mở đầu của văn học ở miền Bắc trong thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội. Dù thiên tiểu thuyết này bị phê phán nhưng Nguyễn Dậu vẫn quyết tâm theo đuổi sự nghiệp văn chương. Rời vùng than ở Quảng Ninh, Nguyễn Dậu lên vùng mỏ thiếc ở Tĩnh Túc, về Hải Phòng, vào khu 4, đến với các công trường, xưởng máy, trận địa để thâm nhập thực tế, lấy tư liệu cho sáng tác. Trong giai đoạn giặc Mỹ bắn phá miền Bắc, với tinh thần xông pha của một nhà văn – chiến sĩ, Nguyễn Dậu bất chấp hiểm nguy, có mặt ở hầu khắp các vùng đất máy bay Mĩ bắn phá ác liệt như cầu Bùn, cầu Giát, phà Ghép.
của vùng trọng điểm Thanh – Nghệ Tĩnh. Khát vọng sáng tác đã giúp nhà văn quên đi mọi khó khăn, nhọc nhằn của đời sống kháng chiến, cháy hết mình cho việc sống và viết. Thành quả của sự khổ luyện vất vả ấy chính là sự ra đời của các tập truyện ngắn Huệ Ngọc, Trở lại đảo (Nhà xuất bản phổ thông), Người ngoại ô (Nhà xuất bản văn học) cùng hàng trăm bài báo phản ánh thực tế chiến đấu của chiến sĩ và nhân dân nơi tuyến lửa mà nhà văn đang bám trụ. Sau năm 1975, Nguyễn Dậu lại tiếp tục cuộc phiêu lưu mới.
Ông đi vào miền Nam, sang đất Campuchia rồi quay về Hà Nội. Vì cuộc sống mưu sinh vất vả, Nguyễn Dậu phải làm đủ nghề kiếm sống như bán dép, làm thợ cắt tóc ngoài vỉa hè. Tuy nhiên, 14 điều đáng quý là ông chưa lúc nào từ bỏ “mộng văn chương”, vẫn say mê với từng con chữ. Sau gần ba mươi năm không cầm bút, Nguyễn Dậu trở lại với văn chương bằng sự hăm hở, háo hức vẫn vẹn nguyên niềm say mê sáng tạo.
Cảm hứng và sinh lực sáng tạo vẫn nảy nở căng trào giúp ông cho ra đời “những thiên truyện ngắn ám ảnh, hấp dẫn đến mức kinh điển”. Với ý tưởng mới, cách viết mới, những tập truyện ngắn của ông thời kì này đánh dấu một thời kì mới trong văn nghiệp, đưa ông vào hàng tên tuổi những nhà văn đương đại tiêu biểu. Nhìn lại cuộc đời của Nguyễn Dậu, có thể thấy, cuộc đời ông nhiều sóng gió, thăng trầm, trải qua không ít những gian truân nhưng ông vẫn luôn sống hết mình với cuộc đời, vẫn tha thiết với văn chương, nghệ thuật và cháy hết mình vì lí tưởng. Chính việc phải lăn lộn trong cuộc đời đầy những nhọc nhằn đã giúp cho những trang viết của ông luôn chân thực, sống động, tươi mới mang hơi thở của cuộc sống đời thường nhiều buồn vui lẫn lộn.
Với một nền tảng học vấn vững vàng của cả Tây học và Hán học, kết hợp với những trải nghiệm trong cuộc sống, Nguyễn Dậu tạo nên được một phong cách riêng biệt trong văn chương, ghi một dấu ấn không thể phai mờ trong văn học Việt Nam hiện đại. Ông được ghi tên trong Từ điển văn học Việt Nam (bộ mới) do Nhà xuất bản Thế Giới ban hành năm 2005. Hành trình sáng tác Nhà văn Nguyễn Dậu ra nhập làng văn vào năm 1955 với tiểu thuyết đầu tay Nữ du kích Cam Lộ. Năm 1961, ông trở nên nổi tiếng, được nhiều người biết đến, trở thành hiện tượng của văn đàn lúc ấy với tiểu thuyết Mở hầm.
Với bút lực dồi dào, chỉ trong một thời gian ngắn sau đó, Nguyễn Dậu xuất bản hàng loạt tập truyện ngắn và tiểu thuyết trình làng. Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Dậu nhìn tổng quát có thể chia làm hai chặng đường. Chặng thứ nhất, từ năm 1955 đến năm 1962, khép lại với sự kiện tiểu thuyết Mở hầm. Các tác phẩm tiêu biểu trong giai đoạn này là tiểu thuyết Đôi bờ (Nxb Thanh niên, 1958), Mở hầm (Nxb Thanh niên, 1961), Vòm trời Tĩnh Túc (Nxb Lao Động, 1963); các tập truyện ngắn: Ánh đèn trong lò (Nxb Văn học, 1961), Huệ Ngọc (Nxb Văn học 15 1962).
Các tác phẩm này đều ra đời trong cái lấm lem than bụi ở các nhà máy, hầm mỏ, công trường mà nhà văn đã sống và làm việc nên đều ngồn ngộn các chi tiết của đời sống thực tế, giàu giá trị hiện thực. Chặng đường thứ hai là những sáng tác viết ra sau thời kì Đổi mới. Giai đoạn này, ông viết khỏe, viết đều và còn viết rất nhanh. Ông trở lại văn đàn với bút lực dồi dào lạ thường.
Về điều này, nhà phê bình văn học Ngô Vĩnh Bình có lần đã biểu dương Nguyễn Dậu, với những nhận định, đánh giá đầy yêu mến và trân trọng về văn chương ông: “Bút lực của nhà văn có tuổi này là dường như còn rất dồi dào. Dồi dào không phải chỉ ở chỗ viết khỏe, in đều mà cái chính là ở văn phong, ở lối nhìn, cách nghĩ, ở cả phía khai thác đề tài, đối tượng miêu tả” [9]. Chỉ trong gần chục năm cuối của thế kỉ trước, Nguyễn Dậu đã cho ra đời hàng loạt những tập truyện ngắn: Con thú bị ruồng bỏ (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1988), Rùa hồ Gươm ( Nhà xuất bản Hà Nội, 1990, Hương khói lòng ai (Nhà xuất bản Văn học, 1994), Đôi hoa tai lóng lánh (Nhà xuất bản Văn học, 1995), Phật tại tâm (Nhà xuất bản Văn học, 1995), Bảng lảng hoàng hôn (Nhà xuất bản Văn học, 1997). Tác phẩm của ông thời kì này phản ánh những vui buồn của kiếp người với biết bao chiêm nghiệm của chính ông trong suốt một cuộc đời đầy nhọc nhằn, sóng gió.
Ông viết về niềm vui và nỗi đau đớn của một con chó săn của một ông tướng; ông viết về nỗi lo âu, xót xa của những con rùa ở Hồ Gươm; con người trong sáng tác của ông đều là những người ở dưới đáy của xã hội bị sóng gió cuộc đời vùi dập, sống không địa vị, không danh phận nhưng luôn luôn phải vật lộn để giữ phần nhân tính và thiện căn của mình. Ông cũng đi sâu khai thác những tâm tư, tình cảm uẩn khúc, éo le của con người mà thời điểm ấy người ta ngại đề cập với một cái nhìn đôn hậu, chan chứa yêu thương. Văn phong của ông giai đoạn này sâu lắng trong suy tư, trầm tĩnh, hồn hậu trong cảm xúc với biết bao nhiêu chiêm nghiệm từng trải trong cuộc đời. Nhà phê bình văn học Ngô Vĩnh Bình nhận xét: “đọc truyện ngắn Nguyễn Dậu chúng ta chẳng thấy những điều triết lý to tát mà dường như chúng ta luôn nhận được những bài học về cuộc sống lăn lóc đầy khổ đau của con người trong thế giới người.
Và đọc ông, mỗi người thấy yêu thêm đồng loại, thấy tin tưởng ở sức mạnh tiềm ẩn cũng như sự trong sáng vốn 16 có của chính mình để vượt qua thử thách, để hướng tới ánh sáng ngay cả khi ở trong những góc tối tăm nhất” [9]. Nhận định về sáng tác của Nguyễn Dậu, tác giả Anh Chi trong bài viết Nhà văn Nguyễn Dậu đã nhận xét: ở trong giai đoạn sáng tác thứ nhất: “Nguyễn Dậu lăn xả vào thực tế lao động ở các hầm mỏ; và với sức trẻ, ông viết say mê, gấp gáp. Văn ông giai đoạn đó ngồn ngọn sức sống, sự tươi nguyên nên có thể bị coi là tự nhiên chủ nghĩa”. Với giai đoạn sáng tác thứ hai: “Văn ông giai đoạn này vững vàng về bố cục, mạnh bao trong suy tư, sắc sảo trong mô tả và đặc biệt là sâu lắng trong xúc cảm”.
Nguyễn Dậu là người nghệ sĩ đa tài. Không chỉ viết văn, ông còn sáng tác thơ ca, tấu hài, kịch, chèo. Ngoài ra, với sự thông thạo Pháp văn, Trung văn, ông còn là tác giả của nhiều ấn phẩm dịch thuật:Tất cả hiến dâng Đảng (1954); Người bí thư xã (1956); Ngôi sao đỏ Đổng Tồn Thụy (1958); Anh hùng chiến đấu Triều Tiên (1958); Tống Nhạc Phi (1959); Niềm hy vọng hòa bình (1961); Cuốn sách thấy ở Thuận Xuyên (1962). Nguyễn Dậu còn dịch một số truyện Việt Nam sang Trung văn như Má Năm (Nguyễn Văn Thông); Ông Năm Hạng (Nguyễn Quang Sáng); Huệ Ngọc (Nguyễn Dậu) đều do nhà xuất bản Bắc Kinh ấn hành năm 1963.
Có thể thấy, với sự cần cù, miệt mài và một ý thức đầy tinh thần trách nhiệm của người cầm bút, Nguyễn Dậu xứng đáng là một nhà văn tiêu biểu trong dòng văn học đương đại. Ông nhận được sự yêu mến, nể phục của không ít bạn bè đồng nghiệp. Họ đều dùng những lời lẽ đầy trân trọng và đánh giá cao tài năng nghệ thuật cũng như nhân cách của Nguyễn Dậu. Tác giả Nguyễn Đình Thi khẳng định: “Nguyễn Dậu là một cây bút sắc sảo và bạo dạn”.
Tác giả Ngô Vĩnh Bình lại có một so sánh xác đáng: “Nếu có thể ví văn đàn với bóng đá thì nhà văn Nguyễn Dậu là cầu thủ hiệp một đá khá xuất sắc, hiệp hai bị treo giò, vào đá hai hiệp phụ lại ghi được những bàn thắng đẹp mắt làm mọi người hân hoan và sửng sốt”. Tác giả Bảo Vũ lại so sánh Nguyễn Dậu như một nhà tu khổ hạnh mà vô cùng đáng trọng: “Nói đến sự nể phục với một nhà văn là không cần thiết. Anh ta đi ngang qua cõi đời này với sứ mệnh của nhà truyền giáo. Đó là công việc khuyến thiện và tôn vinh con người.
Trong giáo phái, có thể anh ta chỉ ở đẳng cấp thấp; 17 nhưng những gì người thầy tu khổ hạnh ấy để lại cho đời, dù chỉ là một dấu vết mờ nhạt thôi, cũng đủ để người ta cúi mình trước nấm mồ của anh”. Nhà nghiên cứu Lê Thi Dục Tú trong bài viết “Đội ngũ các nhà văn Việt Nam viết truyện ngắn đương đại” in trên báo Văn nghệ quân đội số ra ngày 8/11/2012, nhà văn Nguyễn Dậu được đặt bên cạnh những cây bút quen thuộc Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Xuân Thiều, Đỗ Chu. Theo đó, Nguyễn Dậu là một trong những nhà văn gạo cội, kịp đổi mới ngòi bút để phù hợp với những chuyển biến của thời cuộc. Tiểu kết chương Văn hóa là sản phẩm của con người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội.
Văn hóa và văn học có mối quan hệ hữu cơ mật thiết. Việc nghiên cứu văn học dưới góc nhìn văn hóa là một hướng đi cần thiết và có triển vọng. Cách tiếp cận này giúp chúng ta lí giải trọn vẹn hơn tác phẩm nghệ thuật, cắt nghĩa một cách rõ ràng hơn những phương diện nội dung và hình thức của tác phẩm, cũng như góp phần lí giải thị hiếu của độc giả, tâm lí sáng tác và những đóng góp của nhà văn với nền văn học.