Luận văn thạc sĩ lịch sử: Vùng đất Chợ Đồn (Bắc Kạn) từ năm 1916 đến năm 1945

Luận văn nghiên cứu toàn diện về tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội tại vùng đất Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn trong giai đoạn 1916 đến năm 1945.

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Tác giả

Nguyễn Thị Thùy

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2025

107
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về vùng đất Chợ Đồn Bắc Kạn giai đoạn 1916 1945

Vùng đất Chợ Đồn nằm ở phía tây tỉnh Bắc Kạn. Vị trí tiếp giáp Thái Nguyên và Tuyên Quang. Địa hình hiểm trở với nhiều dãy núi đá vôi cánh cung. Hệ thống rừng rậm bao bọc tạo thành bức tường tự nhiên kiên cố. Từ năm 1916, chính quyền thực dân Pháp hoàn thiện bộ máy cai trị hành chính. Chợ Đồn trở thành một mắt xích quân sự và kinh tế trọng điểm tại miền núi Bắc Kỳ. Cư dân Chợ Đồn đa dạng về thành phần tộc người. Các cộng đồng người Tày, Nùng, Dao và Kinh sinh sống xen kẽ lâu đời. Nền kinh tế bản địa trước năm 1916 mang tính tự cung tự cấp. Nông nghiệp trồng trọt kết hợp săn bắn và hái lượm giữ vai trò chủ đạo. Hoạt động trao đổi hàng hóa tập trung tại chợ phiên Phương Viên. Mạng lưới giao thông sơ khai chủ yếu là đường mòn xuyên rừng. Điều kiện tự nhiên hiểm trở tạo rào cản giao thương. Tuy nhiên, chính yếu tố địa bàn khép kín lại đem tới giá trị phòng thủ tự nhiên đặc biệt. Đây là tiền đề biến Chợ Đồn thành trung tâm an toàn cho lực lượng tiến bộ sau này.

1.1. Vị trí địa lý và địa hình tự nhiên

Chợ Đồn giữ vị trí cửa ngõ phía tây của tỉnh Bắc Kạn. Vùng đất tiếp giáp huyện Định Hóa của Thái Nguyên. Phía tây giáp huyện Na Hang và Chiêm Hóa thuộc tỉnh Tuyên Quang. Địa mạo khu vực chịu chi phối trực tiếp từ cánh cung Ngân Sơn và sông Gâm. Các dãy núi cao xen kẽ thung lũng hẹp và đồi bát úp. Độ dốc lớn gây khó khăn cho việc mở rộng đất canh tác tập trung. Khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng cao tạo sự phân hóa rõ rệt theo mùa. Rừng nhiệt đới nguyên sinh che phủ diện tích rộng lớn. Địa thế này đóng vai trò then chốt trong bố phòng quân sự. Chợ Đồn trở thành trạm tiền tiêu kiểm soát các trục giao thông liên tỉnh.

1.2. Đặc điểm cư dân và xã hội truyền thống

Cư dân bản địa Chợ Đồn chủ yếu gồm người Tày và Dao. Người Nùng và người Kinh chuyển đến định cư muộn hơn. Người Tày cư trú tại thung lũng ven sông suối. Họ làm ruộng nước và xây dựng các bản làng trù phú. Người Dao sống rải rác trên sườn núi cao và làm nương rẫy. Phụ nữ các dân tộc rất khéo dệt vải, thêu thùa và nhuộm chàm. Đàn ông tinh thông nghề săn bắn, đan lát đồ mây tre và chế tạo nông cụ. Mối liên kết làng bản duy trì chặt chẽ qua thiết chế hương ước. Phiên chợ Phương Viên vừa là điểm trao đổi thổ sản vừa là không gian sinh hoạt văn hóa chung. Tính đoàn kết cộng đồng trở thành sức mạnh nội sinh bền bỉ giúp người dân vượt qua áp bức ngoại bang.

II. Bóc lột khoáng sản tại Chợ Đồn Bắc Kạn giai đoạn 1916 1945

Sau năm 1916, thực dân Pháp đẩy mạnh chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai tại Bắc Kạn. Vùng đất Chợ Đồn chịu tác động trực tiếp từ bộ máy cai trị thực dân. Chính quyền lập đồn bốt, tăng thuế thân và bắt phu phen tạp dịch. Hoạt động khai thác khoáng sản trở thành trọng tâm bóc lột kinh tế. Mỏ kẽm Chợ Điền bị tư bản Pháp chiếm đoạt và biến thành đại công trường. Hàng nghìn thợ mỏ người Việt và người Hoa phải lao động cực nhọc dưới lòng đất. Tai nạn lao động xảy ra thường xuyên do thiếu bảo hộ. Đồng lương chi trả rẻ mạt không đủ trang trải đời sống tối thiểu. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1933 giáng đòn nặng nề vào vùng mỏ. Hàng loạt mỏ tư nhân bị thu hồi hoặc dừng vận hành. Duy nhất mỏ Chợ Điền cầm cự nhưng sản lượng quặng sụt giảm nghiêm trọng. Công nhân bị sa thải hàng loạt và rơi vào cảnh cùng quẫn. Ruộng đất bị quan lại và địa chủ bản xứ thâu tóm. Mâu thuẫn giữa nhân dân lao động với chế độ thực dân phong kiến ngày càng gay gắt.

2.1. Tình trạng bóc lột lao động tại mỏ Chợ Điền

Mỏ kẽm Chợ Điền là trung tâm khoáng sản lớn nhất tỉnh Bắc Kạn thời Pháp thuộc. Các điểm khai thác như Penh-Chai, Fiakao và KaoPinh hoạt động liên tục. Tư bản Pháp áp đặt quy chế quản lý khắc nghiệt. Giám thị người Âu nắm quyền sinh sát tối cao. Thợ mỏ người Việt và người Hoa làm việc từ 10 đến 12 giờ mỗi ngày trong hầm tối. Không khí đặc quánh khói bụi gây bệnh phổi mãn tính. Mức lương thực tế bị cắt giảm bởi các khoản phạt vô lý. Khi cuộc khủng hoảng 1930 ập đến, số nhân viên người Âu giảm xuống còn 7 người. Nhân sự người Á giảm từ 50 xuống còn 20 người. Hàng trăm phu mỏ bị đẩy ra đường mà không có bất kỳ khoản trợ cấp thôi việc nào.

2.2. Áp bức sưu thuế và suy thoái kinh tế bản địa

Song song với khai mỏ, thực dân Pháp duy trì hệ thống thuế khóa tàn khốc. Thuế thân đánh đều lên nam giới từ 18 đến 60 tuổi. Các sắc thuế đánh vào lâm sản, muối và rượu bóp nghẹt hoạt động trao đổi buôn bán. Nạn bắt xâu làm đường giao thông khiến nhiều mùa màng bị bỏ hoang. Đời sống nông dân miền núi rơi vào cảnh bần cùng hóa. Thủ công nghiệp địa phương bị hàng hóa ngoại nhập của Pháp cạnh tranh khốc liệt. Nghề dệt vải chàm truyền thống thu hẹp diện tích sản xuất do bông sợi đắt đỏ. Khủng hoảng kinh tế làm trầm trọng thêm sự thiếu hụt lương thực hàng năm. Ách áp bức hai tầng của thực dân và tay sai phong kiến đẩy người dân vào bước đường cùng, thôi thúc ngọn lửa phản kháng bùng cháy.

III. Phong trào đấu tranh tại vùng đất Chợ Đồn Bắc Kạn 1916 1945

Trước ách áp bức nặng nề, nhân dân Chợ Đồn sớm giác ngộ cách mạng. Các tầng lớp nông dân và thợ mỏ liên kết chặt chẽ nhằm chống lại cường quyền. Địa bàn hiểm trở được tận dụng triệt để để che giấu cán bộ. Đường lối cứu nước của Mặt trận Việt Minh lan tỏa sâu rộng vào từng bản làng. Phương pháp vận động quần chúng được triển khai bài bản và linh hoạt. Các tổ chức Nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc và Thanh niên cứu quốc nhanh chóng ra đời. Quần chúng tham gia quyên góp lương thực, may áo ấm và đúc rèn vũ khí thô sơ. Các đội tự vệ chiến đấu thành lập bí mật tại vùng rừng núi hoang vu. Lực lượng tự vệ ngày đêm canh gác và bảo vệ an toàn cho các cơ sở in ấn tài liệu bí mật. Tinh thần đoàn kết giữa người Tày, Dao, Nùng và Kinh tạo nên thế trận lòng dân kiên cố. Mạng lưới liên lạc thông suốt kết nối Chợ Đồn với các trung tâm chỉ đạo của Chiến khu Việt Bắc. Sự chuẩn bị chu đáo về tổ chức đã biến nơi đây thành bàn đạp tiến công vững chắc.

3.1. Phương pháp xây dựng cơ sở cách mạng bí mật

Công tác xây dựng phong trào được tiến hành theo nguyên tắc bí mật và thận trọng. Cán bộ Việt Minh thâm nhập sâu vào các bản làng vùng sâu vùng xa. Họ thực hiện phương châm cùng ăn, cùng ở, cùng làm với đồng bào địa phương. Ngôn ngữ Tày và Dao được cán bộ sử dụng thành thạo để tuyên truyền giác ngộ. Các gia đình trung kiên trở thành hòm thư liên lạc và trạm tiếp tế an toàn. Những cánh rừng rậm và hang đá hiểm trở được cải tạo làm kho chứa vũ khí. Khi địch tổ chức càn quét, toàn bộ lực lượng rút sâu vào vùng lõi an toàn. Nhờ thế trận lòng dân vững chắc, cơ sở cách mạng tại Chợ Đồn luôn đứng vững trước mọi đợt khủng bố gắt gao của kẻ thù.

3.2. Đấu tranh vũ trang và chuẩn bị khởi nghĩa

Giai đoạn 1941 - 1945 chứng kiến sự chuyển biến mạnh mẽ về chất của phong trào cứu quốc. Các tiểu tổ cứu quốc tại Chợ Đồn chuyển trọng tâm sang huấn luyện quân sự. Thanh niên tích cực rèn gươm, giáo, mác và tự tạo súng kíp. Đội cứu quốc quân và lực lượng tự vệ tăng cường tuần tra, kiểm soát các ngả đường xung yếu. Khi Nhật đảo chính Pháp vào tháng 3 năm 1945, tình thế cách mạng phát triển nhảy vọt. Lực lượng tự vệ địa phương nhanh chóng nổi dậy bao vây đồn bốt, tước vũ khí của binh lính địch. Chính quyền tay sai tan rã hoàn toàn trước sức mạnh của quần chúng. Thắng lợi này mở đường giải phóng hoàn toàn Chợ Đồn, tạo chỗ dựa vững vàng đón thời cơ Tổng khởi nghĩa tháng Tám toàn quốc.

IV. Ý nghĩa lịch sử của vùng đất Chợ Đồn Bắc Kạn năm 1916 1945

Chặng đường lịch sử từ năm 1916 đến năm 1945 khẳng định vị thế đặc biệt của vùng đất Chợ Đồn. Nơi đây là minh chứng sống động cho tinh thần bất khuất chống giặc ngoại xâm. Từ một vùng mỏ bị thực dân bóc lột kiệt quệ, Chợ Đồn vươn lên thành căn cứ địa cách mạng trung kiên. Thắng lợi giành chính quyền năm 1945 tại địa phương góp phần vào thành công chung của Cách mạng Tháng Tám. Kinh nghiệm xây dựng căn cứ và vận động quần chúng vùng đồng bào dân tộc thiểu số để lại nhiều bài học giá trị. Việc củng cố khối đại đoàn kết dân tộc là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Trong giai đoạn hiện nay, những di tích lịch sử như mỏ kẽm Chợ Điền và các an toàn khu cần được bảo tồn nghiêm ngặt. Việc phát huy giá trị di sản giúp giáo dục truyền thống yêu nước sâu sắc cho thế hệ trẻ. Đồng thời, đây là nguồn tài nguyên quý giá để phát triển du lịch lịch sử - văn hóa bền vững, thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương khởi sắc.

4.1. Bài học về phát huy sức mạnh đại đoàn kết

Lịch sử Chợ Đồn giai đoạn 1916 - 1945 để lại bài học sâu sắc về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Sự đồng lòng giữa các tộc người Tày, Nùng, Dao và công nhân mỏ tạo nên sức mạnh vô địch. Mặt trận Việt Minh đã khéo léo kết hợp lợi ích giai cấp với nguyện vọng độc lập dân tộc. Chính sách dân tộc đúng đắn giúp xóa bỏ định kiến và khơi dậy lòng tự hào quê hương. Nhân dân sẵn sàng cưu mang cán bộ và đóng góp tài lực cho sự nghiệp cứu nước. Kinh nghiệm thực tiễn này tiếp tục giữ nguyên giá trị trong công cuộc củng cố khối đại đoàn kết hiện nay, bảo đảm ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội vùng cao.

4.2. Bảo tồn di sản và phát triển kinh tế địa phương

Hệ thống di tích lịch sử thời kỳ 1916 - 1945 tại Chợ Đồn là nguồn tài sản vô giá. Mỏ kẽm Chợ Điền ghi dấu lịch sử đấu tranh của phong trào công nhân miền núi. Các căn cứ địa cách mạng phản ánh bản lĩnh kiên cường của nhân dân các dân tộc. Việc số hóa tư liệu và quy hoạch bảo tồn không gian di tích cần được ưu tiên triển khai. Các tuyến du lịch về nguồn kết hợp trải nghiệm văn hóa bản địa mở ra hướng phát triển kinh tế bền vững. Hoạt động này tạo sinh kế cho cư dân và thúc đẩy bảo tồn bản sắc văn hóa Tày, Dao. Lịch sử trở thành động lực nội sinh mạnh mẽ đưa huyện Chợ Đồn phát triển toàn diện, giàu đẹp và văn minh trong kỷ nguyên mới.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

17/10/2026
Vùng đất chợ đồn bắc kạn từ năm 1916 đến năm 1945

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN 1. Khái quát về vùng đất Chợ Đồn 1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý Bắc Kạn là một tỉnh miền núi thuộc khu vực Đông Bắc nước ta. Hiện nay tỉnh nằm trong tọa độ địa lý 21048’ - 22044’ vĩ Bắc, 105026’ – 106014’ kinh Đông.

Cực bắc ở xã Bằng Thành, huyện Pắc Nặm; cực nam ở xã Quảng Chu, huyện Chợ Mới; cực đông ở xã Cường Lợi, huyện Na Rì; cực tây ở xã Yên Thịnh, huyện Chợ Đồn [21, tr. Phía bắc giáp tỉnh Cao Bằng, phía nam giáp tỉnh Thái Nguyên, phía đông giáp tỉnh Lạng Sơn, phía tây giáp tỉnh Tuyên Quang và một góc tây bắc gần kề với Hà Giang. Theo sách Địa dư các tỉnh Bắc Kì năm 1924 cho biết tỉnh Bắc Kạn “Diện tích đo được ngót 1.480 km vuông) nhưng chỉ có ngót 28.334 mẫu cày cấy được mà thôi, còn 42.500 mẫu bỏ hoang và ngót 1.056 mẫu rừng” [17, tr. Có thể nói Bắc Kạn là một trong những địa bàn được coi là “miền quan yếu” phía Bắc của tổ quốc, với vị trí địa - chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng.

Bắc Kạn là phên dậu vững chắc bảo vệ kinh thành Thăng Long và thủ đô Hà Nội ngày nay. Có thể nói đây là tỉnh có vị trí quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trải qua nhiều lần chia tách, sáp nhập đến năm 1997, tỉnh bắc Kạn gồm 7 huyện: Chợ Mới, Chợ Đồn, Pắc Nặm, Ba Bể, Bạch Thông, Ngân Sơn, Na Rì và 1 thành phố Bắc Kạn. Chợ Đồn là một huyện nằm ở phía tây của tỉnh Bắc Kạn, phía Bắc giáp huyện Ba Bể; phía Nam giáp huyện Định Hóa (Thái Nguyên), phía Đông giáp huyện Bạch Thông, phía Tây giáp các huyện Na Hang và Chiêm Hóa (Tuyên Quang).

Với vị trí địa lý như vậy trong lịch sử vùng đất Chợ Đồn đã đóng vai trò là nơi giao thương buôn bán với các vùng đất của tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang. Tên gọi Chợ Đồn cũng mang ý nghĩa là vùng đất họp chợ để trao đổi buôn bán của nhân dân trong vùng và với các vùng lân cận. Dưới triều Nguyễn, trong 2 năm (1831 - 1832), vua Minh Mạng tiến hành cải cách hành chính địa phương trên phạm vi cả nước; bỏ các tổng trấn, đổi các dinh trấn 9 thành tỉnh. Vùng đất Bắc Kạn vẫn thuộc phủ Thông Hóa, tỉnh Thái Nguyên gồm huyện Cảm Hóa (nay thuộc huyện Na Rì, huyện Ngân Sơn, vùng Phủ Thông của huyện Bạch Thông) và châu Bạch Thông (nay thuộc các huyện: Bạch Thông, Chợ Đồn, Ba Bể) [21, tr.

Ngày 8-6-1916, Thống sứ Bắc kỳ ra nghị định thành lập châu Chợ Đồn (tỉnh Bắc Kạn) gồm các tổng Đông Viên, tổng Nghĩa Tá thuộc châu Bạch Thông và tổng Nhu Viễn thuộc châu Chợ Rã. Cụ thể, vị trí địa lí của châu Chợ Đồn khi thành lập: Phía Đông giáp với châu Bạch Thông, Phía Bắc giáp với châu Chợ Rã, phía Tây giáp với tỉnh Tuyên Quang, phía Nam giáp với châu Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên. Với việc thay đổi địa giới hành chính của tỉnh Bắc Kạn vào năm 1916 đã giúp thực dân Pháp có những điều kiện thuận lợi để cai trị ở vùng đất này, từ đó đẩy mạnh hoạt động khai thác các nguồn tài nguyên, bóc lột người dân tại vùng đất Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. Điều kiện tự nhiên Địa hình: Địa hình tỉnh Bắc Kạn khá phức tạp, mang những đặc trưng chung của địa hình miền núi vùng Đông Bắc Việt Nam, dốc đều theo hướng bắc - nam; nằm trên độ cao trung bình 400 - 600m; độ dốc trung bình 8 - 250.

Địa hình của tỉnh Bắc Kạn bị chi phối bởi hai dãy núi cánh cung là cánh cung Sông Gâm phía tây và cánh cung Ngân Sơn phía đông. Cánh cung Ngân Sơn nối liền một dải từ Nặm Kép (Cao Bằng) xuống Ngân Sơn, Na rì (Bắc Kạn) đến phía bắc tỉnh Thái Nguyên dài gần 100km. Đây là cánh cung đóng vai trò quan trọng trong địa hình và được coi là ranh giới khí hậu của tỉnh. Cánh cung Sông Gâm với nhiều ngọn núi quanh năm mây mù che phủ kéo dài từ phía Tây của tỉnh từ núi Phja Dạ thuộc huyện Bảo Lạc (Cao Bằng) theo hướng tây bắc - đông nam đến các huyện Ba Bể, Bạch Thông, Chợ Đồn.

Cánh cung này có nhiều đỉnh núi cao trên 1000m như Phia Iểng, Phja Bjooc.Xen vào giữa những cánh cung là những trải trũng rộng với các dòng sông, tạo nên các bãi bồi song song với dòng sông có thể trồng các cây nông nghiệp. Đặc trưng tỉnh Bắc Kạn đa dạng, phức tạp và chia thành 3 khu vực: Khu vực phía đông là các cánh cung kéo dài của cánh cung Ngân Sơn, có cấu tạo tương đối thuần nhất, thuận lợi phát triển lâm nghiệp. Khu vực phía tây là những dãy núi cao được cấu tạo chủ yếu bằng đá phiến thạch anh, đá cát kết 10 và đá vôi có lớp dày nằm trên đá kết tinh cổ, là khu vực giàu khoáng sản, đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp. Khu vực trung tâm dọc theo thung lũng sông Cầu có địa hình thấp hơn phía đông và phía tây được cấu tạo chủ yếu bởi đá phiến, đá vôi và đá sét vôi cổ thích hợp phát triển nông nghiệp và giao thông [21, tr.

Vùng đất Chợ Đồn nằm ở khu vực địa hình phía tây của tỉnh Bắc Kạn. Diện tích tự nhiên toàn huyện là 90.337 ha, chiếm khoảng 1/7 diện tích toàn tỉnh Bắc Kạn. Chiều rộng nhất (từ xã Yên Thịnh đến xã Rã Bản) là 30 km. Chiều dài nhất ( từ Xuân Lạc đến Bình Trung ) là 56 km.

Đất ruộng và soi bãi có khoảng trên 2400 ha, còn lại là đất đồi và rừng. Huyện Chợ Đồn có nhiều ngọn núi cao trên 1000 mét, ngọn núi cao nhất là Phia Iểng ( 1527 mét) và Tao Tao (1326 mét ). Các dãy núi đều nằm trong vòng cung đông bắc, nhưng trong phạm vi huyện lại không chạy theo một hướng nhất định. Nhìn chung địa hình thấp dần từ vùng núi Tao Tao, cả về hai hướng bắc và nam.

Tại các xã Nam Cường, Xuân Lạc, Đồng Lạc, Tân Lập, Ngọc Phái, Bằng Lũng, Bản Thi, Rã Bản.có nhiều dãy núi đá vôi, trong đó có nhiều hang động lớn. Núi non trùng điệp tạo cho Chợ Đồn có dáng đẹp hùng vĩ [12, tr. Với địa hình chủ yếu là núi cao nên việc đi lại, xây dựng giao thông trong huyện gặp rất nhiều khó khăn. Đây là một cản trở đối với thực dân Pháp trong việc khai thác và vận chuyển tài nguyên khoáng sản ở vùng đất này.

Các dạng địa hình phổ biến của huyện Chợ Đồn: Địa hình núi đá vôi: Các xã phía Bắc thuộc cao nguyên đá vôi LangCaPhu kéo dài từ huyện Ba Bể đến thị trấn Bằng Lũng. Địa hình chia cắt phức tạp bởi những dãy núi đá vôi với độ cao trên 1000m (núi Phia Khao xã Bản Thi) xen giữa các thung lũng hẹp, độ dốc bình quân từ 250 đến 300. Đây là nơi đầu nguồn của các sông chảy về hồ Ba Bể. Địa hình núi đất: Các xã phía Nam thị trấn Bằng Lũng phần lớn là núi đất có độ cao phổ biến 400m đến trên 600m, độ dốc bình quân từ 200 đến 250.

Địa hình chia cắt mạnh bởi hệ thống sông, suối khá dày đặc. Địa hình thung lũng: phân bố dọc theo các sông, suối xen giữa các dãy núi cao. Các điều kiện tự nhiên nhìn chung khá thuận lợi cho phát triển canh tác nông lâm nghiệp kết hợp, cây ăn quả, cây đặc sản. 11 Là một huyện miền núi cao, phần lớn diện tích là rừng và đồi núi, địa hình phức tạp.

Do đó việc xây dựng và phát triển giao thông trong huyện gặp rất nhiều khó khăn. Thời thuộc Pháp, Chợ Đồn chỉ có một đoạn đường cái dài 10 km nối từ xã Đông Viên đến Phương Viên nối liền con đường đi từ thị xã Bắc Kạn vào tới đồn quan Châu. Còn lại là những con đường mòn nhỏ hẹp, nối liền từ xã này đến xã khác chỉ vừa đủ cho người và ngựa đi lại. Từ sau ngày hoà bình lập lại (1954), cùng với sự phát triển kinh tế, văn hoá, mạng lưới giao thông đường bộ trong huyện được mở mang thêm nhiều.

Ngoài con đường rải nhựa chạy dài từ Ba Bể tới thị xã Bắc Kạn là hai tuyến đường lớn, xuất phát từ Bằng Lũng (huyện lỵ): một tuyến đi qua Bản Cậu sang Tuyên Quang và một tuyến xuống Bình Trung, thông với huyện Định Hoá. Từ trung tâm huyện, các con đường đất cũng được mở rộng, xe ô tô có thể đi về hầu hết các xã [12, tr. Hiện nay, mạng lưới giao thông đường bộ đã được mở mang thêm nhiều giữa các xã trong huyện và giữa huyện Chợ Đồn với tỉnh Tuyên Quang và huyện Định Hóa của tỉnh Thái Nguyên. Như vậy địa hình của vùng đất Chợ Đồn phức tạp đan xen giữa núi đá vôi, núi đất và các thung lũng, việc đi lại, giao lưu buôn bán giữa các xã cũng có nhiều hạn chế.

Mặc dù ở đây có các thung lũng thuận lợi cho trồng cây nhưng mùa mưa thường xuyên xảy ra lũ lụt, mùa khô thiếu nước đất bị xói mòn ảnh hưởng lớn đến cây trồng vật nuôi của người dân. Nằm trong khu vực gió mùa nhiệt đới, khí hậu Chợ Đồn chia thành bốn mùa trong năm: xuân, hạ, thu, đông nhưng có hai mùa rõ rệt là mùa nóng và mùa lạnh. Nhiệt độ trung bình trong năm ở Chợ Đồn là 25°6. So với các địa phương khác trong tỉnh, mùa đông lạnh ở Chợ Đồn kéo dài hơn, thường bắt đầu từ tháng 1 đến tháng 11 và kết thúc vào ¾ năm sau.

Là một địa phương nằm sâu trong đất liền, cách xa biển hàng trăm kilômét nên tác dụng điều hòa khí hậu của biển không rõ rệt, cũng vì thế khí hậu Chợ Đồn có phần khắc nghiệt hơn so với vùng phía nam của tỉnh. Hàng năm vào tháng 12 và tháng 1, thường xuất hiện sương muối gây thiệt hại cho hoa màu. Những đặc điểm về khí hậu trên đây đã gây nhiều trở ngại không nhỏ cho sản xuất và đời sống con người. Thủy văn - nguồn nước: Chợ Đồn có ba con sông chính, bắt nguồn từ các vùng núi cao là sông Cầu, sông Nam Cường và sông Phó Đáy (còn gọi là sông Bình 12 Trung).

Lưu lượng nước trung bình trên các dòng sông từ 400 m3/giây đến 800m3/giây. Vào mùa mưa, dòng nước chảy xiết, nhiều đoạn thành thác lũ; vào mùa khô, phần lớn các dòng sông đều cạn [12, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Nguyễn Thị Thùy (2025), Vùng đất Chợ Đồn (Bắc Kạn) từ năm 1916 đến năm 1945, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên.
APA 7
Nguyễn, T. T. (2025). Vùng đất Chợ Đồn (Bắc Kạn) từ năm 1916 đến năm 1945 [Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/vung-dat-cho-don-bac-kan-tu-nam-1916-den-nam-1945/9443775458
IEEE
T. T. Nguyễn, "Vùng đất Chợ Đồn (Bắc Kạn) từ năm 1916 đến năm 1945," Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên, 2025. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/vung-dat-cho-don-bac-kan-tu-nam-1916-den-nam-1945/9443775458

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác