Tổng quan nghiên cứu
Quá trình phát triển kinh tế và đô thị hóa tại vùng Đông Nam Bộ sau cột mốc tách tỉnh Sông Bé năm 1997 đã tạo tiền đề quan trọng thúc đẩy sự giao lưu văn hóa sâu sắc giữa các cộng đồng tộc người. Trên địa bàn tỉnh Bình Dương, cộng đồng người Chăm định cư từ cuối thập niên 1970 với quy mô 125 hộ gia đình và 550 nhân khẩu đã tạo nên một không gian văn hóa đặc sắc, đan xen hài hòa cùng cộng đồng người Việt bản địa. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là nhận diện, hệ thống hóa và phân tích các chiều kích giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa người Việt và người Chăm trong giai đoạn 20 năm phát triển từ năm 1997 đến năm 2016.
Mục tiêu cụ thể của công trình nhằm làm rõ cơ sở lịch sử hình thành cộng đồng người Chăm tại địa phương, khảo sát toàn diện các biểu hiện tiếp biến trong đời sống vật chất, tinh thần và quan hệ xã hội, từ đó đúc kết những giá trị đóng góp của mối quan hệ này đối với nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng. Phạm vi không gian nghiên cứu tập trung tại hai địa bàn cư trú trọng điểm gồm ấp Hòa Lộc thuộc xã Minh Hòa, huyện Dầu Tiếng với 110 hộ (495 nhân khẩu) và khu vực phường Bình An, Dĩ An thuộc thị xã Dĩ An với 15 hộ (55 nhân khẩu). Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài được thể hiện qua việc cung cấp luận cứ xác thực giúp chính quyền địa phương nâng cao hiệu quả bảo tồn 100% di sản văn hóa phi vật thể của đồng bào thiểu số, đồng thời đóng góp trực tiếp vào mục tiêu giảm nghèo bền vững, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở đạt chuẩn nông thôn mới cho 100% gia đình người Chăm trên địa bàn tỉnh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng lý thuyết giao lưu văn hóa và tiếp biến văn hóa hai chiều của các nhà nghiên cứu văn hóa học và nhân học tiêu biểu, trong đó nhấn mạnh quan điểm của Giáo sư Trần Quốc Vượng về mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố nội sinh và ngoại sinh khi các tộc người cùng cộng cư. Nền tảng lý luận còn kế thừa định nghĩa văn hóa học kinh điển của Edward B. Tylor từ năm 1871 xem văn hóa là tổng thể phức hợp gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, luật pháp, phong tục, cùng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1942 về văn hóa như phương thức sinh tồn của con người.
Khung phân tích của luận văn xoay quanh 5 khái niệm then chốt: văn hóa và văn minh, tiếp xúc văn hóa, giao lưu văn hóa, tiếp biến văn hóa, cộng đồng và tộc người. Luận văn phân định rành mạch giữa khái niệm quốc gia dân tộc mang tính chính trị - pháp lý và khái niệm tộc người gắn liền với bản sắc tự giác, tiếng nói, phong tục tập quán. Mô hình nghiên cứu tiếp cận văn hóa Chăm tại Bình Dương như một tiểu hệ thống văn hóa tộc người đang vận động tích cực trong dòng chảy văn hóa quốc gia, nơi quá trình tiếp nhận các giá trị văn hóa người Việt diễn ra song hành với ý thức tự giác bảo tồn bản sắc truyền thống.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu nghiên cứu được thu thập toàn diện từ 8 cơ quan ban ngành chuyên trách tại tỉnh Bình Dương bao gồm Ban Dân tộc và Tôn giáo, Phòng Văn hóa Thông tin, Trung tâm Khuyến nông, Phòng Giáo dục và Đào tạo, Ngân hàng Chính sách Xã hội, kết hợp cùng tư liệu thành văn trong 2278 công trình nghiên cứu lịch sử văn hóa Chăm Pa. Cỡ mẫu khảo sát thực địa được thực hiện trực tiếp trên 125 hộ gia đình Chăm tại huyện Dầu Tiếng và thị xã Dĩ An trong khung thời gian 20 năm từ năm 1997 đến năm 2016.
Phương pháp chọn mẫu là sự kết hợp giữa chọn mẫu phân tầng theo địa bàn hành chính và chọn mẫu chỉ định phỏng vấn sâu đối với các nhân vật uy tín như các vị Tôn mẫu, tộc trưởng, ban quản trị 3 thánh đường Hồi giáo Islam và các nghệ nhân dân gian. Luận văn lựa chọn phối hợp hai phương pháp chuyên ngành cốt lõi là phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích này xuất phát từ yêu cầu phục dựng chính xác tiến trình biến đổi văn hóa theo trình tự thời gian khách quan, đồng thời khái quát hóa bản chất các quy luật tiếp biến văn hóa xã hội mà không làm mất đi tính chân thực của đời sống tộc người.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, luận văn phát hiện sự biến đổi mang tính toàn diện trong văn hóa tổ chức đời sống cá nhân và hệ thống họ tên. Toàn bộ 100% người Chăm tại Bình Dương ngày nay đều mang các họ phổ biến như Nguyễn, Thành, Báo, Bá, Phú, Lộ, Thuận, Thông, Quách vốn được tiếp nhận từ thời vua Minh Mạng năm 1832, thay thế hoàn toàn tập quán không mang họ hoặc chỉ có 4 họ hoàng tộc thời cổ đại. Tên gọi cá nhân của thế hệ trẻ Chăm hiện nay có tỷ lệ tương đồng trên 95% với cách đặt tên của người Việt nhằm tạo sự thuận lợi trong học tập và công tác xã hội.
Thứ hai, quá trình cộng cư đã tạo ra sự dung hợp sâu sắc trong các nghi lễ vòng đời. Điển hình là tập tục kiêng cữ 30 ngày sau sinh bằng phương pháp xông hơ than lửa, lễ cúng mụ đầy tháng với lễ vật gà luộc, xôi chè và quy trình hôn lễ 3 bước gồm dạm ngõ, ăn hỏi, lễ cưới với sính lễ bắt buộc là trầu cau và rượu đều tương đồng trên 90% giữa hai cộng đồng.
Thứ ba, lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn ghi nhận sự giao thoa phong phú giữa kho tàng 85 lễ hội, 125 vị thần linh và 76 điệu trống lễ của người Chăm với các làn điệu dân ca Việt. Các nhạc cụ truyền thống như đàn Kanhi có cấu tạo tương đồng đàn nhị, đàn Rabắp Katoh tương đồng đàn bầu, và chiếc trống cơm của người Việt vốn có cội nguồn từ âm nhạc Chiêm Thành cổ đại. Dân ca trữ tình đối đáp DohDam Dara của người Chăm có kết cấu vần luật tương đồng tuyệt đối với thể thơ lục bát truyền thống của người Việt.
Thứ tư, mô hình phân công lao động xã hội thể hiện tính tương hỗ kinh tế rõ rệt. Khoảng 90% hộ gia đình người Chăm tại ấp Hòa Lộc chuyên canh cây công nghiệp như cao su, điều, tiêu và chăn nuôi gia súc, trong khi cộng đồng người Việt đảm nhận khâu cung cấp rau màu tươi sống, dịch vụ thương mại và hỗ trợ kỹ thuật thu hoạch, tạo nên chuỗi liên kết kinh tế khép kín đạt hiệu quả cao.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự tiếp biến văn hóa diễn ra thuận lợi tại Bình Dương xuất phát từ bản chất hiền hòa của hai cộng đồng cư dân nông nghiệp, tính cởi mở của văn hóa Nam Bộ và các chính sách dân tộc đúng đắn của Đảng bộ, chính quyền tỉnh Bình Dương từ năm 1997 đến năm 2016. Khi so sánh với các cộng đồng Chăm tại Ninh Thuận hay An Giang, người Chăm tại Bình Dương hòa nhập nhanh hơn vào nhịp sống công nghiệp hiện đại nhưng vẫn duy trì vững chắc chế độ gia đình mẫu hệ dưới sự điều hành của người phụ nữ lớn tuổi và các luật tục cộng đồng.
Những kết quả định lượng về chuyển dịch sinh kế và tiếp biến văn hóa trong nghiên cứu này có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ cột so sánh cơ cấu kinh tế giữa nông nghiệp truyền thống chiếm 75% và dịch vụ thương mại chiếm 25%, kết hợp cùng bảng ma trận đối chiếu 5 tiêu chí tiếp biến gồm họ tên, ngôn ngữ giao tiếp, trang phục, nghi lễ vòng đời và nghệ thuật âm nhạc. Sự tương tác hai chiều này khẳng định luận điểm khoa học rằng văn hóa Chăm không hề bị đồng hóa mà luôn tiếp biến chủ động, làm giàu thêm cho bức tranh văn hóa đa dạng của tỉnh Bình Dương.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, ban hành và chuẩn hóa chương trình bảo tồn văn hóa Chăm giai đoạn 2020 - 2025 với mục tiêu số hóa 100% các tư liệu văn học dân gian, 76 điệu trống lễ và phục dựng nguyên bản các nghi thức lễ hội Katê, Roya, Ramadan. Cơ quan chủ trì thực hiện là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương phối hợp cùng Ủy ban nhân dân huyện Dầu Tiếng.
Thứ hai, cấp vốn ưu đãi và chuyển giao kỹ thuật sản xuất nông nghiệp công nghệ cao cho 125 hộ gia đình Chăm tại ấp Hòa Lộc và thị xã Dĩ An. Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh cùng Trung tâm Khuyến nông cần nâng định mức giải ngân thêm 40% đến 50% trong giai đoạn 2021 - 2025 nhằm hỗ trợ tái canh vườn cao su và khôi phục các nghề thủ công truyền thống như dệt thổ cẩm, làm gốm mỹ nghệ.
Thứ ba, đẩy mạnh chính sách giáo dục và đào tạo nghề với chỉ tiêu đạt trên 85% lao động trẻ người Chăm có chứng chỉ nghề hoặc bằng đại học trước năm 2030. Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm triển khai các lớp học tiếng nói, chữ viết Chăm song song với chương trình giáo dục phổ thông.
Thứ tư, tôn tạo và phát triển không gian văn hóa gắn với 3 thánh đường Hồi giáo Islam tại xã Minh Hòa, phường Bình An và phường Dĩ An thành các điểm đến du lịch văn hóa cộng đồng. Ban Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Bình Dương chủ trì phối hợp cùng các tổ chức tôn giáo địa phương nhằm xây dựng quy chế quản lý di tích, nâng cao thu nhập du lịch cho cư dân bản địa từ năm 2022 trở đi.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhóm 1: Các nhà nghiên cứu lịch sử, dân tộc học và nhân học văn hóa. Luận văn cung cấp nguồn tư liệu khảo cứu thực địa chuyên sâu về cộng đồng Chăm Đông Nam Bộ với chuỗi số liệu trải dài 20 năm từ năm 1997 đến năm 2016, hỗ trợ phân tích quy luật tiếp biến văn hóa vùng.
Nhóm 2: Cán bộ quản lý nhà nước phụ trách công tác dân tộc, tôn giáo và văn hóa tư tưởng tại tỉnh Bình Dương. Luận văn là căn cứ thực tiễn giúp đánh giá hiệu quả chính sách cho 110 hộ dân tại Minh Hòa và 15 hộ dân tại Dĩ An để xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội phù hợp.
Nhóm 3: Giảng viên và sinh viên các trường đại học, cao đẳng chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Việt Nam học, Văn hóa học. Tài liệu là giáo trình tham khảo giá trị cho các học phần lịch sử địa phương và chuyên đề văn hóa các tộc người thiểu số tại Trường Đại học Thủ Dầu Một.
Nhóm 4: Các nhà hoạch định sản phẩm du lịch, doanh nghiệp lữ hành và tổ chức bảo tồn di sản. Công trình định hướng cách thức khai thác giá trị văn hóa phi vật thể của 85 lễ hội và làng nghề truyền thống Chăm phục vụ phát triển du lịch bền vững.
Câu hỏi thường gặp
Cộng đồng người Chăm tại Bình Dương định cư từ thời gian nào và phân bố ở đâu?
Cộng đồng người Chăm đến lập nghiệp tại Bình Dương từ cuối thập niên 1970 sau ngày giải phóng. Dân cư phân bố tập trung chủ yếu tại ấp Hòa Lộc, xã Minh Hòa, huyện Dầu Tiếng với 110 hộ gia đình (495 nhân khẩu) và một bộ phận nhỏ gồm 15 hộ gia đình (55 nhân khẩu) sinh sống tại phường Bình An và Dĩ An thuộc thị xã Dĩ An.
Tôn giáo của người Chăm ở Bình Dương có điểm gì khác biệt so với các vùng khác?
Người Chăm tại Bình Dương thực hành tín ngưỡng Hồi giáo Islam chính thống du nhập từ cuối thập niên 1970, khác với cộng đồng Chăm Bàlamôn hay Chăm Bàni ở Ninh Thuận và Bình Thuận. Sinh hoạt tôn giáo của cộng đồng gắn liền với hệ thống 3 thánh đường tọa lạc tại xã Minh Hòa, phường Bình An và phường Dĩ An.
Quá trình tiếp biến họ tên của người Chăm tại địa phương diễn ra như thế nào?
Người Chăm vốn không có họ mà chỉ có tên riêng hoặc 4 họ hoàng tộc cổ xưa. Sau các chính sách cải cách hành chính thời vua Minh Mạng từ năm 1832, người Chăm đã tiếp nhận các họ người Việt như Nguyễn, Thành, Báo, Bá, Phú, Lộ, Thông và đặt tên con cháu theo âm Hán Việt để thuận tiện học tập và hòa nhập xã hội.
Những điểm tương đồng tiêu biểu trong tập quán sinh nở giữa người Chăm và người Việt là gì?
Phụ nữ Chăm và phụ nữ Việt đều duy trì tục xông hơ than lửa trong 30 ngày sau sinh, kiêng ăn thức ăn lạnh và tổ chức lễ cúng mụ đầy tháng cho trẻ sơ sinh với lễ vật gồm gà luộc, xôi chè để tạ ơn thần linh và báo cáo gia tiên về thành viên mới trong gia đình.
Âm nhạc truyền thống Chăm có những nhạc cụ nào tương đồng với âm nhạc người Việt?
Hai dân tộc có nhiều nhạc cụ tương đồng như chiếc trống cơm trong dàn đại nhạc cung đình có nguồn gốc từ Chăm Pa, đàn Kanhi có cấu tạo tương tự đàn nhị của người Việt nhưng hộp đàn làm bằng mai rùa, và đàn Rabắp Katoh có chức năng gảy tình ca tương đồng với đàn bầu.
Kết luận
- Luận văn đã phục dựng toàn diện bức tranh lịch sử và diện mạo văn hóa của 125 hộ gia đình người Chăm tại tỉnh Bình Dương trong giai đoạn 20 năm từ năm 1997 đến năm 2016.
- Làm sáng tỏ các biểu hiện tiếp biến văn hóa sâu sắc trên mọi phương diện từ đời sống cá nhân, hôn nhân tang chế, hệ thống họ tên cho đến nghệ thuật biểu diễn dân gian với 76 điệu trống lễ đặc sắc.
- Khẳng định mối quan hệ tương hỗ kinh tế - xã hội bền chặt giữa người Việt và người Chăm, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc tại địa bàn huyện Dầu Tiếng và thị xã Dĩ An.
- Đóng góp nguồn cứ liệu khoa học và tư liệu điền dã phong phú phục vụ công tác giảng dạy lịch sử địa phương và định hướng chính sách an sinh xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số.
- Đề xuất lộ trình 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo lên trên 85% và bảo tồn 100% di sản phi vật thể truyền thống hướng đến cột mốc năm 2030.
Công trình nghiên cứu là tài liệu tham khảo thiết thực dành cho các nhà nghiên cứu, cán bộ quản lý văn hóa và độc giả quan tâm đến lịch sử tộc người. Hãy cùng khai thác, ứng dụng các giá trị nghiên cứu của luận văn để chung tay bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc anh em trong thời kỳ hội nhập.