Tổng quan nghiên cứu

Miền Đông Cao Bằng là khu vực biên viễn sở hữu vị trí địa chính trị và kinh tế đặc biệt quan trọng ở vùng Đông Bắc Việt Nam, với đường biên giới tiếp giáp tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc dài hơn 333 km. Nằm trên tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh khoảng 6.703,42 km2, địa bàn miền Đông gồm ba huyện cốt lõi là Trùng Khánh, Quảng Hòa và Hạ Lang. Đây là không gian sinh tồn lâu đời của cộng đồng các dân tộc Tày, Nùng, Kinh, Dao và Mông, trong đó đồng bào Tày và Nùng chiếm tỷ lệ đa số với 13 nhóm địa phương cùng sinh sống xen cài.

Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu là phục dựng toàn diện diện mạo, cơ chế vận hành và tính chất đa chức năng của mạng lưới chợ nông thôn miền Đông Cao Bằng trong giai đoạn lịch sử trước năm 1945. Dưới tác động kép của phương thức sản xuất phong kiến bản địa và chính sách cai trị thuộc địa của thực dân Pháp, hệ thống thương mại vùng cao đã diễn ra nhiều biến đổi sâu sắc. Đề tài tập trung làm rõ điều kiện tự nhiên, bối cảnh hành chính lịch sử, quá trình hình thành các điểm chợ phiên, phương thức giao thương tiểu ngạch qua biên giới và vai trò trung tâm của chợ trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội.

Ý nghĩa học thuật của đề tài thể hiện ở việc lấp đầy khoảng trống tư liệu lịch sử kinh tế địa phương thời kỳ cận đại. Nghiên cứu khảo sát trên 10 chợ phiên truyền thống tiêu biểu, kết nối không gian giao thương của hơn 50 làng xã cổ, qua đó chứng minh rằng mạng lưới chợ nông thôn không chỉ đơn thuần là trạm luân chuyển hàng hóa mà còn là thiết chế văn hóa cố kết cộng đồng bền vững nơi phên dậu Đông Bắc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết hình thái kinh tế - xã hội mác-xít làm nền tảng để phân tích sự chuyển dịch từ nền kinh tế tự nhiên mang tính tự cấp tự túc sang kinh tế hàng hóa sơ khai dưới tác động của mạng lưới chợ. Đồng thời, nghiên cứu kết hợp lý thuyết địa lý nhân văn và kinh tế không gian nhằm luận giải quy luật phân bố các điểm chợ ven trục sông Quây Sơn, sông Bắc Vọng và các thung lũng karst kín gió. Ngoài ra, lý thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa tộc người được sử dụng để giải mã quá trình tiếp xúc giữa các cộng đồng dân cư bản địa với thương nhân ngoại vùng.

Mô hình nghiên cứu được xây dựng trên hệ thống 4 khái niệm nền tảng:

  • Chợ truyền thống: Không gian thương mại định kỳ hình thành tự phát hoặc do thiết chế quản lý thiết lập nhằm đáp ứng nhu cầu trao đổi sản vật thiết yếu.
  • Chợ nông thôn miền núi: Điểm giao dịch đặc thù gắn liền với phương thức canh tác nương rẫy, ruộng bậc thang và kinh tế khai thác lâm thổ sản.
  • Chu kỳ chợ phiên: Quy luật họp chợ luân phiên theo lịch âm (phổ biến là chu kỳ 5 ngày một phiên, tương đương 6 phiên mỗi tháng) nhằm phân bổ dòng hàng và sức mua phù hợp với bán kính đi bộ của cư dân.
  • Mạng lưới thương mại biên mậu tiểu ngạch: Hệ thống trao đổi hàng hóa tự nhiên giữa cư dân hai bên đường biên giới Việt - Trung.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tích hợp từ khối thư tịch cổ đồ sộ như Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh dư địa chí, Dư địa chí của Nguyễn Trãi, Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX cùng hệ thống hương ước cổ của 6 làng xã thời thuộc Pháp. Về dữ liệu thực địa, tác giả thực hiện khảo sát điền dã với cỡ mẫu gồm 10 điểm chợ phiên tiêu biểu tại 3 huyện Trùng Khánh, Quảng Hòa, Hạ Lang và phỏng vấn sâu 42 nhân chứng lịch sử gồm các bậc cao niên, nghệ nhân làng nghề truyền thống và thương nhân cố cựu.

Phương pháp chọn mẫu định ngạch phi xác suất kết hợp kỹ thuật quả cầu tuyết được áp dụng để tiếp cận đúng các nhân chứng có trí nhớ chuẩn xác về hoạt động thương nghiệp trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Tác giả kết hợp chặt chẽ phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Việc lựa chọn phương pháp này xuất phát từ đòi hỏi phải tái hiện chân thực quá trình vận động khách quan của mạng lưới chợ theo trục thời gian, đồng thời khái quát hóa được các quy luật kinh tế, đặc điểm phân bố không gian và tính quy chuẩn văn hóa mà không áp đặt nhãn quan hiện đại lên bối cảnh lịch sử quá khứ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu phát hiện tính quy luật chặt chẽ trong chu kỳ vận hành của mạng lưới chợ phiên miền Đông Cao Bằng. Hơn 85% các chợ trong khu vực hoạt động theo chu kỳ 5 ngày một phiên, đều đặn 6 phiên mỗi tháng theo âm lịch. Điển hình như chợ Pò Tấu họp ngày 1 và ngày 6; chợ Bản Ngắn họp ngày 3 và ngày 8; chợ Pò Peo và chợ Cách Linh họp ngày 4 và ngày 9; chợ Đống Đa và chợ Hạ Lang họp ngày 5 và ngày 10. Sự phân bố so le này tạo thành vòng tuần hoàn khép kín, cho phép thương nhân và người dân di chuyển luân phiên trong bán kính từ 7 đến 15 km mà không bị trùng lặp thời gian.

Thứ hai, cơ cấu hàng hóa phản ánh rõ nét sự kết hợp giữa kinh tế tự nhiên và sản xuất thủ công nghiệp đặc thù. Nông sản và lâm thổ sản chiếm hơn 70% tổng khối lượng hàng hóa lưu thông tại mỗi phiên, bao gồm ngô, lúa nương, củ mài, măng nứa, hạt dẻ Trùng Khánh và tuyết lê. Đáng chú ý, các mặt hàng tiểu thủ công nghiệp làng nghề đạt đến trình độ kỹ thuật cao. Điển hình là sản phẩm nông cụ rèn đúc thủ công của người Nùng An tại xã Phúc Sen với hơn 160 thợ rèn điêu luyện, tạo ra các sản phẩm dao, liềm, búa có giá bán tại chợ cao gấp 3 lần sản phẩm kim khí cùng loại nhập từ Trung Quốc nhưng luôn bán hết nhờ độ sắc bén và độ bền vượt trội.

Thứ ba, chợ phiên miền Đông đóng vai trò huyết mạch trong mạng lưới mậu dịch biên mậu xuyên biên giới. Thông qua các lối mòn dân sinh dọc 333 km đường biên và các cửa khẩu tự nhiên, những chợ lớn như chợ Pò Peo, chợ Cô Sầu đã thu hút dòng chảy gia súc quy mô lớn. Tại chợ Cô Sầu, mỗi phiên ghi nhận hoạt động trao đổi lên tới hàng trăm con trâu, bò, ngựa thồ cùng các sản phẩm thổ cẩm rực rỡ sắc màu, hình thành trung tâm đầu mối phân phối muối mỏ, sợi bông, đồ gốm sứ và kim hoàn từ Trung Quốc sang các tỉnh Đông Bắc Việt Nam.

Thứ tư, chợ là không gian giao lưu văn hóa và sinh hoạt cộng đồng đa sắc thái. Khảo sát tư liệu điền dã chỉ ra rằng có khoảng 60% cư dân đến chợ không xuất phát từ mục đích kiếm tìm lợi nhuận thương mại thuần túy mà để cập nhật thông tin làng xã, gặp gỡ bạn bè đồng canh, đồng niên, tham gia hát lượn then, hát phong slư, lượn nàng hai và thưởng thức văn hóa ẩm thực bản địa.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân dẫn đến sự định hình vững chắc của mạng lưới chợ phiên bắt nguồn từ cấu trúc địa hình karst núi đá vôi có độ cao trung bình 600 - 800 m, bị chia cắt sâu bởi hệ thống sông Quây Sơn dài 76 km và sông Bắc Vọng dài 77 km. Giao thông trước năm 1930 chủ yếu phụ thuộc vào ngựa thồ và đường mòn đèo dốc, do đó mỗi thung lũng buộc phải có một trung tâm tích tụ nông sản riêng biệt.

Khi so sánh với các công trình nghiên cứu chợ làng đồng bằng Bắc Bộ của các tác giả tiền bối, chợ miền Đông Cao Bằng mang tính chất tự trị làng bản ít nặng nề hơn nhưng tính cố kết tộc người lại sâu sắc hơn. Nếu như chợ vùng đồng bằng chủ yếu diễn ra hoạt động mua bán chuyên nghiệp của các lái buôn hàng xén, thì chợ vùng cao Cao Bằng lại mang đậm dấu ấn kinh tế tự cấp tự túc, đồng thời có nhiều điểm tương đồng với mô hình chợ phiên vùng cao Lào Cai ở tính chất chuyên doanh đại gia súc.

Về mặt học thuật, toàn bộ cấu trúc chu kỳ họp chợ và cơ cấu trao đổi hàng hóa này có thể được mô hình hóa trực quan thông qua bảng ma trận luân chuyển phiên chợ âm lịch và biểu đồ phân bổ bán kính không gian thương mại. Cách trình bày này giúp làm sáng tỏ mối liên kết hữu cơ giữa các trung tâm chợ huyện như Trùng Khánh, Quảng Uyên, Phục Hòa với hệ thống chợ vệ tinh vùng biên.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, quy hoạch bảo tồn nguyên trạng không gian kiến trúc và cảnh quan văn hóa của ít nhất 8 chợ phiên truyền thống tiêu biểu tại các huyện Trùng Khánh, Quảng Hòa và Hạ Lang. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Cao Bằng cần phối hợp chặt chẽ với chính quyền cấp huyện trong giai đoạn 2024 - 2026 để khoanh vùng bảo vệ các bãi chợ cổ ven sông, gìn giữ các lều quán lợp ngói âm dương truyền thống và tái hiện không gian giao lưu văn hóa dân gian.

Thứ hai, phát triển chuỗi giá trị và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho các sản phẩm làng nghề thủ công truyền thống gắn với chợ phiên. Sở Công thương kết hợp cùng Sở Khoa học và Công nghệ đặt mục tiêu trong giai đoạn 2024 - 2027 chuẩn hóa 100% sản phẩm rèn Phúc Sen, đường phên Bó Tờ và giấy bản Quốc Dân đạt chuẩn OCOP từ 3 đến 4 sao, nâng cao giá trị gia tăng và tăng thu nhập bình quân của các hộ làm nghề lên tối thiểu 25%.

Thứ ba, thiết lập 3 tuyến du lịch chuyên đề kết nối di sản địa chất Công viên non nước Cao Bằng với trải nghiệm chợ phiên vùng cao. Trung tâm Xúc tiến Du lịch tỉnh phối hợp cùng các doanh nghiệp lữ hành giai đoạn 2025 - 2028 xây dựng tour trải nghiệm văn hóa chợ Cô Sầu, chợ Pò Peo gắn với danh thắng Thác Bản Giốc và động Ngườm Ngao, hướng đến mục tiêu thu hút lượng khách du lịch văn hóa tăng trưởng 20% mỗi năm.

Thứ tư, triển khai số hóa toàn diện hệ thống dữ liệu lịch sử thương mại dân gian và tư liệu văn bia hương ước cổ. Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên chủ trì đề án số hóa 3D cho 12 điểm di tích chợ lịch sử miền Đông trước năm 1945, hoàn thành xây dựng cổng cơ sở dữ liệu mở phục vụ nghiên cứu và giảng dạy lịch sử địa phương trước quý 4 năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm nghiên cứu học thuật và giảng viên chuyên ngành Lịch sử, Dân tộc học, Văn hóa học: Luận văn cung cấp khung dữ liệu thực chứng gồm hơn 10 chợ truyền thống cùng hệ thống dẫn chứng từ 4 bộ địa chí cổ, đóng vai trò tài liệu tham khảo quan trọng để triển khai các công trình nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế thương nghiệp truyền thống vùng cao.

Cán bộ quản lý nhà nước và chuyên viên hoạch định chính sách tại các sở ngành tỉnh Cao Bằng: Cung cấp cơ sở khoa học vững chắc giúp Sở Công thương và Sở Văn hóa xây dựng đề án quy hoạch mạng lưới chợ nông thôn mới trên địa bàn hơn 50 xã thuộc 3 huyện miền Đông, dung hòa hiệu quả giữa hiện đại hóa hạ tầng thương mại và bảo tồn bản sắc văn hóa.

Giáo viên giảng dạy môn Lịch sử và Địa lý tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Cao Bằng: Tài liệu là nguồn tư liệu bản địa chuẩn xác giúp biên soạn nội dung giáo dục địa phương cho học sinh tại hơn 15 trường trung học phổ thông, hỗ trợ giáo dục truyền thống yêu nước và lòng tự hào văn hóa quê hương.

Doanh nghiệp phát triển du lịch bền vững và các nhà sáng tạo sản phẩm văn hóa: Nguồn tư liệu chi tiết về tập quán sinh hoạt, làng nghề 200 năm tuổi và các lễ hội chợ phiên cung cấp chất liệu thực tế phong phú để thiết kế các sản phẩm du lịch văn hóa cộng đồng và truyền thông di sản độc đáo.

Câu hỏi thường gặp

Mạng lưới chợ nông thôn miền Đông Cao Bằng trước năm 1945 họp theo chu kỳ nào? Hầu hết các chợ họp theo chu kỳ phiên âm lịch 5 ngày một lần, tương ứng 6 phiên mỗi tháng. Ví dụ, chợ Pò Tấu họp vào các ngày mồng 1 và mồng 6; chợ Bản Ngắn họp ngày mồng 3 và mồng 8; chợ Pò Peo họp ngày mồng 4 và mồng 9. Quy luật so le này giúp cư dân trong bán kính 10 km luân chuyển trao đổi hàng hóa liên tục và thông suốt.

Những mặt hàng chủ lực nào được trao đổi nhiều nhất tại các chợ phiên miền Đông? Cơ cấu mặt hàng gồm nông sản thiết yếu như lúa ngô, rau rừng (chiếm khoảng 50% sản lượng trao đổi), đại gia súc như trâu bò ngựa với quy mô hàng trăm con mỗi phiên ở chợ Cô Sầu, cùng các sản phẩm thủ công nức tiếng. Đặc biệt, nông cụ rèn Phúc Sen và vải thổ cẩm thủ công luôn là mặt hàng thu hút sức mua lớn nhất từ khắp các huyện lân cận.

Địa hình núi đá vôi karst ảnh hưởng như thế nào đến việc hình thành các điểm chợ? Địa hình núi cao 600 - 800 m bị chia cắt mạnh khiến các chợ thường được đặt tại những thung lũng lòng chảo bằng phẳng hoặc ngã ba sông Quây Sơn và Bắc Vọng. Điển hình như chợ Bằng Ca nằm ở vị thế trên bến dưới thuyền, kết nối thuận tiện mạng lưới đường bộ 38 km liên huyện với hệ thống vận tải đường thủy vùng biên.

Hoạt động thương mại qua biên giới Việt - Trung tại các chợ miền Đông diễn ra ra sao? Nhờ tiếp giáp hơn 333 km đường biên giới, các chợ như Pò Peo và Cách Linh trở thành trạm trung chuyển mậu dịch tiểu ngạch nhộn nhịp. Thương nhân hai bên biên giới thường xuyên trao đổi lâm thổ sản, muối ăn, dược liệu và chỉ thêu qua hệ thống đường mòn dân sinh lâu đời, tạo nên mối liên hệ kinh tế tự nhiên bền chặt.

Chợ phiên vùng Đông Cao Bằng giữ vai trò gì ngoài chức năng trao đổi kinh tế? Chợ là trung tâm sinh hoạt văn hóa tinh thần của đồng bào Tày, Nùng, Dao. Khoảng 60% người dân đến chợ để giao lưu tình cảm, kết bạn đồng canh, hát lượn then, lượn slư và thưởng thức ẩm thực truyền thống. Ngoài ra, chợ phiên còn là địa bàn quan trọng để các chiến sĩ cách mạng giác ngộ quần chúng nhân dân trong thời kỳ tiền khởi nghĩa.

Kết luận

  • Mạng lưới chợ nông thôn miền Đông Cao Bằng trước năm 1945 là một chỉnh thể kinh tế - xã hội đặc sắc, thích ứng linh hoạt với điều kiện tự nhiên hiểm trở vùng Đông Bắc.
  • Chu kỳ họp chợ 5 ngày một phiên được phân bổ khoa học, đảm bảo dòng luân chuyển hàng hóa không gián đoạn cho hơn 10 cụm cư dân liên vùng.
  • Hoạt động mậu dịch tiểu ngạch qua hơn 333 km đường biên giới khẳng định vai trò cầu nối thương mại thiết yếu giữa vùng cao Việt Nam với miền Nam Trung Quốc.
  • Không gian chợ phiên bảo tồn nguyên vẹn các giá trị văn hóa phi vật thể của cộng đồng Tày, Nùng, Dao thông qua các làng nghề rèn đúc, dệt vải và sinh hoạt dân ca cổ truyền.
  • Kết quả nghiên cứu của luận văn đóng góp hệ thống tư liệu thực chứng chuẩn mực, hỗ trợ đắc lực cho công tác quy hoạch kinh tế nông thôn và phát triển du lịch di sản giai đoạn 2025 - 2030.

Luận văn đã làm sáng tỏ giá trị toàn diện của mạng lưới chợ nông thôn miền Đông Cao Bằng cả trên phương diện lịch sử kinh tế lẫn nhân học văn hóa. Độc giả, các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý văn hóa - thương mại có thể liên hệ trực tiếp Khoa Lịch sử thuộc Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên để tiếp cận toàn văn công trình khoa học giá trị này.