mở đầu cho triều Nguyễn, lay niên hiệu là Gia Long. Trong giai đoạn này, nước ta sông trong cảnh chiến tranh thường trực, ít ai có thì giờ nghĩ đến chuyện chấn hưng đạo đức tôn giáo. Phong trào đấu tranh của nhân dân chống lại giai cấp thống trị diễn ra suốt từ đầu nhà Nguyễn cho tới những năm năm mươi của thế kỉ 19, theo tính toán của các nhà nghiên cứu, dưới thời Nguyễn có tới năm trăm cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ. Nho giáo dưới thời kì này trở nên suy yếu, đạo thống bị băng hoại.
Nho giáo thé hiện sự bất lực trước thời đại, không còn là động lực phát triển của xã hội. Từ giữa thế kỉ 18, tình hình giáo dục ngày càng sa sút, chúa Trịnh cho các thí sinh kì thi Hương nộp ba quan, gọi là tiền thông kinh miễn khảo hạch, khiến cho việc thi cử càng trở lên lộn xộn, người hiền tài mười phần không thi đỗ được 10 một hai. Dưới triều nhà Nguyễn có khôi phục lại được phần nào, nhưng nhìn chung, Nho giáo không còn giữ được vi trí như trước đây. Đạo Phật trong thời kì đầu nhà Nguyễn dần được khôi phục, chùa chiền được xây dựng lại, tuy nhiên đạo Phật trong lòng người dân ngày càng trở nên lu mờ: ".Đến đây, từ vua quan cho đến thứ dân, ai ai cũng cho rằng đạo Phật là ở sự cúng cấp, câu đảo, chứ không biết gì khác nữa.
Và phân đông họ chỉ trọng ông thay ở chỗ danh vọng, chức tước, mặc dù ông ấy thiếu học, thiếu tu. Bởi tệ hại ay, tang dé trong nước lan lấn vào con đường trụy lạc, co bạc, rượu chè đắm trước thanh sắc.” (Việt Nam Phật giáo sử lược. Chương 9: Phật giáo trong thời kì cận đại (triều Nguyễn). Tác giả Thích Mật Thẻ).
Trước sự xuống cấp về mặt học thuật cả về Nho giáo lẫn Phật giáo và Lão giáo, người đời sau không còn hiểu sâu về những sách vở của người đi trước, đọc mà không thông hiểu ngữ nghĩa câu cú. Yêu cầu có một tập sách có thể giúp người đời sau hiểu được những vấn đề cơ bản nhất của tam giáo, thông hiểu được những van dé gặp phải trong quá trình đọc các sách khác. Nhân lúc đọc các sách của Bách gia Chư tử, nhà sư An Thiền đã ghi chép lại những kiến thức cơ bản, những vẫn đề hay trong các sách đó biên tập thành tập sách “Dao giáo nguyên lưu”, với mục đích cung cấp cho các đệ tử và người đời sau hiểu được các kiến thức cơ bản, tiện bề tra cứu và học tập. Trong “Tiểu Dẫn” đâu tập sách có đoạn viết: “.DỊ #2 lí lữ, WE OE 2 YE YÉ, bú te KEG, ® Bú l§ T — Ù # tH.
Fo 5Š đã AS lễ ae, fí 5| it PE Z4 3 #í. fí 5| JA {L # 3t ñH #, [A Ki tt 54 #í, Aw Me a Ane OF 1, f1 Tí đã Re, A #E DỊ % #í, AM * BỊ š #, Ae eA AR Oe, A 2 sử a TO 2, X 54 ẤJ — —, ẤM Sš 2£ aK 2} Ay = 3, H El: jẾ đt ÿ§ f, DJ ñị 3š, 4 1H đã Ít ® ñị El , Jr ‡E 75 tU , # T Út T ẨM fJ { lỗi ?, (.) ae, E 2K Al 3Š 37 , Ay OS {7 Ge — Ít Or lề , El : — ot Ay Ä OT HỊ HE Tt AY VW. HR” 11 Phiên âm: “.Nhân hạ an cư thời, du thích hải chi uông dương, ngoạn Nho lâm chi hao đãng, hội quy nguyên vu nhất phái giả dã. Tiên lãm sơ kinh tao luận, hữu dẫn Hoa Phạn danh nghĩa giả, hữu dẫn Chu Không Lão Trang ngữ giả, hữu đồng di nhi kính huỷ giả, hữu tân văn cựu pháp giả, hữu cổ tự kim tự giả, hữu thiện ác, hiếu 6 giả, hữu nghĩa lý thiết yếu giả, hữu văn tự quốc âm giả, hữu bàn hoàn số nhật nhi vị tiêu nhất cú giả, nhân nhi sưu tầm Chư tử bách gia, thái kì yếu ước nhất nhị, biên tập các khoản, phân vi tam quyền, mục viết: Đạo giáo nguyên lưu, dĩ tiện quan lãm, (.) Sơ tô thuỷ tòng vạn pháp, chung chí đơn truyền, thử kỳ ý dã, ngã bối học bat tri cú đậu, thư vị tri thiên bàng, vi tăng hành nghi, nhất vô sở hiểu, viết: Nhat tâm vi bản vạn hành khả di thứ chi.
Ta hồ! Tâm kí bất nhất, nhi vạn hành khả tòng nhi khả lập tai.Nhân lúc mùa hạ an nhàn, ngao du biển Phật mênh mông, chơi nơi rừng Nho bát ngát, hợp quy nguon về một phái. Trước xem kinh chú mà tạo ra lời luận bàn, có trích dẫn các tên và nghĩa Hoa, Phạn; Có trích dan lời của Chu Không, Lão Trang; Có dong dị mà kính huý, có văn mới phép xưa, có chữ xưa chữ nay, có thiện ác, có yêu ghét, có nghĩa lý thiết yếu, co van tự quốc âm, có câu suy ngẫm may ngày mà không thông nghĩa. Nhân đó mà sưu tâm trong Bách gia chư tử, chọn lấy một hai điều căn bản, biên tập lại các khoản và chia thành ba cuốn, dé tên là: Đạo giáo HguyêH lưu, để tiện xem doc(.) Tổ xưa bắt dau theo vạn pháp, cuối cùng tới đơn truyén ấy là do bởi phường chúng ta học không biết cham câu, viết chữ không biết bộ thủ, làm thay tăng thực hiện nghỉ lé mà không hiểu gì cả, cứ bảo rang lấy một cái “tâm” lam sốc, còn “vạn hạnh ” có thé xếp vào hàng thứ hai. Than ôi! “Tam” đã bat nhất thi “vạn hạnh ” sẽ dựa vào đâu mà tạo lập duoc.’ , Đó cũng chính là điều mà nhà sư An Thiền trăn trở trước khi làm làm cuốn “Dao giáo nguyên lu”, trong một thời ki dài suy thoái, tăng ni trong các chùa đều không biết chữ, ngữ nghĩa không thông hiểu, chỉ biết truyền lời của người xưa mà không hiểu biết về ý nghĩa.
Điều đó cho thấy, mục đích lớn nhất dé nhà sư An Thiền viết tập sách “Dao giáo nguyên lưu” là giúp người đời sau 12 hiểu được tam giáo từ những van dé cơ bản nhất của nó. Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo trong thời kì đầu tiếp xúc, thỉnh thoảng có những cuộc đụng độ nhỏ trên các phương diện như tập tục, lễ nghi.ma chưa có sự đụng độ về mặt tư tưởng, các thời kì tiếp theo bắt đầu xuất hiện sự pha trộn, hỗn dung tư tưởng của nhau. Cuốn “Ff BY if” (Lý Hoặc Luận) của Mau Tử tập trung phản ánh cái mà người dân thời đó quan tâm là làm thé nào dé dùng tư tưởng Nho giáo giải thích Phật giáo. Hay ở thé ki thứ V, trên đất Giao Châu xây ra cuộc bút chiến giữa Nho giáo và Phật giáo, cuộc tranh luận này đã cho thấy, thời kì này xu thế gắn kết tam giáo bắt đầu được mọi người chú ý tới.
Đó cũng là tín hiệu khởi đầu cho cuộc hội nhập, hỗn dung các luồng tư tưởng của các giáo phái. Lấy lý lẽ, tư tưởng của giáo phải này để giải thích cho lý lẽ, giáo lý của tư tưởng khác đã trở nên phố biến hơn. Các tăng ni thường viện dẫn tư tưởng của Nho giáo dé giải thích cho tư tưởng của minh, con Dao giáo lại viện dẫn tư tưởng của Phật giáo để giải thích cho tư tưởng của mình. Tác giả Hám Sơn Đức Thanh người Trung Quốc đã chú thích các sách Trung dung - Luận ngữ - Đại học chủ trương dung hòa giữa Nho giáo và Phật giáo, Bộ “Quan Lão Trang ảnh hưởng luận”(đỗi ZZ H£ ?⁄ HH] im), “Đạo đức kinh giải” GE 78 #ế ff), “Tam kinh luận” (= ## iff) tác giả Ham Sơn Đức Thanh viết nhằm dung hòa với Đạo giáo, đồng thời bàn rõ sự dị đồng của tam giáo và đưa ba giáo phái đến chỗ thống nhất.
Tác Giả Hàn Du đã viết “Phúc tính thu’(4 HE) lay kinh Phật để giải thích Nho giáo. Trong bài “tựa” cho “Thiền Tông Chỉ Nam” Vua Tran Thái Tông viết: “Các vị sáng lập ra Nho, Phật, Lão, xét cho cùng đều cùng chung một mục tiêu: Cầu tìm đạo, việc chia tách thành “ba giáo ” là cứng nhắc. Nho Phật Lão là những người bạn đồng hành. ” Trong bài “Tiểu dẫn” đầu tập sách “Đạo giáo nguyên lưu”, An Thiền viết: “Ji 2.
BOE BE “2 IH ee. li †H FP 1J Bì {k fñ # 1. OA, WE {L Bễ BŠ Te #t Z. Bk “E }- 'h MO) tố Hh, gà AE Pe 2 th 7, BR “E Ƒ BÚ 42 BE Hr, liJ Ƒ] Bế jú ñx 4lHÌ.
ñ 13 HBOS) DI By PA th. Bk AC DA th AE 2V BR, nh #( P| fie EL, H t DJ BỊ đZ Tí #E #4 % Ye HỊ.L Fñ, f7 AC ĐI SY GB, fi ƒ( DỊ Ji EH i ih, A ACU A _L Be #Ä. ím BE A ĐỀ HỆ BỆ 7) Bề Kỹ Bổ EL Iñj ñ¿ #t Z. il — bị fH = AC A Eï ỦÀ.
BRN ah Ú —, ON lí A3 —.” Phiên âm: “Nguyên phù! Thanh trụ hoại không chi tứ hội, do xuân hạ thu đông chi tứ thời, chung nhi phục thuỷ vô cùng di da, cố thế giới sơ thành y cựu kiến lập, thánh nhân ứng hoá tuỳ cơ nhi thiết giáo chi, hoặc sinh vu trung châu biên dia, hoặc sinh vu thử giới tha phương, hoặc sinh vu tiền hậu viễn cận, nhi môn đình thi thiết bat đồng, cái lí thé sở đương nhiên đã, hoặc giáo di xuất sinh tử lộ, hoặc giáo di tu thân bảo chân, hoặc giáo di cương thường luân lý té gia trị quốc, hữu giáo đĩ sĩ nông công thương, hữu giáo dĩ xạ ngự thư số, hữu giáo dĩ kham dư phong lãm, hữu giáo dĩ bách công kĩ nghệ, cái thánh nhân tuỳ cơ tuỳ phương tuy thời tuỳ thế nhi thiết giáo chi. Đạo bản nhất quán hà hữu tam giáo nhi khả ngôn tai, vô đối giả vi nhất, hữu đối giả vi nhị.” Dịch nghĩa: “Vốn ôi! Bon thời kì Thanh, Trụ, Hoai, Không là do bốn mùa xuân hạ thu đông tạo nên, tới cuối đông rồi trở lại ban dau cứ thé vô cùng vô tận, cho nên thé giới mới thành lập xây dựng trên nên tang của cdi cũ, thánh nhân tuỳ cơ ứng hoá mà lập nên giáo phái, hoặc thánh nhân sinh ở vùng đất Trung Châu, hoặc sinh ở những nơi ngoài biên giới đó, hoặc sinh ở trước, sau, xa, gan, mà thiết lập giáo phái khác nhau. Đại khái đó là điều đương nhiên của lý thé vậy. Hoặc dạy người thoát khỏi con đường sinh tu, hoặc lấy việc tu thân bảo vệ cái chân thực để truyền dạy, hoặc lấy đạo luân ly cương thường tê gia trị quốc để truyén day.