc lập, hòa bình, hữu nghị và không liên kết nhằm xây dựng thành công một nước Lào hòa bình, độc lập, dân chủ, thống nhất, phồn vinh, tiến bộ xã hội”, nhất là “xây dựng mối quan hệ hòa bình hữu nghị với các nước láng giềng”, “đoàn kết và hợp tác với nhân dân Việt Nam và Campuchia anh em để bảo vệ mọi thành quả của cách mạng và xây dựng đất nước cho phú hợp với nguyện vọng của nhân dân ta” [17]. Văn kiện Đại hội IV của Đảng và Nhà nước Việt Nam nêu rõ: “Ra sức bảo vệ và phát triển mối quan hệ đặc biệt giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân Lào”. 176] Hai bên đã ra Tuyên bổ chung Việt Nam - Lào ngày 11/02/1976 và Hiệp định về hợp tác kinh tế- văn hóa và khoa học —kỹ thuật ngày 31/08/1976.

Tuyên bố chung và Hiệp ước khẳng định nhân dân hai nước bước vào giai đoạn mới, quyết tâm phấn đấu củng cố độc lập dân tộc và xây dựng đất nước phồn vinh, phù hợp với điều kiện riêng của mỗi nước. Đặc biệt vào năm 1977 là năm hai bên có những ký kết quan trọng như: + Tuyên bố chung Việt Nam- Lào ngày 18/07/1977. + Hiệp ước hữu nghị hợp tác giữa CHXHCN Việt Namm và CHDCND Lào ngày 18/07/1977. + Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHDCND Lào (18/07/1977) với tinh thần “không tính thiệt hơn” đã giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ một cách hiệu quả.

+ Hiệp ước về nước CHXHCN Việt Nam viện trợ không hoàn lại và cho vay không lấy lãi trong 3 năm (1978-1980) ký ngày 18/07/1977 Trong đó, Hiệp ước hữu nghị và hợp tác (07/1977) là một Hiệp ước toàn diện nhất, quan trọng nhất cho một thời gian lâu dài, là cơ sở chính trị và cơ sở pháp lý quan trọng để củng cố và tăng cường lâu dài tình đoàn kết và mối quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào. CHDCND Lào đã thực hiện thành công Kể hoạch 3 năm khắc phục hậu quả sau chiến tranh (1978-1980) và Kế hoạch 5 năm khôi phục và phát triển kinh tế(1981- 1985).[9, tr20] 19 Đó là điều kiện tiền đề, mở đường cho hai nước thực hiện mục tiêu chiến lược tiếp theo: Xây dựng đất nước theo con đường XHCN nhưng trước mắt hai nước tiến hành khắc phục hậu quả nặng nề của chế độ cũ để lại, hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục phát triển kinh tế- xã hội, ổn định tình hình mọi mặt. Để tăng cường tình đoàn kết hữu nghị giữa hai nước Việt Nam và Lào, Bộ Chính trị Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam ra Nghị quyết số 10/4 - 1983 và Bộ Chính trị Ban Chấp Hành Trung ương Đảng NDCM Lào ra Nghị quyết số 351983 nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên hai Đảng và nhân dân hai nước về sự hợp tác toàn diện và liên minh đoàn kết việt Nam -Lào tiếp tục được củng cố trên tất cả các mặt chính trị đội ngoại, an ninh quốc phòng, kinh tế, văn hóa. Năm 1985, Bộ Chính trị hai nước tiến hành hội đàm trên hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thông qua Hiệp định lãnh sự 1985.

Từ năm 1975-1985, Đồng Dương theo con mắt bên ngoài vẫn là một chiến trường, các thế lực phản động quốc tế và trong nước âm mưu chia rẽ khối đoàn kết và xây dựng đất nước của ba nước trong đó có Việt Nam và Lào đã phối hợp chặt chẽ với nhau tăng cường cảnh giác, đập tan mọi âm mưu chia rẽ của các thế lực phản động. Hai nước tiếp tục coi việc gắn bó với nhau là một “chiến lược quan trọng hàng đầu”. Đại hội Đảng lần thứ IV của Đảng CSVN đã nhấn mạnh Quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào là “Một quy luật phát triển của cách mạng mỗi nước”. Hai nước ngày càng thấy rõ sự cần thiết phải dựa vào nhau để tồn tại và phát triển trong hoàn cảnh hai nước phải khác phục hậu quả chiến tranh trước sự phá hoại của kẻ thù (Nghị quyết Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 11/04/1984).

Đó là điều kiện tiên quyết nhàm giữ gìn hòa bình, an ninh phát triển cho cả hai nước. Như vậy từ đây quan hệ Việt Nam- Lào đã bước sang một trang mới: từ đoàn kết chiến đấu chung một chiến hào sang hợp tác toàn diện giữa hai quốc gia độc lập có chủ quyền.3 Mối quan hệ họp tác giữa Việt Nam và Lào từ năm 1986 đến nay 20 Năm 1986, Đảng, Nhà nước Việt Nam và Đảng, Nhà nước Lào bắt đầu tiến hành thực hiện công cuộc đổi mới đất nước. Hòa chung vào công cuộc đổi mới đó, quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Lào cũng có sự đồi mới về mục tiêu, phương thức hợp tác nhằm đưa quan hệ hợp tác Việt Nam - Lào thực sự có hiệu quả cả về bề rộng lẫn chiều sâu. Trong đó, quan hệ họp tác kinh tế Việt Nam - Lào giảm dần tính bao cấp, tập trung chuyển sang sản xuất, kinh doanh cùng có lợi.

Từ năm 1986 đến nay, công cuộc đổi mới đất nước ở Việt Nam và Lào đã đạt được những thành tựu đáng kể. Để đưa quan hệ, họp tác kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật Việt Nam- Lào lên ngang tầm với quan hệ chính trị rất tốt đẹp giữa hai Đảng, hai Nhà nước và tương xứng với tiềm năng của hai nước, quan hệ họp tác kinh tế văn hóa, khoa học kỹ thuật Việt Nam- Lào đã được thực hiện theo phương hướng chiến lược, có kế hoạch, có chương trình họp tác cụ thể và thực hiện dưới nhiều hình thức như: họp tác, liên doanh, liên kết, đầu tư,.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ