Chương 1: LƯỢC SỬ ĐA HÀNH VĂN TỰ Ở VIỆT NAM VÀ BỐI CẢNH NGỮ VĂN PHẬT GIÁO ĐẦU THẾ KỈ 20 Tiểu dẫn: Trong lịch sử ngữ văn Việt Nam, hiện tượng đa hành văn tự đã xuất hiện từ sớm trong các văn bản song hành Hán – Nôm thuộc các lĩnh vực tôn giáo – tín ngưỡng, văn học, từ thư, kinh điển Nho gia, sách học chữ, văn bản pháp luật, quân sự… Tới đầu thế kỉ 20, chữ Quốc ngữ đứng song song với chữ Hán và chữ Nôm trong các văn bản đa hành văn tự thuộc lĩnh vực tôn giáo – tín ngưỡng và giáo dục. Ngữ văn Phật giáo đầu thế kỉ 20 ở Việt Nam được đặt trong bối cảnh khoa cử - giáo dục Hán học đã chấm dứt kéo theo sự thất thế của chữ Hán; chữ Quốc ngữ được đưa vào chương trình giáo dục, được phổ biến qua báo chí và các hoạt động truyền bá Quốc ngữ của trí thức đầu thế kỉ 20. Hiện tượng đa hành văn tự trong văn bản ngữ văn cổ điển Việt Nam 1. Bối cảnh ngữ văn ở Việt Nam trước 1945 Bối cảnh ngữ văn ở Việt Nam trước năm 1945 khá phức tạp.
Nhà ngữ học nổi tiếng người Mĩ là John DeFrancis cho rằng lịch sử ngữ văn Việt Nam từ năm 1945 trở về trước có thể chia thành bốn giai đoạn: (1) giai đoạn thực dân Trung Quốc (năm 111 trước CN – năm 939) - có hai ngôn ngữ (tiếng Việt, tiếng Hán) - có một văn tự (chữ Hán) (2) giai đoạn độc lập quân chủ (939-1651) - có hai ngôn ngữ (tiếng Việt, tiếng Hán) - có hai văn tự (chữ Hán, chữ Nôm) (3) giai đoạn độc lập quân chủ và phân lập Công giáo (1651-1861) - có hai ngôn ngữ (tiếng Việt, tiếng Hán) - có ba văn tự (chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ) (4) giai đoạn thực dân Pháp (1861-1945) - có ba ngôn ngữ (tiếng Việt, tiếng Hán, tiếng Pháp) - có bốn văn tự (chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ, chữ Pháp) 7 7 John DeFrancis, Colonialism and Language Policy in Viet Nam, The Hague: Mouton Publishers, 1977. 8 z Trong số các ngôn ngữ và văn tự trên thì tiếng Việt là ngôn ngữ bản địa, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ là văn tự ghi ngôn ngữ bản địa. Xu hướng chung ở các văn bản đa hành văn tự là văn tự ghi ngôn ngữ bản địa được bổ sung vào, giúp cho văn bản được phố biến rộng rãi hơn trong cộng đồng. Ở phần này, luận văn giới hạn khảo sát hiện tượng đa hành văn tự với các đối tượng văn tự là chữ Hán, chữ Nôm (Nôm Việt, Nôm Kinh) và chữ Quốc ngữ.
Thực tế lịch sử đa hành văn tự tại Việt Nam còn phức tạp hơn rất nhiều, với sự tham gia của nhiều loại văn tự khác, nhưng luận văn tạm thời chưa bàn tới. Vì vậy, phạm vi đa hành văn tự ở đây chỉ bao gồm “song hành” và “tam hành”. Song hành văn tự Hán - Nôm Song hành văn tự Hán Nôm là trường hợp xuất hiện sớm nhất của hiện tượng đa hành văn tự. Văn bản sớm nhất tồn tại hiện tượng này là Phật thuyết Đại báo phụ mẫu ân trọng kinh 佛說大報父母恩重經, 8 rất có thể được định hình vào khoảng thế kỉ 11-12 (mặc dù có giả thuyết khác là thế kỉ 15).
Trong văn bản này, phần chính văn chữ Hán được in cỡ lớn, nội dung bản dịch bằng chữ Nôm được in song song bằng chữ nhỏ phía bên tay phải, tạo thành bản dịch ra văn xuôi cho toàn bộ tác phẩm. Hiện tượng song hành văn tự Hán - Nôm có ở các bản giải âm các văn bản tôn giáo (Phật giáo, các tín ngưỡng dân gian), văn học (văn xuôi, thơ ca), từ thư, kinh điển Nho gia, sách học chữ, văn bản pháp luật, quân sự… Ở lĩnh vực tôn giáo – tín ngưỡng, sau Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh (xem ảnh 1), hiện tượng song hành văn tự Hán – Nôm còn xuất hiện ở nhiều văn bản khác, như tác phẩm Khoá hư lục giải nghĩa, 9 nhưng nổi tiếng nhất vẫn là các bản giải âm của hòa thượng Minh Châu Hương Hải (thế kỉ 18) và hòa thượng Phúc Điền (thế kỉ 19). Ngoài tác phẩm của hai tác giả lớn trên, hiện tượng đa hành 8 Hoàng Thị Ngọ (1999), Chữ Nôm và tiếng Việt qua bản giải âm Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. Trần Trọng Dương khảo cứu - phiên chú (2009), Thiền tông khóa hư ngữ lục, NXB Văn học, Hà 9 Nội.
9 z văn tự còn xuất hiện ở nhiều văn bản Phật giáo khác xuất hiện rải rác cho tới đầu thế kỉ 20 trên phạm vi cả nước. 10 Ở lĩnh vực văn học, văn bản song hành Hán – Nôm sớm nhất là Tân biên truyền kì mạn lục tăng bổ giải âm tập chú 新編傳奇漫錄增補解音集註 11 (xem ảnh 2). Hiện tác phẩm này còn nhiều văn bản ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm: VHv. Ở trong tác phẩm này, chính văn chữ Hán in được in cỡ lớn, nối tiếp là phần chữ Nôm in lưỡng cước nhỏ hơn là bản dịch của nguyên văn chữ Hán, giúp cho độc giả có thể hiểu nghĩa của tác phẩm bằng ngôn ngữ tiếng Việt.
Ảnh 1: Phật thuyết Đại báo phụ mẫu Ảnh 2: Tân biên truyền kì mạn lục ân trọng kinh 新編傳奇漫錄 佛說大報父母恩重經 (Hán to trên, Nôm nhỏ dưới) (Hán to trái, Nôm nhỏ phải) Hiện tượng này cũng xuất hiện trong nhiều văn bản văn học khác: - Bạch Viên Tôn các truyện 白猿孫各傳 (R.1519) 12 - Quy khứ lai từ diễn ca 歸去來辭演歌 (AB.336) 10 Hiện tượng song hành Hán – Nôm trong văn bản Phật giáo sẽ được trình bày cụ thể ở mục 1. 11 Đây là một bản dịch Nôm tác phẩm văn học chữ Hán Truyền kì mạn lục 傳奇漫錄 của tác giả Nguyễn Dữ (sống vào khoảng thế kỉ 16). Tác phẩm dịch Nôm được cho là của Nguyễn Thế Nghi (gần như cùng thời với Nguyễn Dữ) có thể được thành thư vào cuối thế kỉ 16 - đầu thế kỉ 17. 12 Các tài liệu chữ Hán có mã R được lưu trữ ở Thư viện Quốc gia Việt Nam, các tài liệu chữ Hán có những mã khác (VHv, A, AB…) được lưu trữ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
10 z - Tây nam hai mươi tám hiếu diễn ca 西南孝演歌 (VNv.62) - Đường thi quốc âm 唐詩國音(AB.172) - Quốc âm diễn thi 國音演詩 (AB.174)… Điểm khá đặc biệt trong một số văn bản văn học có hiện tượng song hành Hán – Nôm là nội dung văn học của Việt Nam bằng tiếng Việt, (được ghi chép bằng chữ Nôm) lại được dịch ra chữ Hán như: Nam phong giải trào 南風解嘲 (AB.232), Nam thi tân tuyển 南詩新選 (R.1857)… Các bản dịch này đều góp nhặt thơ ca dân gian của Việt Nam rồi đem dịch ra chữ Hán, phỏng theo thể Phong trong Thi kinh, thể hiện tư duy chữ Hán và Nho học tồn tại bền chặt trong tư duy của trí thức Nho học ở Việt Nam. Từ thư 詞書 cũng là một mảng sách mà hiện tượng song hành Hán – Nôm xuất hiện phổ biến. 13 Theo nghiên cứu của Nguyễn Tuấn Cường, “do đặc điểm của từ thư, tức là các đơn vị tự/từ được lắp ghép với nhau theo môn loại (nội dung nhóm từ, ví dụ thiên văn, địa lý, nhân luân…), nên giữa các từ liền nhau không có mối quan hệ về nội dung ý nghĩa, mà thường chỉ có quan hệ về ngữ âm (ghép lại thành thơ). Về bản chất, những bộ từ thư này không phải là “dịch văn bản” (text translation) mà chỉ là “dịch từ” (word translation)”.
14 Sách từ thư dạng này có khá nhiều, như: - Trùng thuyên Chỉ nam bị loại các bộ dã đàm tịnh bổ di đại toàn 重鐫指南備 類各部野譚并補遺大全 (AB.372) - Nhật dụng thường đàm 日用常談 (AB.134) - Tự Đức thánh chế Tự học giải nghĩa ca 嗣德聖制字學解義歌 (VHv.627/1-4) 13 Thuật ngữ gọi chung cho tự điển 字典, từ điển 詞典, loại thư 類書 (Nguyễn Tuấn Cường). 14 Nguyễn Tuấn Cường (2016), “Hiện tượng song tồn văn tự Hán - Nôm trong văn bản ngữ văn cổ điển Việt Nam” (Script Co-existence of Sinographs and Nôm Script in Vietnam’s Classical Texts), 「 ベ ト ナ ム 古 典 文 献 に お け る 漢 字 ・ チ ュ ノ ム 文 字 双 存 現 象 」 (Script Co-existence of Sinographs and Nôm Script in Vietnam’s Classical Texts),「漢字文化圏の 100 年+」国際シン ポジウム, 日本富山大学, 2016 年 11 月 27 日 (paper for International Symposium100+ Years of Sinograph Cosmopolis, Toyama University, Japan, Nov. 11 z - Đại Nam quốc ngữ 大南國語 (AB.106) - Nam phương danh vật bị khảo 南方名物備考 (A.155)… Ở mảng sách giáo dục (sách dạy chữ vỡ lòng và kinh điển Nho gia), hình thức song hành văn tự Hán – Nôm được sử dụng khá phổ biến. Việc bổ sung ngôn ngữ và văn tự bản địa vào tài liệu giáo dục giúp cho người học hiểu nghĩa và nhớ được chữ Hán, đồng thời cũng là tài liệu có giá trị với người dạy học.
Hiện các sách dạy chữ và kinh điển có hình thức song hành Hán – Nôm còn khá nhiều trong các thư viện, như: - Tam tự kinh lục bát diễn âm 三字經六八演音 (R.129) - Dương tiết diễn nghĩa 陽節演義 (AB.25) - Chu dịch quốc âm ca 周易國音歌(R.2020) - Dịch kinh chính văn diễn nghĩa 易經正文演義 (VHv. 1114)… Ngoài ra, hiện tượng song hành Hán – Nôm còn xuất hiện trong một số văn bản pháp luật (Thượng dụ huấn điều sao bản giải âm 上諭訓條抄本解音, R.2033) hoặc quân sự (Vũ kinh diễn nghĩa ca 武經演義歌, AB.138)… Ảnh 3: Một trang của Chu dịch quốc âm ca (R.2020) Nửa trên của trang sách có hiện tượng song hành văn tự Hán Nôm, trong đó phần chính văn chữ Hán in to, bản dịch chữ Nôm in lưỡng cước nhỏ hơn nối tiếp chính văn. 12 z Việc hiện tượng song hành Hán – Nôm xuất hiện phổ biến ở các văn bản thuộc khá nhiều môi trường hành chức chứng tỏ ngay từ trong quá khứ, văn tự và ngôn ngữ bản địa đã cần thiết đối với người Việt để có thể đọc hiểu được các văn bản Hán văn. Đa hành văn tự có xuất hiện chữ Quốc ngữ Tới khoảng đầu thế kỉ 20, khi chữ Quốc ngữ đã được đưa vào chương trình giáo dục và dần phổ biến ở Việt Nam, văn tự này cũng được bổ sung vào các văn bản đa hành văn tự, trở thành các dạng song hành Hán – Quốc ngữ, Nôm – Quốc ngữ, và tam hành Hán – Nôm – Quốc ngữ.
Hiện tượng đa hành văn tự có chữ Quốc ngữ xuất hiện chủ yếu trong các văn bản thuộc lĩnh vực tôn giáo – tín ngưỡng và giáo dục.