Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Hán Nôm (mã số: 62 22 01 04) với đề tài “Văn hóa tư tưởng Phật giáo qua tư liệu văn bia Lý–Trần” do nghiên cứu sinh Mai Thị Thơm thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Nguyễn Kim Sơn, hoàn thành tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2016.

Về tính cấp thiết, văn hóa tư tưởng Phật giáo thời Lý – Trần giữ vai trò nền tảng trong đời sống tâm linh và kiến thiết xã hội thời kỳ độc lập tự chủ của Đại Việt. Giai đoạn này tiếp nối và dung hợp văn hóa tư tưởng Phật giáo Nguyên thủy, Phật giáo Đại thừa sơ khởi Ấn Độ với văn hóa bản địa, kết hợp truyền thống Thiền tông Trung Hoa theo mô hình Thiền – Giáo hợp nhất, Thiền – Tịnh – Mật đồng hành và Phật – Đạo – Nho tịnh dụng kế thừa từ thời kỳ Thiền phái Pháp Vân – Kiến Sơ. Nguồn tư liệu văn bia Hán Nôm hiện còn tuy số lượng hạn chế nhưng phản ánh chân thực, sinh động các sinh hoạt tôn giáo, quy chuẩn kiến trúc và chiều sâu tư tưởng học thuật đương thời.

Về khoảng trống nghiên cứu, các công trình trước đây chủ yếu trích dẫn văn bia Lý – Trần phục vụ cho các chuyên đề lịch sử, văn học, khảo cổ học, mỹ thuật học, hoặc chỉ giới thiệu văn bản học thuần túy. Chưa có công trình nào khảo sát chuyên biệt, toàn diện và có hệ thống về văn hóa tư tưởng Phật giáo trong văn bia Lý – Trần dưới góc độ cấu trúc của một tôn giáo hoàn chỉnh.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm:

  1. Hệ thống hóa và làm sáng rõ các yếu tố văn hóa tôn giáo (vật thể và phi vật thể) của Phật giáo thể hiện qua chùa, tháp, ngẫu tượng, bích họa và lễ hội trong văn bia Lý – Trần.
  2. Khảo sát, phục dựng chiều sâu tư tưởng Phật giáo thông qua sự vận hành của hai bộ kinh điển nền tảng là kinh Pháp Hoa và kinh Hoa Nghiêm.
  3. Phân tích hiện tượng tương quan Tam giáo (chủ yếu là Nho – Phật) từ góc độ lực lượng sáng tác, người khởi dựng công trình và nhận thức triết học về vũ trụ, nhân sinh, vai trò trị thế.

Các câu hỏi nghiên cứu tương ứng được luận án đặt ra và giải quyết gồm:

  1. Học giới đương thời và tiền bối đã tiếp cận hệ thống văn bia Lý – Trần như thế nào và khoảng trống học thuật nào cần tiếp tục lấp đầy?
  2. Văn bia Lý – Trần ghi nhận diện mạo văn hóa vật thể (tên gọi, không gian tồn tại, mặt bằng kiến trúc, ngẫu tượng, bích họa) và văn hóa phi vật thể (chủng loại, bố cục, chức năng lễ hội) của Phật giáo ra sao?
  3. Những luận điểm triết lý cơ bản, thí dụ điển hình, nhân vật tiêu biểu và phương thức vận dụng thực hành của kinh Pháp Hoa và kinh Hoa Nghiêm được thể hiện với tần suất và nội dung như thế nào trong bi văn?
  4. Mối quan hệ tương quan Tam giáo được thể hiện ra sao qua sự tham gia của tầng lớp Nho gia và Phật gia trong việc soạn bia, tạo dựng công trình và quan niệm về sự bổ trợ giữa đạo trị đời của Thánh nhân với đạo giải thoát của Phật tổ?

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các yếu tố văn hóa tư tưởng Phật giáo và hiện tượng tương quan Tam giáo được khắc ghi trong văn bia Lý – Trần. Phạm vi thời gian trải dài từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIV. Phạm vi không gian thuộc cương vực Đại Việt thời Lý – Trần. Về phạm vi tư liệu, luận án chọn lọc 28 văn bia tiêu biểu đáp ứng bốn tiêu chí nghiêm ngặt: văn bản khắc trên chất liệu đá; mang tiêu đề chùa – tháp; có kết cấu văn thể hoàn chỉnh (gồm phần ký và phần minh); chứa đựng nội dung thuộc bốn yếu tố cấu thành tôn giáo (không gian tôn giáo, thực hành tôn giáo, triết lý kinh điển và tương quan xã hội).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành tổng thuật tình hình nghiên cứu tư liệu văn bia Lý – Trần qua hai hướng tiếp cận chính trong học giới:

Hướng thứ nhất là tình hình sử dụng nội dung văn bia Lý – Trần vào các chuyên đề nghiên cứu lịch sử, văn hóa, tư tưởng, nghệ thuật:

  • Tác phẩm cổ điển: Thiền uyển tập anh nhắc đến tên các bài bi văn gắn với sự nghiệp trước tác của các tổ sư thời Lý. Tác phẩm Tam tổ thực lục do Thiền sư Tính Quảng Thích Điều Điều và Hải Lượng Ngô Thì Nhậm soạn năm 1765 đã sử dụng nội dung văn bia tháp Viên Thông chùa Thanh Mai (do Trung Minh biên tập, Huyền Quang khảo đính từ Đoạn sách lục của Pháp Loa, khắc năm 1363) để phục dựng cuộc đời hoằng pháp hơn 20 năm của Thiền sư Pháp Loa.
  • Lịch sử và tư tưởng học: Hoàng Xuân Hãn (1949) trong Lý Thường Kiệt – Lịch sử ngoại giao và tông giáo thời Lý đã sử dụng 5 văn bia thời Lý (chùa Báo Ân núi An Hoạch, chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh, tháp Sùng Thiện Diên Linh, chùa Hương Nghiêm núi Càn Ni, chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn) để làm rõ tông tích, hoạt động chính trị và quan hệ của Lý Thường Kiệt với các thiền sư như Pháp Bảo, Mãn Giác, Đạo Dung. Nguyễn Lang (1973) trong Việt Nam Phật giáo sử luận (tập 1) lập danh mục 10 văn bia thời Lý và khai thác bia tháp Viên Thông chùa Thanh Mai để trình bày sinh hoạt thiền phái Trúc Lâm. Nguyễn Đăng Thục (1992) trong Lịch sử tư tưởng Việt Nam (tập 3 và tập 4) khai thác các văn bia thời Lý cùng văn bia chùa Thiệu Phúc của Lê Quát, chùa Khai Nghiêm và tháp Linh Tế của Trương Hán Siêu để luận bàn về tư tưởng phồn thực, tinh thần hợp sáng Tam giáo và thái độ phê phán Phật giáo của một số Nho gia cuối thời Trần. Lê Mạnh Thát (2002) trong Lịch sử Phật giáo Việt Nam (tập 3) sử dụng bia tháp Sùng Thiện Diên Linh để khảo sát hoạt động kinh tế, công nghiệp chế tạo, hội đèn Quảng Chiếu thời Lý Nhân Tông; khai thác bia chùa Diên Phúc thôn Cổ Việt, bia chùa Phúc Minh và mộ chí Phụng Thánh Phu nhân để nghiên cứu phong trào nữ Phật tử; dùng bia chùa Bảo Ninh Sùng Phúc để phân tích chính sách hòa hợp biên cương và tư tưởng chân không diệu hữu.
  • Khảo cổ và mỹ thuật học: Hà Văn Tấn (2005) trong Đến với lịch sử văn hóa Việt Nam khảo sát kiến trúc chùa tháp, bích họa và chỉnh đính các bản dịch sai về hội đèn Quảng Chiếu trong các tài liệu trước. Tống Trung Tín (1997) trong Nghệ thuật điêu khắc Việt Nam thời Lý và thời Trần căn cứ văn bia khảo cứu hệ thống tượng đồng, tượng đá. Trần Trọng Dương (2013) khảo cứu biểu tượng Liên Hoa đài qua văn bia tháp Sùng Thiện Diên Linh. Ngoài ra có các công trình của Trần Quốc Vượng, Vũ Tuân Sán (2009), Tạ Quốc Khánh (2013), Nguyễn Duy Hinh (1992), Hoàng Văn Khoán (2000).

Hướng thứ hai là các công trình nghiên cứu chuyên sâu về văn bản văn bia Lý – Trần:

  • Bộ tuyển tập Thơ văn Lý – Trần (Viện Văn học, 1977, 1978, 1989) dịch thuật, giới thiệu 10 bia thời Lý và 9 bia thời Trần; Đặng Thai Mai nhận định về tính bình đẳng trước Phật pháp trong sinh hoạt lễ hội chùa chiền.
  • Bộ Văn khắc Hán Nôm Việt Nam (Viện Nghiên cứu Hán Nôm hợp tác với EFEO và Đại học Trung Chính Đài Loan, tập 1 năm 1998 gồm 17 văn bia thời Lý, tập 2 năm 2002 gồm 44 văn bia thời Trần) thực hiện giám định văn bản, niên đại, tác giả.
  • Các công trình chuyên khảo: Văn bia thời Lý (2010, Nguyễn Văn Thịnh chủ biên) khảo cứu 18 văn bia, bổ sung văn bản Minh Tịnh tự bi văn (1090); Văn bia chùa Phật thời Lý (2011, Phân viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam tại Hà Nội); Trịnh Khắc Mạnh trong Hán văn Việt Nam và chuyên khảo Một số vấn đề về văn bia Việt Nam (2008, phát triển từ luận án phó tiến sĩ bảo vệ năm 1990 tại Viện Đông phương học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô); các bài viết chuyên đề của Phạm Văn Ánh và Đinh Khắc Thuân (2013).

Về khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các công trình trên dừng lại ở mức độ dẫn chứng tư liệu minh họa cho từng sự kiện lịch sử, mỹ thuật, hoặc khảo sát hình thức văn bản học. Các khía cạnh cốt lõi như triết lý kinh điển nền tảng quy định sự hiện hữu của kiến trúc và lễ hội, sự chi phối của kinh Pháp Hoa và kinh Hoa Nghiêm, cũng như tính quy luật trong sự tham gia của tầng lớp Nho gia vào việc trước tác bi ký Phật giáo chưa được đặt vào một hệ thống khảo cứu chuyên biệt. Luận án định vị là công trình đầu tiên khảo sát văn bia Lý – Trần một cách đồng bộ từ bốn thành tố tôn giáo học: không gian, thực hành, triết lý và tương quan xã hội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng lý thuyết Thông diễn học, hay Thuyên thích học (Hermeneutics), với định hướng giải mã, cắt nghĩa các biểu tượng ngôn ngữ và thông tin ẩn tàng trong văn bản bi ký cổ. Theo lý thuyết này, từng yếu tố văn tự, hình tượng nghệ thuật và khái niệm giáo lý được đặt trong mối quan hệ nội văn bản và liên văn bản với các tác phẩm kinh điển Phật giáo, thư tịch Nho – Đạo và bối cảnh lịch sử xã hội đương thời.

Hệ thống phương pháp nghiên cứu cụ thể được tác giả triển khai bao gồm:

  • Phương pháp văn bản học: Đọc sâu, khảo biện văn tự, hiệu khám dị bản, giải mã hệ thống ký hiệu Hán Nôm và chỉnh lý các sai lệch âm nghĩa, thuật ngữ Phật giáo trong các bản dịch trước đây; diễn giải nghĩa lý các đoạn ký và minh trong 28 văn bia khảo sát.
  • Phương pháp định lượng: Thống kê tần suất xuất hiện của các tên gọi chùa tháp, kiểu thức mặt bằng, ngẫu tượng, bích họa, các dẫn dụ kinh điển (Pháp Hoa, Hoa Nghiêm), và thành phần tác giả soạn bia, tác giả công trình nhằm xác lập các bảng đối chiếu số liệu cụ thể.
  • Phương pháp liên ngành: Vận dụng tri thức văn hóa học để khảo sát không gian và lễ hội tôn giáo; loại hình học nhân vật lịch sử để phân loại đội ngũ tác giả văn bia và người hưng công; tôn giáo học, triết học và mỹ thuật học để phân tích giáo lý Hiển – Mật, tinh thần Tam giáo đồng nguyên và nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc đá cổ.

Nguồn tư liệu nghiên cứu:

  • Tư liệu văn khắc thực địa: 28 văn bia Hán Nôm chọn lọc thời Lý – Trần trong tuyển tập Văn khắc Hán Nôm Việt Nam (tập 1, 1998; tập 2, 2002) và tác phẩm Văn bia thời Lý (2010), có đối chiếu mở rộng với minh văn chuông đồng (Thiên Phúc tự chung minh), ma nhai và bệ Phật liên quan.
  • Tư liệu giáo điển và thư tịch đối chiếu: Kinh luật luận Đại thừa và Nguyên thủy gồm Tăng nhất A hàm, Trường A hàm, Luật Tứ phần, Đại trí độ luận, kinh Pháp Hoa, kinh Hoa Nghiêm, kinh Bát Nhã; các tác phẩm kinh điển Nho giáo (Kinh Dịch) và Đạo giáo (Đạo Đức kinh, Nam Hoa kinh); các bộ sử liệu như Đại Việt sử ký toàn thư, Kiến văn tiểu lục, Thiền uyển tập anh, Tam tổ thực lục.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu văn hóa tư tưởng Phật giáo qua tư liệu văn bia Lý – Trần

Chương 1 khái quát lịch sử nghiên cứu văn bia thời Lý và thời Trần từ các thư tịch cổ đến các công trình học thuật cận hiện đại. Tác giả chỉ ra rằng việc sử dụng tư liệu văn bia trước đây tuy phong phú nhưng mang tính tản mát: các nhà sử học khai thác để đính chính năm tháng, hành trạng nhân vật; các nhà mỹ thuật trích xuất để đối chiếu hoa văn bệ đá, kích thước tượng Phật; các nhà khảo cổ dựa vào bi ký để định vị nền móng công trình.

Về mặt văn bản học, tổng số văn bia được thống kê trong bộ Văn khắc Hán Nôm Việt Nam gồm 17 văn bản thời Lý (16 bản khắc đá, 1 bản khắc đồng; phân bố gồm 9 bia chùa, 1 bia tháp, 1 chuông, 4 mộ chí, 1 ma nhai, 1 bệ Phật) và 44 văn bản thời Trần (36 bản khắc đá, 7 bản đồng, 1 bản gỗ; phân bố gồm 11 bia chùa, 3 bia tháp, 6 chuông chùa, 1 chuông quán, 6 ma nhai, 1 trụ đá ruộng đất, 3 bệ Phật, 4 văn bản ruộng đất, 1 trụ gỗ, 1 bia thần đạo, 2 bia từ miếu, 1 bia gia tộc, 1 thánh chỉ, 1 bia đình, 1 thơ lưu đề, 1 bia động).

Từ khối tư liệu này, tác giả thiết lập hệ thống tiêu chí tuyển chọn 28 văn bản chùa – tháp tiêu biểu khắc trên đá, có kết cấu thể tài ký – minh hoàn chỉnh và chứa đựng nội dung về văn hóa tư tưởng Phật giáo.

Bảng danh mục 28 văn bia Lý – Trần được khảo sát trong luận án:

STT Tên tác phẩm Tác giả Niên đại Địa điểm
1 Minh Tịnh tự bi văn Thích Thiện Giác 1090 Thanh Hóa
2 An Hoạch sơn Báo Ân tự bi ký Chu Văn Thường 1100 Thanh Hóa
3 Bảo Ninh Sùng Phúc tự bi Lý Thừa Ân 1107 Tuyên Quang
4 Sùng Nghiêm Diên Thánh tự bi minh Thích Pháp Bảo 1118 Thanh Hóa
5 Đại Việt quốc Lý gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi Nguyễn Công Bật 1121 Hà Nam
6 Càn Ni sơn Hương Nghiêm tự bi minh Thích Pháp Bảo (?) 1125 Thanh Hóa
7 Ngưỡng sơn Linh Xứng tự bi minh Thích Pháp Bảo 1126 Thanh Hóa
8 Cổ Việt thôn Diên Phúc tự bi minh tịnh tự Công Diễm 1157 Hưng Yên
9 Đại Chu Ma Áng Đại Quang Thánh bi Bồ Đề đại sư 1166 Ninh Bình
10 Phụng Thánh phu nhân Lê thị mộ chí Quốc sử 1174 Phú Thọ
11 Viên Quang tự bi minh Dĩnh Đạt 1175–1210 Nam Định
12 Báo Ân thiền tự bi ký Ngụy Tư Hiền 1210 Vĩnh Phúc
13 Chúc Thánh Báo Ân tự bi Khuyết danh 1185–1214 Hưng Yên
14 Thiệu Long tự bi Khuyết danh 1226 Hà Nội (Hà Tây cũ)
15 Hưng Phúc tự bi Khuyết danh 1324 Thanh Hóa
16 Đại Bi Diên Minh tự bi Sa môn Sùng Nhân 1327 Hưng Yên
17 Diên Phúc viện bi Khuyết danh 1328 Hà Nội (Hà Tây cũ)
18 Sùng Thiên tự bi HT Huệ Văn 1331 Hải Dương
19 Khai Nghiêm bi ký Trương Hán Siêu 1339 Bắc Giang
20 Dục Thúy sơn Linh Tế tháp ký Trương Hán Siêu 1343 Ninh Bình
21 Thanh Mai Viên Thông tháp bi TS Huyền Quang 1362 Hải Dương
22 Hiển Diệu tháp bi Trần Nguyên Trác 1367 Ninh Bình
23 Sùng Khánh tự bi Tạ Thúc Ngao 1367 Hà Giang
24 Phúc Minh tự bi Đỗ Nguyên Chương 1369 Thái Bình
25 Sùng Nghiêm tự bi Phạm Sư Mạnh 1372 Thanh Hóa
26 Thanh Hư động bi Trần Duệ Tông 1373–1377 Hải Dương
27 Từ Ân tự bi Hồ Tông Thốc 1382 Thái Bình
28 Vĩnh Báo tự bi Trần ? Hồng 1391 Ninh Bình

Chương 2: Văn hóa Phật giáo qua tư liệu văn bia Lý – Trần: Chùa – Tháp – Lễ hội

Chương 2 đi sâu phân tích hai bộ phận văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể của Phật giáo:

Văn hóa vật thể:

  • Tên gọi chùa – tháp: Thuật ngữ chung là Tự và Tháp. Từ “Tự” vốn bắt nguồn từ cơ quan tiếp đón tân khách của triều đình thời Hán (Hồng Lô tự tiếp đãi hai nhà sư Ma Đằng và Trúc Pháp Lan, lập ra chùa Bạch Mã), khi du nhập vào Việt Nam đã được dịch là “Chùa” hoặc “Chiền” (liên quan đến gốc từ Stupa/Thupa hoặc Caitya/Chi đề). Bên cạnh chữ Tự, văn bia sử dụng phong phú các thuật ngữ gắn liền với các thành tố: “Sát” (Ksetra - cõi nước, hoặc Laksata - cột phướn) như Bảo sát, Tịnh sát, Tăng sát; “Vũ” (ngôi nhà rộng) như Phạn vũ, Cam vũ; “Giới” (cõi Phật) như Kim giới, Bảo giới; “Già lam” (Sangharama) chỉ khu vườn rừng tĩnh tu của tăng đoàn; “Bảo sở” (cảnh giới Niết bàn đích thực trong kinh Pháp Hoa); “Cảnh/Viện” xuất phát từ truyền thống Thiền tông; danh hiệu “Đại danh lam” xuất phát từ định chế phân hạng chùa (Đại, Trung, Tiểu danh lam) vào năm 1088 thời Lý Nhân Tông. Tháp được gọi là Tốt Đổ Ba, Phù Đồ, Bảo Tháp, Sùng Tháp, phân loại theo giáo luật thành tháp thờ Như Lai, Bích Chi Phật, A La Hán, Chuyển Luân Vương và tăng đồ.
  • Không gian tồn tại:
    • Thắng tích cổ: Chùa thời Lý phần lớn dựng trên nền tích Phật tổ hoặc dấu tích ẩn sĩ tu hành xưa (5 ngôi chùa thời Lý; 0 ngôi chùa thời Trần). Ngược lại, chùa thời Trần chủ yếu xây dựng trên nền tảng gắn liền với công tích vua chúa tiền triều hoặc tổ tiên dòng họ quý tộc (2 chùa thời Lý; 6 chùa thời Trần), phản ánh bước chuyển về phát triển kinh tế tư nhân và thiết chế sở hữu ruộng đất gia tộc thời Trần.
    • Thắng cảnh: Chùa tọa lạc tại nơi có sản vật đặc biệt (đá xanh núi An Hoạch làm khánh, bia trong bia chùa Báo Ân; mưa thuận đầu xuân núi Long Đọi; mạch nước giao hòa đất Tây Quan ở chùa Từ Ân) hoặc nơi có địa thế phong thủy non xanh nước biếc, tựa núi nhìn sông, rồng ấp hổ chầu (Tuế Phong), hoặc nơi cửa ngõ giao thương thủy bộ thuận lợi (núi Ngưỡng Sơn, núi Dục Thúy).
    • Không gian của tháp: Tháp trung tâm đóng vai trò chủ thể kiến trúc (tháp Sùng Thiện Diên Linh); tháp phụ bố trí đối xứng hai bên trước Phật điện (hai tháp lưu ly chùa Diên Hựu), đặt sau chùa (tháp Đa Bảo chùa Hương Nghiêm), hoặc đối diện lầu chuông (tháp Nhạn chùa Viên Quang); tháp trên đỉnh núi cao thời Trần (Linh Tế, Hiển Diệu, Viên Thông).
  • Kiến trúc mặt bằng, ngẫu tượng và bích họa:
    • Mặt bằng chung (ghi nhận ở 8 bia Lý, 5 bia Trần) gồm: Phật điện ở vị trí trung tâm, lầu chuông bên trái, nhà bia bên phải, tăng phòng ở hai bên phía sau Phật điện, trai phòng, trù phòng, kho lẫm và tam quan. Khảo cổ học tại chùa Lạng (chùa Hương Lãng, Hưng Yên) xác nhận mô hình mặt bằng nền chùa ba bậc gần vuông thời Lý.
    • Mặt bằng chữ Tam (thể hiện rõ ở bia chùa Viên Quang, chùa Diên Phúc thôn Cổ Việt và di chỉ khảo cổ chùa Lấm ở Quảng Ninh) gồm: Tam quan (kiêm Tiền đường, nơi đặt tượng Hộ pháp), Phật điện ở giữa, Nhà tổ (Hậu điện) ở phía sau thờ hệ thống sáu đời tổ sư Thiền tông Trung Hoa.
    • Ngẫu tượng và bích họa (8 bia Lý, 6 bia Trần): Hệ thống tượng thờ trung tâm là Phật Thích Ca (gọi là Kim dung, Kim tướng, Kim tiên, Năng Nhân), bên cạnh tượng A Di Đà, Di Lặc, Ngũ trí Như Lai (chùa Minh Tịnh, chùa Linh Xứng), Tam thế Phật (Ca Diếp – Thích Ca – Di Lặc tại chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh; Di Đà – Thích Ca – Di Lặc tại các bia thời Trần), Quán Thế Âm (tượng nghìn tay tại chùa Đại Bi Diên Minh, Diên Phúc viện). Hệ thống bích họa trang nghiêm mô tả luật nhân quả, mười sáu cực quả của Mật tạng cùng biến tướng và chư thiên dâng hoa.

Văn hóa phi vật thể: Khảo sát 7 bia Lý và 4 bia Trần cho phép phân loại lễ hội Phật giáo thời Lý – Trần thành bốn nhóm chính:

  1. Lễ hội Thiết lập tứ chúng: Nghi thức thụ giới, bố tát, truyền Bồ tát giới cho tăng ni và Phật tử tại gia.
  2. Lễ hội Kỷ niệm: Lễ Phật đản, lễ Vu Lan bồn tưởng nhớ tổ tiên và Tam bảo.
  3. Lễ hội Cầu nguyện: Lễ cầu quốc thái dân an, tiêu biểu là đại hội đèn Quảng Chiếu ở kinh thành Thăng Long được ghi chép tường tận trong bia tháp Sùng Thiện Diên Linh với đàn tràng bảy Phật trang nghiêm.
  4. Lễ hội Khánh tán: Lễ khánh thành chùa, hoàn tất bảo tháp, chú tạo hồng chung, kết hợp hoạt động thuyết giảng giáo lý (như giảng Thất dụ kinh Pháp Hoa tại chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh). Lễ hội kết hợp nghi lễ tôn giáo trang nghiêm với sinh hoạt cộng đồng dân tộc (đua thuyền, múa rối nước), đóng vai trò gắn kết triều đình với muôn dân.

Chương 3: Tư tưởng Phật giáo qua tư liệu văn bia Lý – Trần: Kinh Pháp Hoa – Kinh Hoa Nghiêm

Chương 3 chứng minh kinh Pháp Hoa và kinh Hoa Nghiêm là hai giáo điển Đại thừa chi phối mạnh mẽ nhất văn hóa tư tưởng Phật giáo Lý – Trần, khẳng định đặc trưng “Thiền – Giáo dung thông” của Phật giáo Đại Việt:

Kinh Pháp Hoa trong văn bia Lý – Trần:

  • Triết lý cốt lõi: Tư tưởng “Ẩn thực hiển quyền”, “Quy tam vu nhất” (hội tụ Tam thừa: Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát về Nhất thừa Phật giáo), và tôn chỉ “Khai, thị, ngộ, nhập Phật tri kiến” xuất phát từ phẩm Phương tiện thứ hai được ghi nhận trong ít nhất 8 văn bia thời Lý và 1 văn bia thời Trần.
  • Bốn thí dụ điển hình: Xuất hiện trong ít nhất 7 bia Lý và 1 minh văn chuông thời Trần, gồm: Hỏa trạch dụ (nhà lửa tam giới), Dược thảo dụ (cây cỏ nhuần mưa pháp bình đẳng), Hóa thành dụ (thành trì hóa hiện làm điểm dừng chân tiến tới Bảo sở chân thật), và Y châu dụ (hạt ngọc quý may trong chéo áo cùng tử).
  • Nhân vật biểu trưng: Phật Đa Bảo trong phẩm Hiện Bảo tháp (được đúc tượng và tôn trí trong tháp Sùng Thiện Diên Linh, chùa Hương Nghiêm núi Càn Ni); Bồ tát Quán Thế Âm với 33 ứng hóa thân cứu khổ độ sinh trong phẩm Phổ môn.
  • Vận dụng thực tiễn: Văn bia chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh ghi lại sự kiện tổ chức pháp hội diễn giảng “Thất dụ diệu ngôn” (bảy thí dụ mầu nhiệm của kinh Pháp Hoa) trong lễ khánh thành; minh văn chuông chùa Thiên Phúc ghi chép hành trạng Thiền sư Từ Đạo Hạnh trì tụng kinh Pháp Hoa suốt sáu năm; bia tháp Viên Thông chùa Thanh Mai xác nhận Thiền sư Pháp Loa biên soạn tác phẩm Pháp Hoa kinh khoa sớ làm giáo trình giảng dạy cho tăng chúng.

Kinh Hoa Nghiêm trong văn bia Lý – Trần:

  • Triết lý chủ đạo: Triết lý Pháp giới vô ngại (Lý sự vô ngại, Sự sự vô ngại), thể hiện qua các thuật ngữ “Chân không diệu hữu”, “Nhất vạn tương dung”, “Thể dụng vô ngại” rút ra từ các phẩm Như Lai thập thân tướng hải, Hoa tạng thế giới, Như Lai xuất hiện, Nhập pháp giới, xuất hiện trong ít nhất 9 văn bia thời Lý và 3 văn bia thời Trần.
  • Thí dụ tiêu biểu: Pháp giới thu trọn trong đầu sợi lông, thế giới Hoa tạng nằm gọn trong một hạt bụi, núi Tu Di thu vào trong hạt cải (ghi nhận trong 3 bia Lý, 1 bia Trần).
  • Vận dụng thực hành: Bia tháp Viên Thông chùa Thanh Mai chứng minh Thiền sư Pháp Loa đã thuyết giảng toàn bộ kinh Hoa Nghiêm từ đại ý căn bản đến chín hội kinh, lặp lại liên tục suốt 20 năm (từ năm Hưng Long thứ 18 [1310] đến năm Khai Hựu thứ 2 [1330]) cho đủ mọi tầng lớp từ hoàng gia quý tộc đến thường dân; vận dụng tư tưởng viên dung truyền thụ giới Bồ tát cho đồ chúng.

Chương 4: Tương quan Tam giáo qua tư liệu văn bia Lý – Trần

Chương 4 làm rõ hiện tượng Tam giáo tịnh hành, Tam giáo thịnh hành và Tam giáo hợp sáng thời Lý – Trần trên cả phương diện văn hóa xã hội và tư tưởng học thuật:

Tương quan Tam giáo từ góc độ văn hóa:

  • Lực lượng tác giả văn bia:
    • Thời Lý: 7 Nho gia (Chu Văn Thường, Lý Thừa Ân, Nguyễn Công Bật, Công Diễm...), 4 Phật gia (Thích Thiện Giác, Thích Pháp Bảo, Bồ Đề đại sư, Dĩnh Đạt).
    • Thời Trần: 9 Nho gia (Trương Hán Siêu, Trần Nguyên Trác, Tạ Thúc Ngao, Đỗ Nguyên Chương, Phạm Sư Mạnh, Trần Duệ Tông, Hồ Tông Thốc...), 3 Phật gia (Sa môn Sùng Nhân, Hòa thượng Huệ Văn, Thiền sư Huyền Quang).
  • Lực lượng khởi dựng, hưng công công trình:
    • Thời Lý: 11 công trình do Nho gia (quan lại, tôn thất) đứng đầu hưng công, 2 công trình do Phật gia khởi xướng.
    • Thời Trần: 10 công trình do Nho gia (quý tộc, quan viên) đứng đầu, 5 công trình do tăng sĩ phụ trách. Dữ liệu định lượng này chứng minh Nho sĩ đương thời không đứng ngoài Phật giáo mà tham gia sâu sắc vào việc trước tác bi ký, ca ngợi cảnh Phật và trợ duyên tạo dựng chùa tháp.

Tương quan Tam giáo từ góc độ tư tưởng:

  • Nhận thức về sự vận hành của vũ trụ nhân sinh: Bi văn thể hiện sự kết hợp tự nhiên giữa triết lý Dịch học của Nho gia (Thái cực sinh lưỡng nghi, âm dương, ngũ hành, bát quái), tư tưởng Đạo gia (Vô sinh hữu, hữu sinh vạn vật trong Đạo Đức kinh và Nam Hoa kinh) với lý Duyên khởi, Chân không diệu hữu của Phật gia (xuất hiện ở ít nhất 5 bia Lý, 3 bia Trần).
  • Nhận thức về vai trò bổ trợ của Tam giáo: Có ít nhất 8 văn bia thời Trần tiến hành đối chiếu điểm đồng và dị giữa Tam giáo, quy về mẫu số chung đạo đức: Nho giáo chủ trương “thận chung truy viễn dân đức quy hậu”, thực hành nhân nghĩa, hiếu đễ, “quân tử tùy thời”, “tích thiện dư khánh”, “vì nghĩa quên tài”; Phật giáo chủ trương từ bi, bố thí, lục độ vạn hạnh và luật nhân quả báo ứng. Giới trí thức Lý – Trần xem đạo Phật và đạo Thánh (Nho giáo) như hai trụ cột bổ trợ lẫn nhau: Nho giáo giúp yên bề trị nước, Phật giáo giúp khai mở tâm tính thiện lành và giải thoát sinh tử.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án hệ thống hóa toàn diện các yếu tố văn hóa vật thể và phi vật thể của Phật giáo trong văn bia Lý – Trần, khẳng định các chuẩn mực kiến trúc, không gian và lễ hội đều bắt nguồn từ kinh điển Ấn Độ nhưng đã được biến cải linh hoạt phù hợp với thực tiễn Đại Việt. Luận án làm rõ đặc trưng “Thiền – Giáo dung thông” của Thiền tông Việt Nam thông qua việc chỉ ra vị trí trung tâm của kinh Pháp Hoa và kinh Hoa Nghiêm trong đời sống tu học của thiền môn, bác bỏ quan niệm cho rằng Thiền tông thời kỳ này thuần túy tu tập theo lối bất lập văn tự hay công án thoại đầu. Công trình luận giải bản chất hiện tượng Tam giáo tịnh hành một cách nhất quán, chỉ ra sự dung hợp hữu cơ giữa thế giới quan Phật giáo với nhân sinh quan Nho giáo và vũ trụ quan Đạo giáo.

Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp hệ thống số liệu định lượng về phân loại chùa tháp, kiểu thức mặt bằng, ngẫu tượng, bích họa và thành phần tác giả sáng tác văn bia Lý – Trần. Bảng chú thích thuật ngữ Phật giáo trong 10 văn bia tiêu biểu tại phần Phụ lục đóng góp giải pháp hiệu chỉnh trực tiếp cho công tác dịch thuật, nghiên cứu Hán Nôm và khảo cứu văn bản học cổ trung đại. Các kiến nghị của luận án hướng tới việc kết hợp liên ngành giữa văn bản học Hán Nôm với khảo cổ học và mỹ thuật học để phục dựng chính xác các di tích chùa tháp và lễ hội cổ truyền thời Lý – Trần.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án: Luận án chỉ tập trung khảo sát 28 văn bia tiêu biểu đáp ứng bốn tiêu chí nghiên cứu đã xác lập, chưa thể bao quát toàn bộ các minh văn chuông đồng, ma nhai vách đá, minh văn trên đồ gốm và các tài liệu ruộng đất chùa chiền thời Lý – Trần. Ngoài ra, tình trạng văn bia bị bào mòn, khuyết mất chữ qua thời gian cũng gây ra những khoảng trống nhất định trong việc khôi phục trọn vẹn văn bản.

Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng phạm vi khảo sát sang hệ thống minh văn phi văn bia đá (chuông đồng, ma nhai, khánh đá, đồ đồng khảo cổ học); so sánh đối chiếu hệ thống văn bia chùa tháp thời Lý – Trần với bia ký Phật giáo các thời kỳ sau (Lê sơ, Mạc, Lê Trung hưng) nhằm vẽ nên một bức tranh hoàn chỉnh về tiến trình vận động lịch sử của văn hóa tư tưởng Phật giáo Việt Nam qua các thời đại.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên và các nhà nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Hán Nôm, Lịch sử Việt Nam, Triết học, Tôn giáo học, Văn hóa học và Mỹ thuật cổ điển. Phần khảo cứu mặt bằng chữ Tam, hệ thống tượng pháp, bích họa và quy chuẩn chùa tháp cung cấp căn cứ tư liệu chuẩn xác cho các nhà khảo cổ học, kiến trúc sư và cơ quan quản lý di sản trong việc định hướng bảo tồn, trùng tu di tích kiến trúc thời Lý – Trần.

Đặc biệt, bảng khảo sát danh xưng chùa tháp và bảng chú thích thuật ngữ Phật giáo trong 10 văn bia tiêu biểu ở phần Phụ lục là công cụ tra cứu cho công tác hiệu đính, dịch thuật văn bản Hán Nôm tôn giáo.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao luận án chỉ chọn 28 văn bia trong tổng số hơn 60 văn khắc thời Lý – Trần để nghiên cứu chuyên sâu?

Học giới thống kê được 17 văn khắc thời Lý và 44 văn khắc thời Trần, nhưng phần lớn mang tính tản mạn về thể loại như ma nhai, văn tự ruộng đất chùa, bệ Phật, trụ gỗ, thơ lưu đề hoặc minh chuông đồng. Luận án xác lập bốn tiêu chí tuyển chọn: (1) văn bản khắc trên bia đá (bi văn); (2) tiêu đề định danh công trình là chùa hoặc tháp; (3) thể tài hoàn chỉnh gồm đủ phần ký (Duyên khởi, hành trạng, quá trình tạo tác, cảnh quan, lễ hội) và phần minh (văn vần tóm lược); (4) hàm chứa đầy đủ bốn yếu tố cấu thành tôn giáo (không gian, thực hành, triết lý kinh điển và tương quan xã hội). Chỉ có 28 văn bia (13 bia thời Lý, 15 bia thời Trần) đáp ứng trọn vẹn các tiêu chí này.

2. Điểm khác biệt nổi bật về không gian tồn tại của các ngôi chùa thời Lý so với thời Trần được ghi nhận trong văn bia là gì?

Văn bia ghi nhận sự phân hóa rõ rệt: Chùa thời Lý phần lớn được xây dựng trên các thắng tích cổ gắn liền với dấu tích của Phật tổ hoặc các bậc ẩn sĩ, thiền sư tiền bối (chiếm 5 ngôi trong văn bia khảo sát; thời Trần không có ngôi nào). Trong khi đó, chùa thời Trần chủ yếu được tạo dựng trên nền tảng gắn liền với công tích vua chúa tiền triều hoặc tổ tiên dòng họ quý tộc (chiếm 6 ngôi; thời Lý chỉ có 2 ngôi). Sự khác biệt này phản ánh sự chuyển biến lịch sử: thời Lý độc lập tự chủ mới lập, các dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi và Vô Ngôn Thông đã ăn sâu vào văn hóa bản địa; sang thời Trần, giai tầng quý tộc tôn thất phát triển mạnh, chế độ sở hữu điền trang tư nhân mở rộng, việc tạo dựng chùa chiền gắn liền với ý thức tôn vinh công đức tổ tiên dòng họ.

3. Tại sao hai bộ kinh Pháp Hoa và kinh Hoa Nghiêm được xác định là hai trụ cột tư tưởng Phật giáo trong văn bia Lý – Trần?

Hai bộ kinh này xuất hiện với tần suất dày đặc và chi phối toàn diện thế giới quan của người học Phật đương thời. Triết lý “Ẩn thực hiển quyền”, “Quy tam vu nhất”, cùng bốn thí dụ kinh điển (Hỏa trạch, Dược thảo, Hóa thành, Y châu) của kinh Pháp Hoa xuất hiện ở 8 bia Lý, 1 bia Trần và 1 chuông Trần; Phật Đa Bảo và Quán Thế Âm (hai hình tượng trung tâm của kinh Pháp Hoa) được tôn trí chính trong Phật điện và bảo tháp. Triết lý Pháp giới vô ngại, “Chân không diệu hữu”, “Nhất vạn tương dung” của kinh Hoa Nghiêm xuất hiện ở 9 bia Lý, 3 bia Trần; Thiền sư Pháp Loa đã giảng dạy kinh Hoa Nghiêm liên tục suốt 20 năm và áp dụng truyền Bồ tát giới. Sự kết hợp này khẳng định đặc trưng dung hợp Thiền tông với giáo điển Đại thừa.

4. Dữ liệu văn bia chứng minh mối tương quan Tam giáo thời Lý – Trần thông qua những bằng chứng cụ thể nào?

Mối tương quan Tam giáo được lượng hóa qua hai phương diện: Về văn hóa, lực lượng soạn bi ký Phật giáo có sự tham gia áp đảo của tầng lớp Nho gia (thời Lý: 7 Nho gia / 4 Phật gia; thời Trần: 9 Nho gia / 3 Phật gia); người đứng đầu khởi dựng, trùng tu chùa tháp cũng phần lớn là Nho gia, quý tộc (thời Lý: 11 Nho gia / 2 Phật gia; thời Trần: 10 Nho gia / 5 Phật gia). Về tư tưởng, có ít nhất 5 bia Lý và 3 bia Trần lồng ghép Dịch học Nho gia (Thái cực, Âm dương, Ngũ hành, Bát quái) và Đạo học (Đạo Đức kinh, Nam Hoa kinh) với giáo lý nhà Phật; có 8 bia thời Trần phân tích sự tương đồng giữa cương thường, đạo hiếu, đạo nhân của Nho giáo với lòng từ bi, bố thí và thuyết nhân quả báo ứng của Phật giáo.

Kết luận

Luận án “Văn hóa tư tưởng Phật giáo qua tư liệu văn bia Lý–Trần” của tác giả Mai Thị Thơm là công trình học thuật chuyên khảo khảo sát toàn diện hệ thống văn bia chùa tháp thời Lý – Trần dưới góc độ tôn giáo học. Bằng việc kết hợp phương pháp văn bản học Hán Nôm với lý thuyết thông diễn học và thống kê định lượng trên 28 văn bia tiêu biểu, công trình đã phục dựng diện mạo không gian chùa tháp, nghệ thuật tượng pháp, mô hình lễ hội cổ truyền và khẳng định vai trò nền tảng của hai bộ kinh Pháp Hoa và Hoa Nghiêm. Kết quả nghiên cứu xác lập những chứng cứ văn bản vững chắc về hiện tượng Tam giáo tịnh hành và đặc trưng Thiền – Giáo dung thông, đóng góp giá trị khoa học cho nghiên cứu Hán Nôm và lịch sử tư tưởng Việt Nam cổ trung đại.