chương 1, chúng tôi khái quát về sự ảnh hưởng qua lại giữa Phật giáo với tín ngưỡng dân gian Việt Nam và thử lý giải hiện này. Ở chương hai, chúng tôi phân tích khía cạnh đầu tiên của hình tượng nhân vật nữ trong truyện thơ Nôm đề tài Phật giáo. Đó là hình tượng người phụ nữ thế tục. Cụ thể, chúng tôi xem xét nhân vật nữ trong mối quan hệ với gia đình, với cộng đồng và sự ý thức về giá trị bản thân của người phụ nữ.
7 Ở chương ba, chúng tôi phân tích khía cạnh còn lại của hình tượng nhân vật nữ trong truyện thơ Nôm đề tài Phật giáo. Đó là hình tượng người phụ nữ thoát tục. Cụ thể, chúng tôi xem xét nhân vật nữ trên hành trình tiếp nhận giáo lí Phật giáo và trên hành trình trì giới. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng làm rõ sự hòa hợp giữa đời và đạo trong các nhân vật nữ này.
8 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Bối cảnh ra đời truyện thơ Nôm và truyện thơ Nôm đề tài Phật giáo 1. Bối cảnh ra đời truyện thơ Nôm Xét về mặt chữ viết, thế kỷ XIII – XVII, chữ Nôm xuất hiện trong nhiều tác phẩm nổi tiếng từ thơ tuyệt cú như Quốc âm thi tập (Nguyễn Trãi), Hồng Đức quốc âm thi tập (Lê Thánh Tông), Bạch Vân am thi tập (Nguyễn Bỉnh Khiêm)… đến diễn ca lịch sử bằng lối lục bát hay song thất lục bát như Thiên Nam minh giám (khuyết danh), Thiên nam ngữ lục (khuyết danh)… Thế kỷ XVIII – XIX, các tác phẩm viết bằng chữ Nôm phát triển lên đỉnh cao rực rỡ. Chữ Nôm được vận dụng trong nhiều thể loại như tuyệt cú trong thơ Hồ Xuân Hương, Bà huyện Thanh Quan…, song thất lục bát trong các khúc ngâm như Chinh phụ ngâm (Đoàn Thị Điểm), Cung oán ngâm (Nguyễn Gia Thiều)… hay lục bát trong truyện thơ Nôm như Truyện Kiều (Nguyễn Du), Lục Vân Tiên (Nguyễn Đình Chiểu)… Ngoài ra, trong dân gian cũng lưu truyền các truyện thơ khuyết danh như Thạch Sanh, Trê Cóc, Nhị độ mai, Phan Trần, Tấm Cám, Lưu Bình Dương Lễ… Có thể nói, trong các sáng tác bằng chữ Nôm thì thể loại truyện thơ này là nổi trội hơn cả.
Ở đây, do điều kiện lịch sử, văn xuôi Nôm hầu như không phát triển. Văn Nôm chỉ tồn tại ở dạng văn vần hay biền ngẫu và có vị trí không mấy quan trọng. Nhìn chung, chữ Nôm từ loại chữ mượn để ký âm thuần túy đã trở thành thứ ngôn ngữ tinh tế, giàu sức biểu đạt, thậm chí, so với dòng văn học chữ Hán, văn học chữ Nôm “thực hơn, đời thường hơn, giàu tính thế tục hơn, đậm đà phong vị dân tộc hơn”1. Xét về mặt thể loại, trong nền văn học Việt Nam nói riêng và cả Đông Nam Á nói chung, truyện thơ là một thể loại quan trọng thời trung đại.
Cũng chính vì xuất hiện tại vùng Đông Nam Á này, truyện thơ ít khi được viết bằng chữ Hán. Ở Việt Nam, hiện tại, giới sưu tầm và nghiên cứu chỉ phát hiện một truyện thơ chữ Hán duy nhất là Hương miết hành. Trong khi đó, truyện thơ Nôm lại phát triển rầm rộ. Theo 1 Bùi Duy Tân (1998), Văn học chữ Nôm: tinh hoa sáng tạo của văn học cổ điển Việt Nam thời trung đại, trích trong Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia (2000), Việt Nam học: kỷ yếu hội thảo quốc tế lần thứ nhất, NXB Thế giới, tr.
9 thống kê, hiện tại có khoảng trên 100 truyện1. Truyện thơ Nôm Việt Nam phát triển mạnh mẽ trong hai thế kỷ XVII – XIX. Giai đoạn đầu tiên là các truyện thơ cấu tạo bằng một chuỗi thơ Đường luật như: Tô Công phụng sứ, Lâm Tuyền kỳ ngộ… Những truyện này gần gũi với thơ trong Hồng Đức quốc âm thi tập. Giai đoạn hai là sự xuất hiện của các truyện thơ Nôm bình dân như Phạm Công – Cúc Hoa, Quan Âm Thị Kính… Các tác phẩm này khá giống diễn ca lịch sử Thiên Nam ngữ lục.
Trong đó, giai đoạn cao trào là sự ra đời của các truyện thơ Nôm bác học, bắt đầu bằng các tác giả như Nguyễn Hữu Hào, Nguyễn Thiện… Cách gieo vần, kể chuyện, miêu tả của những truyện thơ ở thế kỷ XVIII đã khác hẳn với lối truyện bình dân trước đó. Có thể nói rằng, truyện thơ Nôm trong giai đoạn này đã đạt đến đỉnh cao rực rỡ. Ở đây, qua những điều đã trình bày bên trên, chúng tôi nhận thấy có một sư tương đồng trong lịch sử phát triển như sau: nhắc đến chữ Nôm là nhắc đến thể loại truyện thơ và nhắc đến truyện thơ cũng là nhắc đến chữ Nôm. Tuy nhiên, theo khảo sát, các truyện thơ Nôm Đường luật lại có số lượng rất hạn chế, trong khi đó, truyện thơ Nôm phần nhiều được viết theo thể song thất lục bát và lục bát nhưng chủ yếu là lục bát.
Không sai khi cho rằng nói truyện thơ Nôm chính là nói truyện thơ Nôm lục bát bởi sự chiếm ưu thế vượt trội về số lượng của thể loại này. Vậy, nguyên nhân nào đã dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ của thể loại lục bát? Tại sao các tác giả lại dùng thể lục bát khi sáng tác truyện thơ? Để trả lời vấn đề này, chúng ta bắt đầu từ những đặc trưng nổi bật của thể thơ lục bát. Đó là tính dân tộc. Thơ lục bát tồn tại từ rất lâu đời và gần gũi với ca dao dân gian.
Cặp câu thơ 6/8 mượt mà, nhịp điệu êm ái, niêm luật chặt chẽ, phối thanh hài hoà và hiệp vần nhịp nhàng đã khiến thể lục bát như là khúc hát ru quen thuộc của ngày thơ ấu. Vậy nên, với thể lục bát này, truyện thơ Nôm trở nên giản dị, gần gũi, dễ dàng đi vào đời sống của nhân dân. Từ đó, người dân dễ thuộc, tác phẩm dễ truyền bá rộng rãi. Bên cạnh đó, nội dung trong truyện thơ Nôm thường phản ánh một câu chuyện rộng lớn nhưng đồng thời cũng thể hiện tình cảm của nhân dân đối với những sự việc diễn ra ấy.
Như vậy, so với các thể thơ luật Đường bị hạn chế về số câu số chữ và về độ dài hoặc bị bó buộc bởi những quy tắc cứng nhắc thì thể lục bát lại khá tự do cho việc tái hiện lại những việc đã từng xảy ra. Mặt khác, vào thế kỷ 1 Kiều Thu Hoạch, Luận án Truyện nôm bình dân của người Việt - lịch sử hành thành và bản chất thể loại, http://luanan.vn/luanan?a=d&d=TTkGGSe ptDQy1996.13&e=-------vi-20--1--img-txIN-------# (truy cập lúc 13 giờ 07 phút, 22/01/2018). 10 XVI, diễn ca lịch sử rất phát triển đã chứng minh cho khả năng tự sự của thể thơ lục bát. Do đó, thơ lục bát là lựa chọn tối ưu cho thể loại truyện thơ này.
Trên đây, chúng tôi đã trình bày sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của truyện thơ Nôm lục bát. Tuy nhiên, xét về bản chất, sự xuất hiện của truyện thơ Nôm có ý nghĩa như thế nào? Nói cách khác, vì sao truyện thơ ra đời? Quanh vấn đề này có khá nhiều ý kiến khác nhau. Trong đề tài này, dựa trên quan điểm rằng văn học phản chiếu cuộc sống, chúng tôi cho rằng “sự ra đời của truyện Nôm bắt nguồn từ một yêu cầu phản ánh xã hội với những nội dung thời đại cũng như với những điều kiện thực tiễn của bản thân thời đại ấy”1. Xét hoàn cảnh lịch sử nước ta vào thế kỷ XVIII – thời kỳ những tác phẩm truyện Nôm xuất hiện và phát triển mạnh mẽ, chúng tôi đủ dẫn chứng để khẳng định nhận định này.
Cụ thể : thế kỷ XVI, xã hội Việt Nam chứa nhiều mâu thuẫn. Các phe phái phong kiến trong triều đình tranh giành quyền lực. Đời sống nhân dân khốn khổ bởi các cuộc chiến tranh của những tập đoàn này. Khởi nghĩa nông dân nổ ra ở nhiều nơi.
Đến thế kỷ XVIII, về cơ bản, nền móng phong kiến tại Việt Nam đã lung lay tận gốc. Sự khủng hoảng về tư tưởng phong kiến dẫn đến sự mất niềm tin của nhân dân vào những truyền thống đạo đức xưa cũ. Hệ giá trị nho giáo bị phá vỡ. Nhân dân hướng đến những chân trời mới – nơi công lý, tình người được đảm bảo.
Lúc này, trên văn đàn, các sáng tác của những nhà nho chính thống (chủ yếu là vua chúa và quan lại) không còn phổ biến như trước kia. Thay vào đó, nho sĩ bình dân – những người không theo sự đào tạo chính quy và không theo con đường khoa cử trở thành lực lượng sáng tác đông đảo. Chính vì vậy, các thể loại văn học mang tính điển nhã, bác học không được ưa chuộng, văn học thời kỳ này theo xu hướng bình dân hóa. Mặt khác, để đáp ứng nhu cầu phản ánh rộng lớn, đa dạng các mặt xã hội của nhân dân, các thể loại mang tính khuôn mẫu đã bị thay thế bởi những thể loại mới, không bó buộc về số lượng câu từ.
Vì vậy, truyện thơ Nôm mà chủ yếu là truyện thơ Nôm lục bát (nguyên nhân đã lý giải ở trên) bắt đầu hình thành và phát triển. Vậy, có thể khẳng định rằng “truyện Nôm là sản phẩm văn học vào thời kỳ phong kiến suy tàn, mang ý nghĩa phản ánh một thời kỳ bùng nổ mạnh mẽ của đấu tranh giai cấp dưới chế độ phong kiến”2. Do đó, sự ra đời của nó gắn liền với sự ra đời của một ý thức mới. “Có thể hình thức đầu tiên của các truyện Nôm là những bài hát tự sự của các nghệ nhân 1 Đặng Thanh Lê (1979), Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm, NXB Khoa học Xã hội, tr.
2 Đặng Thanh Lê (1979), Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm, NXB Khoa học Xã hội, tr. Từ hình thức truyền khẩu ban đầu trong dân gian như thế các nhà nho đã mạnh dạn dùng chữ viết để ghi lại và sau đó là sáng tác những tác phẩm mới, tạo nên sự phát triển mạnh mẽ như đã thấy. Để chắc chắn hơn cho nhận định trên, chúng tôi khảo sát nguồn gốc cụ thể của những tác phẩm hiện hành. Qua đó, chúng tôi nhận thấy có hai nguồn cơ bản hình thành nên truyện thơ Nôm.
Thứ nhất: chuyện thế sự. Đó là những gì tác giả mắt thấy tai nghe, những thứ diễn ra trong cuộc sống hằng ngày. Chẳng hạn, truyện Phạm Công – Cúc Hoa là mối quan hệ giữa mẹ ghẻ với con chồng. Một bộ phận nữa trong đề tài thế sự này là hiện thực các cuộc khởi nghĩa nông dân diễn ra thời bấy giờ như Vợ ba Cai vàng2.