phần Mở đầu và Kết luận, phần Nội dung được tổ chức thành 4 chương cụ thể như sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu văn hóa tƣ tƣởng Phật giáo qua tƣ liệu văn bia Lý – Trần. Gồm: Các công trình nghiên cứu chuyên 10 z về văn hóa, tư tưởng, lịch sử có trích dẫn, đề cập đến nội dung văn bia Lý – Trần, các công trình nghiên cứu chuyên về văn bia Lý – Trần có gợi nhắc đến yếu văn hóa tư tưởng Phật giáo. Văn hóa Phật giáo qua tƣ liệu văn bia Lý - Trần: Chùa - Tháp - Lễ hội. Gồm: Văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể.
Văn hóa vật thể gồm: Tên gọi chùa tháp, không gian hiện hữu của chùa, tháp, loại hình mặt bằng, hệ thống tượng pháp và bích họa trong chùa, tháp. Văn hóa phi vật thể gồm: Loại hình lễ hội, bố cục cơ bản của lễ hội, chức năng của lễ hội. Tƣ tƣởng Phật giáo qua tƣ liệu văn bia Lý – Trần: Kinh Pháp Hoa – Kinh Hoa Nghiêm. Gồm: Triết lý cơ bản của Pháp Hoa, Hoa Nghiêm; thí dụ điển hình của Pháp Hoa, Hoa Nghiêm; Nhân vật tiêu biểu của Pháp Hoa; việc diễn giải kinh Pháp Hoa, Hoa Nghiêm; việc vận dụng kinh Hoa Nghiêm qua hình thức truyền giới Bồ tát.
Tƣơng quan Tam giáo qua tƣ liệu văn bia Lý – Trần2. Gồm: Phật gia, Nho gia là tác giả của những văn bia Phật giáo; Phật gia, Nho gia là tác giả của những công trình chùa tháp; nhận định của Phật gia, Nho gia về vai trò Phật – Thánh, vai trò của giáo điển Phật - Nho trong đời sống tôn giáo, xã hội. Sau mỗi chương đều có phần Tiểu kết. Sau phần Tài liệu tham khảo là phần Phụ lục.
Phần này là bảng Chú thích thuật ngữ Phật giáo trong 10 văn bia tiêu biểu của nghiên cứu sinh. Trước phần chú thích mỗi bia có phần văn bản chữ Hán. 2 (Ở đây tuy nói là Tam giáo, nhưng chủ yếu chỉ là hai giáo Phật – Nho) 11 z NỘI DUNG CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VĂN HÓA TƢ TƢỞNG PHẬT GIÁO QUA TƢ LIỆU VĂN BIA LÝ – TRẦN Văn hóa tư tưởng Phật giáo Việt Nam trong văn bia Lý – Trần tuy đến giờ vẫn chưa được nghiên cứu.
Nhưng việc sử dụng nội dung của một số văn bia Lý – Trần trong các tác phẩm mang tính văn hóa tư tưởng của Phật giáo nói riêng, Việt Nam nói chung thì đã khá phổ biến. Ngoài ra các yếu tố về văn hóa tư tưởng của Phật giáo cũng được giới thiệu sơ lược hoặc gợi nhắc trong các tác phẩm nghiên cứu chuyên về văn bia Lý – Trần dưới góc độ văn bản học. Vì thế, trong chương này luận án xin đề cập đến một số công trình tiêu biểu như vậy. Điều này vừa khẳng định thêm giá trị của văn bia Lý – Trần, vừa xác định thêm nguyên nhân phạm vi nghiên cứu ở các chương khác của luận án.
Tình hình nghiên cứu văn hóa tƣ tƣởng Phật giáo qua tƣ liệu văn bia Lý – Trần 1. Tình hình sử dụng nội dung văn bia Lý – Trần vào các chuyên đề nghiên cứu Nếu Thiền uyển tập anh là tác phẩm nhắc đến tên những bài văn bia và tác phẩm văn bia để nói về sự nghiệp trước tác của các tổ sư thời Lý thì tác phẩm Tam tổ thực lục do Thiền sư Tính Quảng Thích Điều Điều (1694 – 1768) và Hải Lượng Ngô Thì Nhậm (1746 – 1803) soạn vào năm 1765 lại là tác phẩm sử dụng khá trọn vẹn nội dung văn bia tháp Viên Thông Thanh Mai do Trung Minh biên tập, thiền sư Huyền Quang khảo đính từ Đoạn sách lục của chính thiền sư Pháp Loa và được vua Trần Dụ Tông cho khắc vào năm Đại Trị thứ 5 (1363) để nói rõ cuộc đời của Pháp Loa với mọi hoạt động được tính theo năm tháng trong suốt hơn hai mươi năm xuất gia hoằng đạo. Việc làm này ngoài giá trị về nội dung, còn góp phần không ít cho việc sưu tập nghiên cứu văn bản này trong các tác phẩm văn bia, văn khắc kể trên vì sự mài mòn theo thời gian của bia đá. Năm 1949, Hoàng Xuân Hãn cho ra đời tác phẩm Lý Thường Kiệt – Lịch sử ngoại giao và tông giáo thời Lý3 (NXB Sông Nhị) đã sử dụng nội dung năm bia thời Lý: Bia chùa Báo Ân núi An Hoạch (1100), bia chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh (1110), bia tháp Sùng Thiện Diên Linh núi Long Đội (1121), bia chùa Hương Nghiêm núi Càn Ni (1124), bia chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn (1126), để nói về gốc tích, việc đánh Chiêm Thành, việc được phong chức tước, 3 Hiện nay tác phẩm này được sưu tập trong bộ La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, tập 2, NXB Giáo Dục, 1998 12 z việc quản trị nhân dân vùng Thanh Hóa.
Đặc biệt là nói về hoạt động của Lý Thường Kiệt đối với dân tộc và đạo Phật, ảnh hưởng của Lý Thường Kiệt đối với sự sáng lập, trùng tu của những ngôi chùa trên, cũng như giao tình của Lý Thường Kiệt với những thiền sư được nhắc đến trong các văn bia trên như Pháp Bảo, Mãn Giác, Đạo Dung… Năm 1973, Nguyễn Lang cho ra đời bộ Việt Nam Phật giáo sử luận (NXB Sài Gòn). Trong tập một phần Đạo Phật và văn hóa tác giả liệt kê danh sách 10 văn bia thời Lý: Chùa Báo Ân núi An Hoạch, chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh, tháp Sùng Thiện Diên Linh, chùa Hương Nghiêm núi Càn Ni, chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn, chuông chùa Thiên Phúc, tháp Hội Thánh núi Ngạc Già, tháp Lăng Già, chùa Viên Quang, chùa Diên Phúc thôn Cổ Việt. Trong đó, hai tháp Hội Thánh (1092) và Lăng Già (1092) không biết tác giả dẫn từ đâu, tuy tác giả có nói là phần lớn có trong Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn và Lý Thường Kiệt của Hoàng Xuân Hãn. Sau đó tác giả có dẫn phần minh văn trong văn bia chùa Linh Xứng.
Riêng phần viết về lịch sử cuộc đời của thiền sư Pháp Loa thời Trần, tác giả dựa vào Tam tổ thực lục mà thực chất chính là văn bia tháp Viên Thông Thanh Mai để nói lên những sinh hoạt Phật giáo thời Trần, cũng như tư tưởng Thiền học của thiền sư Pháp Loa. Bộ Lịch sử tư tưởng Việt Nam của Nguyễn Đăng Thục (NXB TPHCM, 1992), phần tư tưởng thời Lý (tập 3) và tư tưởng thời Trần (tập 4), tác giả dẫn hầu hết số văn bia của Lý Thường Kiệt – Lịch sử ngoại giao và tông giáo thời Lý, bia tháp Viên Thông trong Tam tổ thực lục, cùng ba bia chùa Thiệu Phúc của Lê Quát, chùa Khai Nghiêm, tháp Linh Tế của Trương Hán Siêu nhằm khẳng định tư tưởng của võ tướng Lý Thường Kiệt; tư tưởng phồn thực trong văn hóa Việt qua nghệ thuật chùa Một Cột trong bia tháp Sùng Thiện Diên Linh; tinh thần Thiền học kết hợp Mật học của thiền sư Pháp Loa; Tư tưởng hợp sáng của ba giáo Nho – Phật – Đạo đương thời; Sự nhìn nhận hẹp hòi của Nho gia Lê Quát, Trương Hán Siêu… trong việc bài xích Phật giáo. Bộ Lịch sử Phật giáo Việt Nam (Chủ yếu là tập 3, NXB TP HCM, 2002), Lê Mạnh Thát dẫn văn bia tháp Sùng Thiện Diên Linh để nói về nền công nghiệp xây dựng chế tạo của Việt thời Lý Nhân Tông, lễ hội đèn Quảng Chiếu, lễ Phật đản, lễ cầu an, lễ khánh thành, mục đích xây dựng chùa, việc thờ tự trong Phật điện… thuộc phạm vi sinh hoạt Phật giáo trong mục Lý Nhân Tông và nền Phật giáo thế sự. Mục viết về thiền sư Từ Đạo Hạnh, thiền sư Giác Hải, thiền sư Đạo Dung, thiền sư Mãn Giác, tác giả cũng có nhắc đến văn bia chuông chùa Thiên Phúc, văn bia chùa Báo Ân núi An Hoạch, văn bia chùa Linh Xứng 13 z núi Ngưỡng Sơn, văn bia chùa Hương Nghiêm núi Càn Ni nhằm làm rõ hành trạng của các vị đối với Phật giáo và dân tộc Việt.
Mục Phong trào nữ Phật tử thời Lý, tác giả dẫn các bia chùa Diên Phúc thôn Cổ Việt, mộ chí Phụng Thánh Phu nhân, bia chùa Phúc Minh thời Trần để nói đến bốn trung tâm Phật giáo do những người nữ phụ trách: Vùng Phù Đổng với viện Hương Hải của Ni sư Diệu Nhân, vùng Tuế Phong với chùa Phúc Thánh Diên Linh của phu nhân Phụng Thánh, vùng Cổ Việt với chùa Diên Phúc của gia đình Đỗ Anh Vũ, vùng Thanh Hóa với chùa Thánh Ân của tín nữ Diệu Tín, cháu danh tướng Lý Thường Kiệt, cũng như việc nhìn nhận và chuẩn bị về cái chết của những người phật tử đương thời. Mục Hà Hƣng Tông với Phật giáo vùng biên cƣơng thời Lý, văn bia chùa Bảo Ninh Sùng Phúc đã được trích dẫn nhằm giới thiệu mục đích xây chùa, tư tưởng chân không diệu hữu, việc chăn dắt bách tính của các quan viên theo tinh thần Phật giáo cũng như chính sách hoàng tộc hóa các thủ lĩnh vùng biên trên tinh thần của Phật giáo… Hà Văn Tấn trong tác phẩm Đến với lịch sử văn hóa Việt Nam (NXB Nhà Văn, 2005), mục Chùa Việt Nam dẫn khá nhiều văn bia Lý – Trần từ tên văn bia cho đến nội dung văn bia. Như bia chùa Báo Ân núi An Hoạch, chùa Bảo Ninh Sùng Phúc, chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn, tháp Sùng Thiện Diên Linh, chùa Viên Quang, chùa Diên Phúc thôn Cổ Việt, tự già Báo Ân, chùa Thiệu Long, tháp Linh Tế, tháp Viên Thông… kết hợp cùng các công trình khảo cổ nhằm khẳng định kiến trúc chùa, tháp, tượng thờ, tranh vẽ trong chùa, cũng như sự hưng thịnh của Phật giáo thời Lý – Trần. Tác phẩm Nghệ thuật điêu khắc Việt Nam thời Lý và thời Trần (NXB Khoa Học Xã Hội, 1997), Tống Trung Tín đã căn cứ rất nhiều văn bia Lý – Trần trong tập Thơ văn Lý – Trần, đặc biệt những văn bia có đề cập đến tượng thờ để nói về sự phát triển của các loại tượng Phật giáo về chủng loại, kích thước lớn nhỏ, chất liệu đồng đá.
các tượng Phật Thích Ca, Tam thế Phật, A Di Đà, bồ tát Quan Âm, Tứ Thiên Vương, Bát bộ Kim Cang, Long thần hộ pháp. Tác phẩm Văn hóa Thăng Long- Hà Nội hội tụ và tỏa sáng do Trần Văn Bính chủ biên (NXB Thời Đại, 2009), phần nói về lễ hội đèn Quảng Chiếu của thời Lý trong các bài viết Về hội đèn Quảng Chiếu ở Thăng Long qua bia tháp Sùng Thiện Diên Linh của Hà Văn Tấn, Diện mạo lễ hội cổ truyền Thăng Long – Hà Nội của Nguyễn Chí Bền đều được căn cứ theo miêu thuật của văn bia tháp Sùng Thiện Diên Linh.