Chương 1 KHÁI QUÁT ĐỊA LÝ, KINH TẾ, CHÍNH TRỊ, VĂN HÓA XÃ HỘI BẾN TRE THẾ KỶ XVIII - XIX VÀ PHẬT GIÁO TỈNH BẾN TRE THẾ KỶ XVIII 1. Khái quát địa lý, kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội Bến Tre thế kỷ XVIII - XIX 1. Khái quát địa lý tỉnh Bến Tre Địa danh Bến Tre: Địa danh Bến Tre hiện nay những nhà nghiên cứu trước năm 2010 đưa ra hai quan điểm: Quan điểm thứ nhất: Bến Tre trước kia là Sóc của người Khmer gọi là Srok kompong Trey hay Srok kompong Treay, gọi tắt là Srok Treay (Sóc Tre), từ trey hay treay có nghĩa là cá, như: Trey Prek - cá sông; Trey Sramot - cá biển; Trey Damrey - cá voi. Như vậy, Sork kompong trey (treay) có nghĩa là Xứ Cá.
Lý do xứ này trước kia có nhiều cá nên hiện nay còn nhiều địa danh liên quan đến cá như: cầu Cá Lóc, cầu Cá Trê, Cái Bông (cá lóc bông). Điều đó còn minh chứng qua nhiều câu ca dao: “Sông Bến Tre nhiều hang cá ngát …”; “Chợ Ba Tri thiếu gì cá biển …”… Nhưng về sau người Khmer gọi sai theo người Việt từ Srok Treay (xứ có nhiều cá) thành Bến Tre (bến có nhiều tre) [52]. Quan điểm thứ hai: Bến Tre ngày trước được người Khmer gọi là Sóc-tre (xứ tre), vì có nhiều giồng phủ đầy tre rải rác trong toàn tỉnh, ghe thuyền ghé đây chở tre, mà ra danh từ Bến Tre. Đặt tên địa danh tương tự như đây có rất nhiều như: Chợ Bến Tre, rạch Bến Tre, Giồng Tre.
Qua khảo cứu sách Chân Lạp Phong Thổ Ký, Gia Định Thành Thông Chí và Địa Chí Bến Tre, người viết luận văn thấy rằng: Thứ nhất, từ thế kỷ IX đến cuối thế kỷ XIII, người Chân Lạp đã dần dần từ bỏ vùng đất Thủy Chân Lạp trở thành hoang phế trong đó có đất Bến Tre ngày nay. Thế kỷ XIII đến thế kỷ XVII văn hóa một thời rực rỡ của vùng đất này đã trở thành rừng vắng hoang vu “nhiều con đường giốc đầy tre chạy dài hàng trăm lí” [34, tr. Với chính sách 7 Nam tiến của các chúa Nguyễn, đầu thế kỷ XVIII người dân nơi khác dần dần đến đây khai hoang cư trú trên những giồng cao [43, tr. Tháng 11 năm 1779, lần đầu tiên vùng đất Bến Tre ngày nay có tên tổng “Tân An” một trong 3 tổng thuộc châu Định Viễn, dinh Long Hồ [56, tr.
25] và một phần đất thuộc dinh Trấn Định [56, tr. 27], phủ Gia Định. Suốt thời gian từ năm 1780 đến 1866 vùng đất Bến Tre ngày nay dầu có thay đổi, thêm, bớt địa danh nhưng không có một địa phương nào có tên là “Bến Tre”. Năm 1867, lần đầu tiên vùng đất Bến Tre ngày nay có tên Sở tham biện “Bến Tre” (arrondissement Bentre), hạt Bến Tre.
Năm 1900 hạt Bến Tre đổi thành tỉnh Bến Tre [56, tr. 28], vùng đất cù lao An Hoá vẫn còn là 2 tổng (Hoà Quới, Hoà Thanh) thuộc huyện Kiến Hoà, phủ Kiến An, tỉnh Mỹ Tho [56, tr. Năm 1945, tỉnh Bến Tre đổi thành tỉnh Đồ Chiểu. Năm 1956, chính quyền Sài Gòn đổi tỉnh Đồ Chiểu thành tỉnh Kiến Hoà.
Tháng 02 năm 1976, tỉnh Kiến Hoà đổi lại thành tỉnh Bến Tre, tên này sử dụng cho đến ngày nay [56, tr. Thứ hai, các nhà nghiên cứu trước đây cho rằng từ Bến Tre bắt nguồn từ Sóc-tre của người Khmer là Xứ Cá thì chưa chắc xứ Bến Tre đã nhiều cá hơn Đồng Tháp, Cà Mau. Cũng vậy, cho rằng ở đây có nhiều tre nên ghe người buôn tre đến mua bán đông thành bến thì chưa chắc người buôn bán tre đã nhiều hơn những người buôn bán hải sản như cá, tôm, cua, dừa, tràm, mắm… Thứ ba, ngày nay những lũy tre không còn do thời gian, nhu cầu phát triển kinh tế, nhu cầu đời sống. người dân đã thay những luỹ tre thành những bờ dừa, tuy nhiên khắp tỉnh những nơi giồng cao vẫn còn những bờ tre rải rác, nhất là vùng Ba Tri, Mỏ Cày, Thạnh Phú, Giồng Trôm.
Qua những chứng cứ trên, người viết luận văn cho rằng: Từ “Bến Tre” không phải của người Khmer, người Kinh hay người Hoa đặt cho, mà năm 1867 người Pháp đã căn cứ vào Chân Lạp Phong Thổ Ký của Chu Đạt Quan và Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức mà đặt tên “hạt Bến Tre”, đến năm 1900 hạt Bến Tre đổi thành tỉnh Bến Tre. Địa lý: Tỉnh Bến Tre là một trong 13 tỉnh/thành của Đồng Bằng sông Cửu 8 Long hiện nay, có hình rẻ quạt, được hợp thành bởi ba cù lao lớn (Bảo, Minh, An Hoá) do phù sa của bốn nhánh sông Cửu Long (Tiền Giang, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên) bồi tụ nên, đầu nhọn nằm ở thượng nguồn, các nhánh sông lớn giống như nan quạt xoè rộng ở phía Đông, diện tích tự nhiên 2. Phía Đông giáp biển Đông chiều dài bờ biển 65 km, phía Tây giáp tỉnh Vĩnh Long và phía Nam giáp tỉnh Trà Vinh sông Cổ Chiên là ranh giới, phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang sông Tiền là ranh giới. Đường bộ từ trung tâm thành phố Bến Tre đến Thành phố Hồ Chí Minh dài 86 km [56, tr.
Địa hình giao thông: Bến Tre là một tỉnh hạ nguồn sông Mê Kông, 9 cửa (Cửu Long) chảy ra biển Đông trong đó 4 cửa nằm trên địa bàn tỉnh Bến Tre, từ 9 cửa sông này có một hệ thống kênh, rạch chằng chịt đan xen vào nhau chảy khắp ba dải cù lao, rất thuận tiện cho thuỷ lợi và giao thông đường thuỷ nối liền từ Thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh Miền Tây. Ngoài giao thông đường thuỷ còn có hệ thống giao thông đường bộ nối các huyện với nhau, tạo nên giao thông thuận tiện đi khắp tỉnh cho đến các tỉnh lân cận như Tiền Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh [40]. Quá trình hình thành, thay đổi địa danh, địa giới tỉnh Bến Tre qua các thời kỳ: Lãnh thổ Bến Tre hình thành vào giai đoạn sau cùng của quá trình bồi tụ Đồng bằng sông Cửu Long và quá trình phân nhánh của sông Cửu Long [65, tr. Cách nay khoảng 4.500 năm, đất Bến Tre lộ lên trên mực nước biển [65, tr.
Để có một địa hình trọn vẹn ba dải cù lao như ngày nay, tỉnh Bến Tre đã trải qua nhiều lần thay đổi địa danh, ranh giới với các tỉnh Tiền Giang, Vĩnh Long, cụ thể như sau: Thế kỷ thứ I - VII, là một phần đất thuộc vương quốc Phù Nam, người Trung Quốc gọi là nước Diệu Nghiêm. Thế kỷ thứ VII - XIII, thuộc vùng Thuỷ Chân Lạp của người Khmer [44]. Thế kỷ thứ XIII - XVIII, người Khmer của Vương quốc Chân Lạp bỏ vùng Thuỷ Chân Lạp thành hoang phế [33][34, tr. Năm 1757, vùng đất Bến Tre (Cù lao Minh và một phần lớn cù lao Bảo) ngày nay mới được sáp nhập vào dinh Long Hồ, phủ Gia Định.
Năm 1779, vùng đất Bến Tre ngày nay lần đầu tiên có tên tổng Tân An, châu Định Viễn, dinh 9 Long Hồ [56, tr. 25], gồm cù lao Minh và phần lớn cù lao Bảo; cù lao An Hoá là một phần đất tổng Kiến Hoà, huyện Kiến Khương, phủ Kiến An, dinh Trấn Định [56, tr. 27], thuộc phủ Gia Định. Năm 1808, tổng Tân An thăng lên thành huyện Tân An.
Năm 1823, huyện Tân An chia làm huyện Bảo An (cù lao Bảo) và huyện Tân Minh (cù lao Minh) thuộc phủ Hoằng An, tỉnh Vĩnh Long [56, tr. Năm 1851 phủ Hoằng An đổi tên thành phủ Hoằng Trị [56, tr. Năm 1867, phủ Hoằng Trị đổi tên là hạt Bến Tre. Năm 1900 hạt Bến Tre đổi thành tỉnh Bến Tre [56, tr.
28], vùng đất cù lao An Hoá gồm 2 tổng (Hoà Quới, Hoà Thanh) thuộc huyện Kiến Hoà, phủ Kiến An, tỉnh Mỹ Tho [56, tr. Năm 1948, Uỷ ban kháng chiến hành chính Nam Bộ quyết định cắt cù lao An Hoá thuộc tỉnh Mỹ Tho và 6 xã phần trên của cù lao Minh (từ sông Ba Lai đến sông Tiền Giang) thuộc tỉnh Vĩnh Long nhập vào tỉnh Bến Tre, từ đó tỉnh Bến Tre gồm 3 cù lao (Bảo, Minh, An Hoá) như hình thể tỉnh Bến Tre ngày nay [56, tr. Dân cư tỉnh Bến Tre Nguồn gốc dân cư: Theo ghi chép của Chu Đạt Quan, Lê Quý Đôn, Trịnh Hoài Đức thì phần đất Bến Tre sau gần 1.000 năm người Phù Nam và Khmer bỏ hoang phế (thế kỷ VIII – XVII) [34, tr. 80], đến giữa thế kỷ XVII thì lưu dân các nơi như người Minh Hương từ Trung Quốc, người Việt từ miền Bắc - miền Trung Việt Nam, binh lính, người trốn lính, tù nhân bị lưu đày, người có tội với triều đình, người có tiền của muốn lập nghiệp mới,.
lần lượt đến định cư. Họ di cư đến Bến Tre chủ yếu bằng đường biển [76, tr. Buổi đầu họ sinh sống ở những giồng đất cao ráo, dân cư mỗi ngày thêm đông, lập nên những làng, thôn, trại [37, tr. Chỉ hơn 100 năm sau, vùng đất hoang vu đầy dã thú, cuối vùng sông Tiền, sông Ba Lai, sông Hàm Luông, sông Cổ Chiên đã trở thành nơi sản xuất gạo, dừa, trái cây ngon nổi tiếng, thu hút số lượng người di cư đến càng nhiều vào thế kỷ XIX.
Nguyễn Duy Oanh cho biết thống kê dân số tỉnh Bến Tre trong các năm 1859, 1879, 1899, 1929 như sau: 10 Năm Dân số trong tỉnh Người Việt Người Hoa 1859 110.150 người Minh Hương) 1929 315.500 người Minh Hương) [53, tr. 47] Năm 2001, Thạch Phương - Đoàn Tứ cho biết: Năm 1983-1984, khảo sát 281 gia phả thành văn và những chuyện khẩu truyền, Viện Khoa học xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh với Sở Văn hoá - Thông tin Bến Tre ghi nhận: Số người định cư trước thế kỷ XVIII chiếm 3,6 %, trong thế kỷ XVIII chiếm 32,5 %, trong thế kỷ XIX chiếm 63,9 %. Nghiên cứu qua 112 gia phả cho thấy nguồn gốc cộng đồng dân di cư Bến Tre đa số người Miền Trung Việt Nam, đặc biệt từ phía Nam đèo Hải Vân trở vào: Gia đình quê gốc Số gia Gia đình quê gốc Số gia thuộc tỉnh đình thuộc tỉnh đình Quảng Ngãi 38 Nghệ An 5 Quảng Nam 19 Miền Bắc (không rõ tỉnh) 4 Thừa Thiên, Quảng Trị 17 Miền Trung (không rõ tỉnh) 4 Bình Định 11 Hà Đông 3 Quảng Bình 09 Nam Định 2 [56, tr. 247] Qua hai bảng thống kê trên cho thấy số dân cư trong địa bàn tỉnh Bến Tre ngày nay lúc đó không có người Khmer.
Đặc điểm dân cư: Bến Tre là vùng Địa linh nhân kiệt, thông minh trong cuộc sống, cần cù trong lao động, bất khuất trong chiến đấu, gắn liền với tên tuổi nhiều nhân vật lịch sử - văn hóa mà dấu ấn để lại là những di tích, đền thờ, mộ cổ. nổi bật như: Võ Trường Toản (?