Chương 1 THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP CỦA NI TRƯỞNG THÍCH NỮ DIỆU KHÔNG 1. Thân thế của Ni trưởng Thích Nữ Diệu Không Cha ông ta đã từng nói “Con người có tổ có tông”, câu nói không chỉ để nhận định mỗi con người đều có cội nguồn tổ tiên, dòng họ, mà còn nói đến gia phong, nề nếp, nền giáo dục của tổ tiên dòng họ đó với con cháu. Do đó khi nghiên cứu đến sự nghiệp hoằng pháp và xã hội của Ni trưởng Thích nữ Diệu Không, chúng tôi tìm đọc gia thế, dòng họ tổ tiên của Ni trưởng, ngoài Ni trưởng, trong dòng họ của bà, còn có những người nào làm nên nghiệp lớn, còn có những thành tựu nào đóng góp không những cho gia tộc của Ni trưởng mà còn cho địa phương, đất nước… Quả thật, là một trong số các dòng họ danh gia vọng tộc ở kinh đô Huế thuộc đầu thế kỷ XX, họ Hồ Đắc đã có nhiều tên tuổi, nhiều người con ưu tú đóng góp sức mình cho công cuộc xây dựng đất nước, như từ thời chúa Nguyễn đến vua Nguyễn rồi đến thời đấu tranh giải phóng dân tộc ở thế kỷ XX. Đối với một gia tộc bề thế như thế, cũng lý giải được phần nào nguyên nhân hun đúc nên một con người có tâm hồn cao thượng và vì đạo pháp, vì dân tộc như Ni trưởng Thích nữ Diệu Không.
Thân phụ của Ni trưởng là cụ ông Hồ Đắc Trung (1861 – 1941), sống và làm quan dưới các triều đại vua Kiến Phúc, Duy Tân, Khải Định, Bảo Đại. Con đường quan lộ của ông khá suông sẻ, hanh thông. Ông đậu Cử nhân năm Giáp Thân (1884), năm đầu vua Kiến Phúc, lần lượt được bổ vào Nội Các, thăng Tri phủ, Viên ngoại Cơ mật, tổng đốc Nam Nghĩa… và lần lượt được ban các phẩm tước như Thái tử Thiếu bảo, Hiệp tá Đại học sĩ. Năm Duy Tân thứ 8, năm 1913, ông nhậm chức Thượng thư Bộ học kiêm Bộ hộ.
Tiếp đến, ông làm Thượng thư Bộ lễ kiêm Bộ công. Triều Khải Định, Bảo Đại, ông làm Đông các Đại học sĩ, tước Khánh Mĩ Quận Công và trở thành một trong “tứ 10 Luan van trụ” của triều đình. Đối với con cháu dòng họ Hồ Đắc, có bậc trưởng bối là quan cao nhất phẩm trong triều đình như ông Hồ Đắc Trung, thì đây chính là niềm tự hào của con cháu, và được gọi là con cháu của dòng họ “thi thư đạt lễ”. Trên chú trọng tôn thờ tổ tiên ông bà, dưới hướng đến chú trọng giáo dục, rèn giũa cho các thế hệ nhỏ mục đích gìn giữ, duy trì sự tôn nghiêm, thịnh vượng của gia tộc.
Theo gia phả, dòng họ Hồ Đắc có nguồn gốc ở Bắc, di cư vào Thuận Hóa từ sự kiện Đoàn Nhữ Hài vào nhậm chức. Đầu tiên, tổ tiên Hồ Đắc cư trú ở vùng đất thuộc huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên, về sau nhập tịch tại làng An Truyền, huyện Phú Vang cho đến ngày nay. Trải qua bao thăng trầm, vận đổi, một trong những vị tổ của dòng họ Hồ Đắc nhận thấy đời người quý nhất không phải chức tước, danh vọng, tiền bạc, quyền lực… mà chính là tình thương, lòng nhân ái, vị tha, sự phục vụ nhân sinh. Vì vậy, ông hướng con cháu của mình đi vào con đường Y đạo.
Từ đó không chỉ thời Chúa Nguyễn, mà đến các vua triều Nguyễn, dòng họ Hồ Đắc lần lượt có nhiều thế hệ làm quan Ngự y, cho đến đời ông Hồ Đắc Trung tuy không làm quan Ngự y, nhưng chí hướng làm quan của ông không nằm ngoài di huấn của tổ tiên. Năm 1893, ông Hồ Đắc Trung kết duyên với bà Châu Thị Ngọc Lương, người làng An Lai, huyện Hương Trà, nay là thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Bà Lương, sinh năm 1865, là con gái thứ 18 của ông Châu Văn Khoa và bà Trần Thị Uyển, thuộc đời thứ 6 của Châu phái gia phả thuộc Đệ tam phái làng An Lai, tỉnh Thừa Thiên. Cả hai ông bà có 6 con trai, 4 người con gái, trong đó Ni trưởng Diệu Không khi chưa xuất gia là con gái út của hai ông bà.
Nhân lễ thượng thọ 80 tuổi của mình, ông Hồ Đắc Trung viết: “Chồng vợ nay đặng tám mươi Mười con: bốn gái sáu con trai Gái thứ Cung phi Đệ Nhất giai 11 Luan van Ba gái gả nơi sang quý cả Năm trai đều đậu đại khoa rồi Một nhà hiếu đại đều đầy đủ Trung phần đây biết đố nhà ai?” Tất cả 10 người con của ông bà đều là những người ưu tú, không chỉ làm rạng danh dòng họ, thân tộc mà còn có sự cống hiến rất lớn cho đất nước. Đó là những vị Hồ Đắc Điềm – tiến sĩ Luật khoa; Hồ Đắc Di – tiến sĩ Y khoa; Hồ Đắc Liên – kỹ sư Khoáng học Địa chất; Hồ Đắc Ân – tiến sĩ Dược khoa; Hồ Đắc Thứ – chuyên ngành Ngân hàng tại Đại học Bách khoa Paris. Các con gái của ông, trong đó có bà Hồ Thị Huyên làm vợ ông Ưng Úy, có con trai là nhà bác học Bửu Hội; bà Hồ Thị Chỉ, Đệ nhất Giai phi, vợ vua Khải Định và bà Hồ Thị Hạnh, kết duyên với ông Cao Xuân Xang, sau này xuất gia là Ni trưởng Diệu Không. Ngoài ra, còn có nhiều anh chị em khác, các thế hệ hàng cháu thuộc dòng họ Hồ Đắc làm nên sự nghiệp, không thuộc phạm vi nghiên cứu luận văn này nên chúng tôi mạn phép không đề cập đến.
Một dòng họ hội đủ các nhân tài không chỉ nổi danh trong nước, mà còn cả quốc tế, khiến chúng tôi không thể không đặt dấu hỏi làm thế nào mà dòng họ này có thể “sản sinh” ra những người con như thế? Nghiên cứu gia phả cho chúng ta câu trả lời; trước hết từ một nề nếp gia phong và nhân phẩm của những bậc làm cha, làm trưởng bối trong dòng họ Hồ Đắc. Bác sĩ Hồ Đắc Duy (1944 – 2018) đã kể lại trong cuốn Các câu chuyện trong gia phả họ Hồ Đắc rằng: “Ảnh hưởng của cha mẹ, gia đình và dòng họ đã là một phần tạo ra cá tính, phẩm chất. Một truyền thống đặc biệt của họ Hồ Đắc làng Chuồn (An Truyền) là sự kính trọng tuyệt đối đối với các bậc trưởng thượng theo phong cách lễ giáo của gia đình [.] Khi các con cháu đến thăm ông bà, cha mẹ chú bác…, thì các cụ khảo bài… có khi ra bài toán, đề luận văn bắt ngồi tại chỗ để làm, có khi bắt đối thoại với các cụ bằng chữ Tây, có khi bắt làm thơ, câu đối… Đối với trẻ còn đi học thì đó là đại họa 12 Luan van vì sợ lòi cái dốt, cái kém của mình, còn đối với con cháu đã có công ăn việc làm thì đó là cuộc trao đổi, đàm luận sôi nổi, thẳng thắn giữa cha mẹ anh chị em, trong đó mọi khuynh hướng đều được tôn trọng, không bị áp đặt” [2]. Trên nền tảng này, chúng ta có thể đưa ra nhận định rằng, khi mà các phép tắc trong gia đình đã trở thành thói quen, thì tất cả mọi thành viên trong gia đình hình thành nên một khuôn phép chuẩn mực, mỗi cá nhân chỉ việc “tiến lên”, chứ ít khi nào có thể sa đà lạc lối.
Điều này đã trở thành một ý thức hệ, một sức mạnh đoàn kết trong toàn gia tộc, và không có nghi ngờ gì về sự “hội đủ nhân tài” trong một dòng họ như dòng họ Hồ Đắc giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Bản thân ông Hồ Đắc Trung, làm quan nhất phẩm thuộc hàng “tứ trụ” của triều đình, là một vị quan chính trực, hết lòng cống hiến cho triều đình, không những vậy ông có tài trí cầu tiến và trọng hiền tài. Ông từng quý trọng và khâm phục nghĩa khí yêu nước của hai ông Thái Phiên, Trần Cao Vân mà không quản ngại tính mạng, sự nghiệp làm quan của mình đã tìm cách cứu hai ông này khi bị Pháp bắt giữ tại Quảng Nam. Ông là người viết ra bản án “luận tội” vua Duy Tân, khiến thực dân Pháp không những không thể kết án tử hình vị vua yêu nước của nhân dân ta, mà còn “đuối lý” trước lời lẽ của ông rằng vua Duy Tân chỉ “có lỗi với Chính phủ bảo hộ nhưng không phạm tội với người dân Việt Nam”.
Lời lẽ của ông trước thế lực thực dân chỉ chực kìm kẹp vua quan nhà Nguyễn, đã nói lên sự trung can của vị quan đầu triều nhà Nguyễn này và cũng hiếm thấy khi thực dân Pháp càng lúc càng muốn khống chế triều đình, từ vua đến quan. Ngay như ông Nguyễn Hữu Bài vừa là thầy, vừa là một trong sáu phụ chính mà Pháp lập ra để kiểm soát vua Duy Tân cũng đã đối: “Nghĩ việc đời mà ngán cho đời, đành nhắm mắt đến đâu hay đó”. Do đó, việc làm của ông Hồ Đắc Trung chính là “đến đâu hay đến đấy” nhưng là đâu đâu cũng thể hiện sự trung can nghĩa đảm, nghĩ cho dân cho nước và là thành trì mang nha, tiềm ẩn cho các sức mạnh phong trào dân tộc 13 Luan van ta. Ông không nghiêng theo Pháp để giữ vững quyền thế, không theo phe cánh áp bức những người đối lập, mà cùng người cùng chí hướng hỗ trợ những vị quan, những chí sĩ hết lòng lo cho xã tắc, cho người dân.
Ông từng cùng ông Cao Xuân Dục bảo lãnh và giúp đỡ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc lúc làm quan Tri huyện Bình Khê, Bình Định. Do cụ Phó thường hay bênh vực người nghèo khổ, trừng trị quan tham ô và “để sổng” một số phạm nhân chính trị nên bị chính quyền và thực dân Pháp bãi chức, phạt đòn, phạt tiền. “Ông [Hồ Đắc Trung] thuộc tầng lớp quan lại xuất thân Nho giáo nhưng đã sớm nhận thức sự lỗi thời trong phương thức quản lý xã hội theo học thuyết Nho giáo, đã đến lúc thanh niên Việt Nam phải được trang bị học vấn phương Tây mới có thể giúp việc mở mang đất nước sau này” [20, tr. Chính vì thế, trong phạm vi quyền hạn của mình, ông là người hỗ trợ đắc lực về tài chính cho các hoạt động yêu nước của các chí sĩ có tư tưởng tiến bộ ở nước ta lúc bấy giờ, như mở trường tư thục Dục Thanh tại Phan Thiết, các tổ chức Quang Phục Hội, Duy Tân Hội và sau này là các hoạt động vì dân tộc vì đạo pháp của cô con gái út, đó là Ni trưởng Diệu Không.