Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Việt Nam học (mã số 62220113) của tác giả Nguyễn Đình Nghĩa, thực hiện tại Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội dưới sự hướng dẫn của GS.TS Trần Ngọc Vương và PGS.TS Nguyễn Thị Việt Thanh (bảo vệ năm 2021), mang tên: Vùng đất Lam Sơn - Tiếp cận từ các nguồn tư liệu văn học và văn hóa dân gian.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Những vùng đất phát tích của các triều đại phong kiến luôn là đối tượng nghiên cứu trọng điểm của giới học giả nhằm lý giải nguyên nhân hình thành và vai trò lịch sử của các vương triều. Trong lịch sử Việt Nam, nhà Lê Sơ là vương triều đầu tiên mà vị vua sáng lập (Lê Lợi) được chính sử ghi chép đầy đủ về gia phả, nguồn gốc họ hàng nội ngoại gắn liền với quê hương Lam Sơn. Vùng đất này vừa là căn cứ phát tích cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418–1427), vừa là đất thang mộc và kinh đô thứ hai (Lam Kinh) của triều Hậu Lê.

Trước đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu Lam Sơn từ các góc độ đơn ngành như sử học, văn hóa học, nhân học, dân tộc học hoặc văn học. Tuy nhiên, việc tiếp cận Lam Sơn như một không gian địa văn hóa, địa chính trị tổng thể thông qua phương pháp liên ngành của khu vực học vẫn chưa có kết quả đáng kể. Đặc biệt, quá trình các sự kiện, nhân vật và địa danh lịch sử Lam Sơn được khúc xạ, thiêng hóa và biểu tượng hóa qua lăng kính của văn học viết và văn hóa dân gian (folklore) vẫn còn là một khoảng trống khoa học cần được giải quyết.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm 2 điểm:

  1. Phục dựng một bức tranh mang tính biểu trưng về vùng đất Lam Sơn trên cơ sở các dữ kiện phản ánh trong nguồn tư liệu văn học và văn hóa dân gian Việt Nam, góp phần bổ sung thông tin và nhận thức về vùng đất này.
  2. Đóng góp thêm những tư liệu, bằng chứng và kiến giải học thuật đối với các nhiệm vụ đang đặt ra trong giới khoa học xã hội và nhân văn.

Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Sưu tầm và phân loại có hệ thống các nguồn tài liệu văn học và văn hóa dân gian liên quan đến vùng đất Lam Sơn.
  2. Chắt lọc, phân tích và khái quát hóa tư liệu nhằm xây dựng bức tranh tổng hợp phản ánh những đặc trưng cơ bản về lịch sử, con người và văn hóa vùng đất Lam Sơn thông qua hệ thống biểu tượng đặc trưng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Vùng đất Lam Sơn trên các chiều cạnh lịch sử, con người và văn hóa được phản ánh trong nguồn tư liệu văn học và văn hóa dân gian.
  • Phạm vi không gian: Tập trung chủ yếu vào không gian địa lý 4 huyện miền núi và trung du phía Tây tỉnh Thanh Hóa gồm Thọ Xuân, Thường Xuân, Ngọc Lặc, Lang Chánh (tổng diện tích 2.483,8 km²), với nhân tố lõi là Khu di tích Lam Kinh (xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân). Trong quá trình phân tích văn bản, phạm vi khảo sát được mở rộng liên hệ đến các địa bàn liên quan đến cuộc khởi nghĩa suốt từ Nghệ Tĩnh đến Lạng Sơn khi cần làm rõ mạch vận động của tư liệu.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát các tư liệu văn học và văn hóa dân gian từ thế kỷ XV đến nay, trong đó trọng tâm là các văn bản văn học chữ Hán giai đoạn trung đại (thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã điểm luận và phân loại các công trình nghiên cứu đi trước về Lam Sơn theo 4 góc độ chuyên ngành:

Góc độ tiếp cận Các công trình và tác giả tiêu biểu Đặc điểm và giới hạn của các nghiên cứu trước
Địa lý học lịch sử Dư địa chí (Nguyễn Trãi); Lịch triều hiến chương loại chí, Hoàng Việt dư địa chí (Phan Huy Chú); Hoàng Việt nhất thống dư địa chí (Lê Quang Định); Đại Việt địa dư toàn biên (Nguyễn Văn Siêu); Đại Nam nhất thống chí (Quốc sử quán triều Nguyễn); Địa chí Thanh Hóa, Tên làng xã Thanh Hóa. Khảo cứu Lam Sơn như một thực thể tự nhiên - hành chính thuần túy; chưa phân tích quá trình các địa danh được thiêng hóa trong tâm thức cộng đồng và văn học.
Sử học Đại Việt sử ký toàn thư (Ngô Sĩ Liên và sử thần triều Lê); Lam Sơn thực lục; Đại Việt thông sử (Lê Quý Đôn); Khởi nghĩa Lam Sơn (Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn); Vương triều Lê 1428–1527 (Nguyễn Quang Ngọc chủ biên); công trình của Takao Yao (Đại học Hiroshima). Tập trung vào sự kiện lịch sử, nhân vật, tiểu sử và diễn trình khởi nghĩa; chưa chú trọng quá trình nhân vật và sự kiện chuyển hóa thành biểu tượng nghệ thuật ngôn từ.
Văn hóa học Lễ tục, lễ hội truyền thống xứ Thanh (Hoàng Anh Nhân); Truyền thống các làng văn hóa Thọ Xuân (Hoàng Tùng); Thanh Hóa chư thần lục (Lê Xuân Kỳ, Hoàng Hùng, Thích Tâm Minh); luận án tiến sĩ của Hà Đình Hùng (2014); bài viết của Vương Anh, Hoàng Khôi, Mai Văn Tùng, Lê Thị Thanh Thủy. Nhận diện lễ hội, tục thờ cúng các nhân vật Hội thề Lũng Nhai, văn hóa chống ngoại xâm; tuy nhiên chưa đi sâu phân tích toàn diện diện mạo văn hóa tâm linh qua nguồn văn bản văn học.
Văn học Đất Lam Sơn, Lê Lợi con người và sự nghiệp, Lê Lợi, Nguyễn Trãi và đất Lam Sơn, Truyền thuyết và cổ tích Lam Sơn (Vũ Ngọc Khánh); Chủ nghĩa yêu nước trong văn học thời kỳ khởi nghĩa Lam Sơn (Bùi Văn Nguyên); Truyền thuyết Lam Sơn (Nguyễn Sơn Anh); nghiên cứu của Hoàng Tiến Tựu. Lấy tác phẩm văn học làm đối tượng nghiên cứu đơn lẻ để phân tích hình tượng nhân vật hoặc chủ nghĩa yêu nước; chưa xem văn học là nguồn tư liệu để giải mã toàn diện một không gian văn hóa - khu vực.

Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết

Luận án xác lập sự khác biệt căn bản: không coi văn học hay truyện kể dân gian là đối tượng phân tích thẩm mỹ đơn thuần, mà sử dụng chúng như một hệ thống nguồn tư liệu trung tâm. Bằng lăng kính liên ngành của khu vực học, luận án khảo sát vùng đất Lam Sơn ở 3 chiều cạnh:

  1. Chiều cạnh địa lý: Quá trình thiêng hóa vùng đất và các địa danh lịch sử.
  2. Chiều cạnh lịch sử: Sự hình thành hệ thống biểu tượng về cuộc khởi nghĩa và các nhân vật lịch sử.
  3. Chiều cạnh văn hóa: Đặc trưng văn hóa tâm linh, quá trình giao thoa văn hóa giữa các tộc người Kinh - Mường - Thái và diễn trình Nho hóa, Kinh hóa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung khái niệm

  1. Lý thuyết Khu vực học (Area Studies): Vận dụng quan điểm của Yumio Sakurai (khu vực là không gian tổng hợp các yếu tố tự nhiên và nhân văn tạo nên cảnh quan đặc trưng riêng) và Nguyễn Quang Ngọc (khu vực là một không gian xã hội - văn hóa có con người sinh sống và tương tác với môi trường tự nhiên). Luận án nhìn nhận Lam Sơn như một tiểu khu vực hoàn chỉnh trong hệ thống không gian văn hóa xứ Thanh và Đại Việt.
  2. Khái niệm "Cái thiêng" và "Không gian thiêng": Dựa trên lý thuyết của Émile Durkheim trong Những hình thức sơ đẳng của đời sống tôn giáo (sự phân chia thực tại thành hai phạm trù đối lập: cái thiêng và cái thế tục) cùng quan niệm của Đỗ Quang Hưng về không gian thiêng được tạo dựng bởi đời sống tôn giáo tín ngưỡng cộng đồng.
  3. Khái niệm "Biểu tượng" và "Hệ biểu tượng": Tiếp thu quan niệm từ các công trình biểu tượng học của Ernst Cassirer, Charles Peirce, Yuri Lotman, Tzvetan Todorov, Sigmund Freud, Carl Jung, Jacques Lacan, Jean Chevalier và Alain Gheerbrant. Luận án chia biểu tượng thành ba hệ thống: tự nhiên, con người và văn hóa cộng đồng, đồng thời phân tích thao tác cấp mã nghệ thuật của nhà văn đối với các mẫu gốc văn hóa.
  4. Khái niệm "Văn hóa" và "Văn hóa tâm linh": Sử dụng định nghĩa văn hóa của UNESCO (2002), Hồ Chí Minh, cấu trúc ba thế giới (thực tại, ý niệm, biểu tượng) của Phạm Đức Dương và quan điểm về văn hóa tâm linh của Nguyễn Đăng Duy, Trần Đình Sử, Đặng Văn Bài.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp khu vực học và tiếp cận liên ngành: Kết hợp đồng thời các thao tác của văn học sử, nghiên cứu văn hóa dân gian (folklore), hồi cố, phân tích sử học và phân tích văn hóa học.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Khái quát hóa các đặc trưng bản sắc của vùng đất dựa trên dữ liệu văn bản và thực địa.
  • Phương pháp so sánh - đối chiếu: Chuẩn hóa thông tin giữa các văn bản chữ Hán nguyên tác và bản dịch tiếng Việt, đối chiếu sử liệu chính thống với gia phả, thần phả, bia ký và truyền thuyết.
  • Phương pháp hệ thống - cấu trúc: Khảo sát không gian Lam Sơn như một chỉnh thể đa thành tố (địa lý, lịch sử, văn hóa, tộc người) và phân tích mối liên hệ liên vùng.
  • Phương pháp điền dã thực địa: Tác giả đã tiến hành 5 đợt khảo sát thực tế tại các huyện Thọ Xuân, Thường Xuân, Ngọc Lặc, Lang Chánh nhằm phỏng vấn cư dân bản địa, khảo sát di tích và kiểm chứng các dữ kiện ghi chép trong thư tịch cổ.

Cơ sở nguồn tư liệu

TỔNG THỂ NGUỒN TƯ LIỆU LUẬN ÁN KHẢO SÁT

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề, cơ sở lý thuyết, địa bàn nghiên cứu và cơ sở tư liệu

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu từ bốn hướng tiếp cận (địa lý, lịch sử, văn hóa, văn học) và xác lập khung lý thuyết khu vực học cùng hệ thống khái niệm công cụ.

Về địa bàn nghiên cứu, luận án xác định vùng đất Lam Sơn có diện tích 2.483,8 km², nằm ở vị trí cửa ngõ chuyển tiếp giữa đồng bằng và trung du miền núi Thanh Hóa, mang tính chuyển tiếp rõ nét về địa hình, địa văn hóa, địa lịch sử và địa ngôn ngữ. Vùng đất có mạng lưới thủy văn dày đặc gồm sông Chu, sông Cầu Chày, sông Âm, và địa hình hiểm trở với dãy Pù Ring (núi Chí Linh). Về dân cư, đây là địa bàn cộng cư lâu đời của 7 dân tộc: Kinh, Mường, Thái, Dao, Thổ, H'Mông, Khơ Mú, trong đó trục quan hệ Việt - Mường - Thái đóng vai trò cốt lõi. Sự chuyển biến dân cư được luận án theo dõi từ thế kỷ X, qua giai đoạn khai hoang thời Lê Sơ, biến động thời Trịnh - Mạc thế kỷ XVI, đến các đợt di dân lập đồn điền và xây dựng công trình thủy lợi Bái Thượng thời thuộc Pháp. Chương này cũng phân loại chi tiết 144 truyện dân gian, 4 văn bản hội thề, 15 bài phú, 40 bài thơ và hệ thống văn bia phục vụ các chương sau.

Chương 2: Lam Sơn - một vùng đất thiêng qua nguồn tư liệu văn học

Chương 2 tập trung phân tích tiến trình thiêng hóa không gian Lam Sơn từ hai góc độ: truyền thống suy nguyên vương quyền và sự phản ánh qua văn bản văn học.

  1. Đất phát tích của triều đại qua hai lần thịnh trị: Khác với các triều đại trước trong lịch sử Việt Nam (nhà Triệu mờ nhạt về gốc tích; Ngô Quyền chưa xác định rõ vị trí Đường Lâm; nhà Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần có những khoảng mờ hoặc từ chối nhận tông phả), nhà Lê Sơ là vương triều đầu tiên có nguồn gốc phát tích rõ ràng từ Lê Hối chuyển đến định cư tại Lam Sơn, được chính sử và Lam Sơn thực lục ghi chép rành mạch về phong thủy (mộ Phật Hoàng, thế đất quả quốc ấn). Lam Sơn trở thành đất thang mộc qua hai thời kỳ: Lê Sơ thế kỷ XV và trung hưng thế kỷ XVI–XVII.
  2. Cái thiêng trong văn học thành văn: Văn học nhà Nho, văn thơ của các vị hoàng đế (bài Phú núi Chí Linh của Nguyễn Trãi, Lam Sơn Lương thủy phú của Lê Thánh Tông, các sáng tác của Hội Tao Đàn) và thơ văn của các sĩ phu, chí sĩ yêu nước (Phùng Khắc Khoan, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Sĩ, Phan Bội Châu, Đặng Nguyên Cẩn...) đã liên tục tái hiện Lam Sơn như một biểu tượng "địa linh nhân kiệt", vùng đất hội tụ linh khí non sông.
  3. Cái thiêng qua truyện kể dân gian: 144 truyện kể dân gian đã thiêng hóa không gian địa lý thông qua hai nhóm địa danh:
    • Các địa danh gắn với yếu tố huyền bí, mộng báo, cứu nạn (núi Chí Linh, núi Dầu, núi Mục, hang Bàn Bù, thác Ma Hao).
    • Hệ thống vi địa danh do Lê Lợi đặt tên hoặc do dân gian đặt tên ghi dấu từng chặng đường nghĩa quân hoạt động (suối Rượu, suối Lá, làng Chăm, đồi Thiết Đột).

Chương 3: Lam Sơn - một hệ biểu tượng trong tác phẩm nghệ thuật ngôn từ

Chương 3 đi sâu giải mã cấu trúc biểu tượng nghệ thuật trong văn học viết và văn học dân gian về Lam Sơn:

  1. Biểu tượng cuộc khởi nghĩa Lam Sơn: Cuộc khởi nghĩa được biểu tượng hóa thành đỉnh cao của tinh thần đoàn kết toàn dân (khối liên minh Việt - Mường - Thái qua Hội thề Lũng Nhai) và tính chính nghĩa tối cao theo học thuyết Nho giáo (tư tưởng nhân nghĩa "đem đại nghĩa để thắng hung tàn" trong Bình Ngô đại cáo).
  2. Hệ biểu tượng về các nhân vật lịch sử:
    • Người anh hùng sáng nghiệp và nhân cách hoàng đế Nho giáo: Hình tượng Lê Lợi từ vị "Lam Sơn động chủ" sống hòa mình nơi hoang dã trở thành bậc minh quân tập hợp hào kiệt, hội tụ đầy đủ đức nhân, trí, dũng.
    • Người trí thức Nho sĩ - văn thần: Biểu tượng Nguyễn Trãi, Lê Văn Linh, Trình Thuấn Du... đại diện cho trí tuệ, tài năng mưu lược và văn hóa Đại Việt.
    • Các võ tướng - trung thần: Biểu tượng lòng trung quân ái quốc xả thân vì đại cuộc, tiêu biểu là sự tích Lê Lai liều mình cứu chúa, tướng Trịnh Khả, Nguyễn Chích.
    • Liệt nữ anh hùng và quần chúng nhân dân: Hình tượng người phụ nữ bán chè, cô gái Mường giấu quân, và tập thể nhân dân tiếp tế lương thảo.
  3. Lam Sơn - Biểu tượng vương triều và tinh thần yêu nước: Địa danh Lam Sơn vượt ra ngoài phạm vi địa lý đơn thuần để trở thành biểu tượng trung tâm của ý chí quật cường chống ngoại xâm trong văn học các thời kỳ sau (thơ Cần Vương, Đông Kinh Nghĩa Thục, phong trào Đông Du và văn học cách mạng).

Chương 4: Lam Sơn - một vùng văn hóa tâm linh đặc sắc

Chương 4 khảo sát các biểu hiện cụ thể của văn hóa tâm linh vùng Lam Sơn qua nguồn ngữ văn và thực hành văn hóa:

  1. Yếu tố tâm linh trong văn học: Phân tích các mô-típ mộng báo, điềm báo thần linh mách bảo, hiện tượng linh ứng, thuật xem tướng số và tri thức phong thủy địa lý được ghi chép trong Lam Sơn thực lục, truyện truyền kỳ và thơ phú trung đại.
  2. Yếu tố tâm linh qua loại hình văn hóa thực hành:
    • Tín ngưỡng, tập tục: Khảo sát tục thờ thần tự nhiên kết hợp thờ thành hoàng, anh hùng lịch sử; các kiêng kỵ và tập tục sinh hoạt của đồng bào Mường, Thái gắn với ký ức về nghĩa quân Lam Sơn.
    • Không gian kiến trúc tâm linh: Quần thể kiến trúc điện, lăng tẩm Lam Kinh (Vĩnh Lăng của Lê Thái Tổ, Thiệu Lăng của Lê Thánh Tông), hệ thống đền miếu thờ công thần Lũng Nhai trải rộng tại các làng xã xứ Thanh.
    • Không gian lễ hội và diễn xướng dân gian: Quy mô lễ hội Lam Kinh, các trò diễn dân gian (trò Xuân Phả, múa Pồn Pôông, các diễn xướng ca ngợi vua Lê) thể hiện sự dung hợp, tiếp biến giữa văn hóa cung đình và văn hóa dân gian bản địa.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án là công trình thể nghiệm hướng tiếp cận của khu vực học đối với một không gian lịch sử - văn hóa cụ thể. Thay vì tiếp cận thuần túy qua các dữ kiện lịch sử - xã hội thực chứng, tác giả tiếp cận thông qua lăng kính cảm nhận của giới trí thức và nhân dân thể hiện bằng các biểu tượng văn chương, huyền thoại và loại hình văn hóa dân gian.
  2. Xác lập khung thao tác liên ngành (kết hợp khu vực học, văn học sử, biểu tượng học và văn hóa học) để giải mã tiến trình thiêng hóa và biểu tượng hóa địa danh, nhân vật lịch sử.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Thống kê, phân loại và hệ thống hóa được khối tư liệu đồ sộ gồm 144 truyện kể dân gian, 4 văn bản hội thề, 15 bài phú, 40 bài thơ trung - cận - hiện đại và hệ thống văn bia, địa chí liên quan trực tiếp đến Lam Sơn.
  2. Làm sáng tỏ đặc trưng văn hóa tâm linh vùng Lam Sơn với tư cách là kết quả của quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa sâu sắc giữa người Việt, người Mường và người Thái, chỉ ra diện mạo của quá trình Nho hóa và Kinh hóa tại vùng chuyển tiếp Tây Thanh Hóa.
  3. Cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở tư liệu phục vụ việc biên soạn địa chí địa phương, giảng dạy chuyên đề khu vực học/Việt Nam học và hỗ trợ công tác quy hoạch, bảo tồn không gian di sản văn hóa Lam Kinh.

Kiến nghị đề xuất

  • Đề xuất các cơ quan quản lý văn hóa địa phương tại Thanh Hóa cần bảo tồn di sản Lam Sơn theo hướng tiếp cận "không gian văn hóa tổng thể", gắn kết di tích Lam Kinh với hệ thống di tích vệ tinh tại 4 huyện Thọ Xuân, Thường Xuân, Ngọc Lặc, Lang Chánh.
  • Tăng cường khai thác nguồn tư liệu văn học và diễn xướng dân gian vào hoạt động thuyết minh di sản và phát triển du lịch văn hóa bền vững.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  1. Phạm vi không gian: Trọng tâm khảo sát tập trung chủ yếu vào 4 huyện thuộc vùng núi và trung du Thanh Hóa, chưa thể bao quát toàn bộ các địa bàn hoạt động mở rộng của nghĩa quân Lam Sơn tại Nghệ An, Hà Tĩnh hay vùng đồng bằng Bắc Bộ.
  2. Nguồn ngữ liệu: Khai thác chủ yếu nguồn tư liệu Hán Nôm trung đại và văn hóa dân gian bản địa; việc tiếp cận các nguồn tư liệu lưu trữ của nước ngoài (như tư liệu Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp, các nghiên cứu gia phả văn bia của học giả Nhật Bản, Trung Quốc) còn ở mức độ kế thừa tổng thuật, chưa đối chiếu toàn diện tại thực địa quốc tế.

Hướng nghiên cứu tiếp

  1. Mở rộng nghiên cứu so sánh khu vực học giữa không gian văn hóa Lam Sơn với các không gian phát tích vương quyền khác ở Việt Nam (như Hoa Lư của nhà Đinh - Tiền Lê, Cổ Pháp của nhà Lý, Thiên Trường - Tức Mặc của nhà Trần).
  2. Nghiên cứu sâu hơn về sự biến đổi của hệ thống biểu tượng Lam Sơn trong văn học hiện đại và đương đại.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng sau:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Chuyên ngành Việt Nam học, Khu vực học, Văn học Việt Nam trung đại, Văn hóa học, Dân tộc học và Lịch sử Việt Nam. Phần cơ sở lý thuyết (Chương 1) và giải mã biểu tượng ngôn từ (Chương 3) là tài liệu mẫu mực về thao tác nghiên cứu liên ngành.
  • Nhà nghiên cứu địa phương và nhà biên soạn địa chí: Nguồn tư liệu 144 truyện dân gian và hệ thống văn bia, vi địa danh tại Chương 1 và Chương 2 cung cấp cứ liệu xác thực phục vụ biên soạn địa chí các huyện Thọ Xuân, Ngọc Lặc, Lang Chánh, Thường Xuân.
  • Cán bộ quản lý văn hóa, bảo tồn di sản: Các phân tích về không gian kiến trúc tâm linh, lễ hội và diễn xướng dân gian (Chương 4) giúp định hướng công tác bảo tồn quần thể di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định phạm vi không gian vùng đất Lam Sơn bao gồm những địa bàn nào?

Luận án xác định vùng đất Lam Sơn có diện tích 2.483,8 km², nằm trong địa phận 4 huyện: Thọ Xuân, Thường Xuân, Ngọc Lặc, Lang Chánh (tỉnh Thanh Hóa), với nhân tố trung tâm là Khu di tích Lam Kinh tại xã Xuân Lam, thị trấn Thọ Xuân. Đây là không gian gắn liền với địa bàn hoạt động của nghĩa quân Lam Sơn giai đoạn 1416–1423 và là nơi cộng cư của khối cư dân Việt - Mường - Thái.

2. Nguồn tư liệu chính được luận án thu thập và xử lý gồm những loại hình nào?

Nguồn tư liệu gồm hai bộ phận chính:

  • Tư liệu văn hóa dân gian: 144 truyện kể dân gian về Lam Sơn thu thập từ các tuyển tập và khảo sát thực địa.
  • Tư liệu văn học viết: 4 văn bản hội thề (Lũng Nhai, Chí Linh, văn thề tướng lĩnh, Đông Quan); tác phẩm Lam Sơn thực lục; Bình Ngô đại cáo; 15 bài phú thời trung đại (tiêu biểu như Lam Sơn Lương thủy phú của Lê Thánh Tông); 40 bài thơ từ thế kỷ XV đến trước năm 1945; cùng hệ thống văn bia, thư từ trong Quân trung từ mệnh tập.

3. Tại sao tác giả khẳng định việc truy nguyên nguồn gốc nhà Lê ở Lam Sơn tạo nên vị thế đặc biệt so với các triều đại trước?

Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, các triều đại trước thời Lê Sơ thường có nguồn gốc phát tích chưa rõ ràng hoặc bị nhòe mờ trong sử liệu (như nhà Triệu, nhà Ngô tại Đường Lâm, nhà Đinh, Tiền Lê, hoặc sự kiện nhà Lý từ chối nhận gia phả từ phương Bắc). Nhà Lê Sơ là vương triều đầu tiên mà vị vua sáng lập (Lê Lợi) được chính sử và gia phả ghi chép chi tiết từ đời cụ tổ (Lê Hối dời đến Lam Sơn) cùng hệ thống phong thủy mộ táng rành mạch, biến Lam Sơn thành vùng đất phát tích chính thống duy nhất kéo dài qua hai thời kỳ thịnh trị (Lê Sơ và Lê Trung Hưng).

4. Luận án đã giải mã những hệ biểu tượng nhân vật lịch sử nào trong văn học Lam Sơn?

Luận án phân tích hệ biểu tượng nhân vật lịch sử gồm 4 nhóm:

  • Biểu tượng người anh hùng sáng nghiệp và nhân cách hoàng đế Nho giáo (Lê Lợi).
  • Biểu tượng người trí thức Nho sĩ - văn thần (Nguyễn Trãi, Lê Văn Linh, Trình Thuấn Du...).
  • Biểu tượng các võ tướng - trung thần xả thân vì đại nghĩa (Lê Lai, Trịnh Khả, Nguyễn Chích...).
  • Biểu tượng người liệt nữ anh hùng và quần chúng nhân dân tham gia kháng chiến.

5. Những yếu tố nào cấu thành nét đặc sắc của văn hóa tâm linh vùng Lam Sơn theo kết quả nghiên cứu?

Văn hóa tâm linh vùng Lam Sơn được cấu thành từ: các yếu tố mộng báo, điềm báo, thuật phong thủy tướng số trong văn học; hệ thống tín ngưỡng thờ cúng các nhân vật Hội thề Lũng Nhai; không gian kiến trúc lăng tẩm điện miếu Lam Kinh; cùng các hình thức lễ hội, diễn xướng dân gian (trò Xuân Phả, múa Pồn Pôông) phản ánh sự tiếp biến văn hóa sâu sắc giữa văn hóa cung đình Nho giáo và văn hóa bản địa của ba dân tộc Kinh - Mường - Thái.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Đình Nghĩa đã thực hiện việc tiếp cận vùng đất Lam Sơn từ góc độ khu vực học liên ngành, sử dụng hệ thống tư liệu văn học chữ Hán trung đại và văn hóa dân gian làm nguồn ngữ liệu trung tâm. Công trình đã phục dựng thành công bức tranh toàn diện về Lam Sơn trên ba bình diện: tiến trình thiêng hóa không gian địa lý, hệ thống biểu tượng nghệ thuật ngôn từ về cuộc khởi nghĩa, và diện mạo vùng văn hóa tâm linh đặc sắc của khối cộng cư Việt - Mường - Thái. Kết quả nghiên cứu không chỉ giải quyết một khoảng trống học thuật về không gian lịch sử - văn hóa xứ Thanh mà còn cung cấp hệ thống tư liệu, phương pháp luận giá trị cho các nghiên cứu tiếp theo về Việt Nam học và bảo tồn di sản dân tộc.