chương 1); Phần thứ hai đề cập đến tính chất chống phong kiến của “Truyện Kiều” (chương 2) và phần thứ ba đề cập đến thời đại Nguyễn Du và nội dung tư tưởng “Truyện Kiều” (chương 3, chương 4). Thông qua những nội dung được trình bày, tác giả Trương Tửu muốn nhấn mạnh rằng toàn bộ đời sống ý thức của Nguyễn Du hình thành song song với toàn bộ quá trình thành bại của phong trào Tây Sơn. Nguyễn Du là một nghệ sĩ vĩ đại, vì vậy, không có lý gì mà Nguyễn Du lại không phản ánh được trong tác phẩm một vài cục diện cốt yếu của phong trào Tây Sơn, mặc dầu thi sĩ đã quay lưng lại với nó [105, tr. Tác giả Trương Tửu cho rằng “Truyện Kiều” là một tác phẩm văn học cổ điển tiêu biểu của văn hóa Việt Nam vì bốn lý do: Thứ nhất, vì “Truyện Kiều” là một tác phẩm dân tộc.
Thông qua “Truyện Kiều”, Nguyễn Du đã nói lên được tinh thần nhân đạo chủ nghĩa bất diệt của nhân dân Việt Nam. Ông đã đứng về phía các tầng lớp xã hội bị áp bức đang vươn đến sự giải phóng; đề cao những tinh thần quý giá nhất của con người như tự do, công bằng, nhân đạo. Ông cũng lên án kịch liệt một chế độ bóc lột đè nén con người và tiêu diệt tài tình, nhân đạo, công bằng và tự do. Nói cách khác, Nguyễn Du đã đập vỡ cái mặt nạ mỹ miều, siêu hình che giấu một chân tướng hung ác, tội lỗi của bọn “phụ mẫu chi dân”, của lũ con buôn, bịp bợm, của trời, Phật, của số mệnh, của ông Tơ bà Nguyệt - của toàn bộ bè lũ thống trị bóc lột và áp bức trong xã hội phong kiến.
Tiếng nói của Nguyễn Du trong “Truyện Kiều” là tiếng nói của chính nghĩa, của dân tộc Việt Nam nhân đạo và dũng cảm [105, tr. Thứ hai vì “Truyện Kiều” có tính đại chúng. “Truyện Kiều” đã được sáng tạo theo lập trường và nhãn quan của quảng đại nhân dân đang tiến lên con 16 đường giải phóng. Tác giả cho rằng, với nhãn quan thiên tài, Nguyễn Du đã nhìn thực tại xã hội theo con mắt của quần chúng, đánh giá mọi người, mọi quan điểm theo con mắt của quần chúng - đó chính là hành động chống phong kiến để giải phóng những lực lượng sản xuất của dân tộc đang bị kìm hãm, đem lại tự do, hạnh phúc và bình đẳng cho những con người đang quằn quại trong sự áp bức của xã hội phong kiến đương thời [105, tr.
Thứ ba vì “Truyện Kiều” đạt tới một nghệ thuật tính cao độ. Trong “Truyện Kiều”, cách sáng tạo và kết cấu những nhân vật, cách xây dựng những hình ảnh, cách miêu tả những cảnh vật vừa có tính cách tạo hình vừa súc tích tình cảm, cách vận dụng âm thanh của ngôn ngữ và nhịp điệu của lời nói, cách phô diễn trong sáng, gọn gàng, điều độ và chính xác, cách Việt hóa những điển tích mượn của nước ngoài… đều đã chứng tỏ rằng Nguyễn Du am hiểu đến ngọn ngành lối cảm nghĩ, phô diễn của nhân dân còn lưu lại trong kho tàng văn thơ truyền khẩu [105, tr. Thứ tư vì “Truyện Kiều” còn có tác dụng tốt trong hiện tại. Ngày nay, “Truyện Kiều” vẫn là “món ăn tinh thần” bổ ích của đại chúng.
Đọc “Truyện Kiều”, chúng ta vẫn học tập được lòng căm thù của Nguyễn Du đối với những chế độ xã hội bóc lột và đè nén con người. Nhà thơ vẫn truyền được cho chúng ta lòng khao khát, thiết tha tự do, công bằng và nhân đạo [105, tr. Tóm lại, theo tác giả, với bốn yếu tố trên, “Truyện Kiều” thật xứng đáng được mệnh danh là một tác phẩm cổ điển tiêu biểu của văn học Việt Nam. Nó kết tinh được truyền thống văn học tiến bộ của dân tộc đã được biểu hiện trong văn chương truyền khẩu của nhân dân.
Nó tập hợp một cách có sáng tạo tất cả những nét tinh hoa của các tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam xuất hiện trước đó [105, tr. - Phan Ngọc, Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2003 [58]. 17 Đây là công trình tiêu biểu của GS. Phan Ngọc nghiên cứu về “Truyện Kiều” của Nguyễn Du.
Với những giá trị khoa học mà nó đem lại, công trình của ông đã được tặng giải thưởng nhà nước về văn hóa Việt Nam năm 2000. Trong công trình này, Phan Ngọc đã cố gắng làm rõ và chỉ ra phong cách riêng có hoàn toàn của Nguyễn Du khi viết “Truyện Kiều”. Ông viết: “Trong việc nghiên cứu Nguyễn Du chúng ta đã đạt được nhiều thành tích. Đặc biệt trong các công trình nghiên cứu “Truyện Kiều”, có một số thuộc loại xuất sắc đã nghiên cứu công phu về các mặt tư tưởng, ngôn ngữ, nghệ thuật của tác giả, và đã đóng góp phần tích cực vào lý luận phê bình của chúng ta.
Song riêng mặt phong cách của Nguyễn Du trong “Truyện Kiều”, tuy đã có những bài viết đáng chú ý đề cập đến một vài đặc điểm của phong cách nhà thơ, nhưng nhìn chung chưa có một công trình ngôn ngữ học về toàn bộ phong cách Nguyễn Du trong “Truyện Kiều” [58, tr. Và vì vậy, theo ông, muốn nghiên cứu phong cách Nguyễn Du phải làm nhiều việc. Thứ nhất, phải xây dựng lại các khái niệm của môn phong cách học. Thứ hai, phải tìm ra được những đặc điểm tiêu biểu của thiên tài Nguyễn Du về mặt nội dung không lặp lại ở người khác.
Thứ ba, tiếp cận tác phẩm một cách hình thức và chứng minh chính hình thức tác giả lựa chọn là thích hợp nhất để diễn đạt nội dung này [58, tr. Trên cơ sở đó, tác giả Phan Ngọc đã chia công trình của mình thành chín nội dung chính gồm: Chung quanh vấn đề tư tưởng của “Truyện Kiều”; Phương pháp tự sự của Nguyễn Du; “Truyện Kiều”, tiểu thuyết phân tích tâm lý; Một vài vấn đề nhận thức luận chung quanh “Truyện Kiều”; Cách bố cục “Truyện Kiều” theo yêu cầu của kịch; Câu thơ “Truyện Kiều”; Ngôn ngữ “Truyện Kiều”; Ngữ pháp “Truyện Kiều”; Phong cách học và phân tích văn học. Để có thể thực hiện được những nội dung đó, Phan Ngọc đã không xem xét “Truyện Kiều” một cách cô lập (như tự nhận xét của tác giả) mà cố gắng áp dụng nhất quán những thao tác sau: 18 Thứ nhất, xét tần số lặp đi lặp lại của một hiện tượng. Một hiện tượng phải lặp đi lặp lại đến một tần số nhất định mới được chú ý đến.
Đó là vì phong cách là sự lặp đi lặp lại của một chùm những nét khu biệt. Thứ hai, sau khi rút ra những nét khu biệt, Phan Ngọc xem xét chúng qua hai trục lịch sử và thời đại. Xem qua trục lịch sử để xem những nét khu biệt đó có phải là mới hay không. Nếu những nét này đã có, đã quen thuộc trong lịch sử, thì tức là nó không tiêu biểu cho Nguyễn Du.
Chỉ những yếu tố mới, sáng tạo đối với lịch sử thì mới được bóc tách và thừa nhận. Khi cái nét được tách ra là mới đối với lịch sử, tác giả sẽ khảo sát nó theo trục thứ hai, trục thời đại tác giả - tức là xem xét nó trong mối quan hệ với thời đại. Qua sự xem xét “Truyện Kiều” với thời đại Nguyễn Du, chúng ta sẽ thấy những cách nhìn chung giữa Ông và thời đại của mình. Và theo Phan Ngọc, ông cũng gạt bỏ luôn cả những gì chung cho thời đại với Nguyễn Du.
Đó là vì cống hiến nghệ thuật ở đây dẫu sao cũng chưa thực sự là của tác giả. Qua sự đối lập này Phan Ngọc đã rút ra những đóng góp riêng của tác giả “Truyện Kiều” mà thời đại không đạt được, cái đã tạo nên sự thiên tài trong tác phẩm của Nguyễn Du [58, tr. - Lê Nguyên Cẩn, Tiếp cận Truyện Kiều từ góc nhìn văn hoá, Nxb Thông tin và Truyền thông, 2011 [6]. Trong công trình này, tác giả cho rằng “Truyện Kiều” không chỉ đơn thuần là một câu chuyện về một con người , một cuộc đời, một số phận mà nó trải rộng ra với một tấm lòng, một cốt cách, một tinh thần Việt Nam.
“Truyện Kiều” tạo ra cách nhìn dân tộc, làm toát lên vẻ đẹp tâm hồn của con người Việt Nam, làm say đắm lòng người độc giả mỗi thời đại [6, tr. Để có thể hiểu sâu hơn nữa, làm sáng tỏ hơn nữa những giá trị tinh thần mà tác phẩm này đem lại, tác giả Lê Nguyên Cẩn đã tiếp cận và nghiên cứu “Truyện Kiều” dưới góc độ văn hóa. Theo tác giả, dưới góc độ văn hóa thì tác 19 phẩm văn học là một trong những kết tinh cao nhất văn hóa của một dân tộc. Vì vậy, tác giả đã “xác lập các mô hình thế giới được tạo ra trong tác phẩm để từ đó làm nổi bật thân phận và diện mạo của nhân vật Thúy Kiều.
Từ đó điểm lại những thăng trầm chìm nổi của nhân vật trong bể trầm luân suốt mười lăm năm. Rồi từ đó đưa ra nhận xét về một tấm lòng nhân hậu mang vẻ trẻ đẹp vị tha, thuần Việt xuyên suốt chiều dài tác phẩm” [6, tr. Với sự khu biệt ấy, tác giả cho rằng “Truyện Kiều” là một sự tổng hợp của bốn mạch truyện gồm: Mạch thứ nhất là câu chuyện tình yêu đầy éo le, trắc trở (tình là dây oan) giữa Thúy Kiều và Kim Trọng; Mạch thứ hai là cuộc chiến giữa tài sắc và xã hội, giữa thế giới các mỹ nhân và thế giới các tiện nhân. Kiều nổi lên trước hết là sắc đành đòi một tài đành họa hai mà hại thay mang lấy sắc tài làm chi.
Mạch kể này cũng cho thấy cuộc đụng độ giữa những thành kiến xã hội và những con người tài hoa trong xã hội đó. Mạch thứ ba là xung đột giữa tài và mệnh (tài mệnh tương đố). Mạch thứ tư liên quan đến thân mệnh tương đố đi liền với chữ thân (Đã mang lấy nghiệp vào thân; làm cho cho hại cho tàn cho cân). Các mạch truyện này được đan lồng vào nhau, tạo ra tính chất tầng tầng lớp lớp, tạo ra tính chất phức hợp cho tác phẩm này [6, tr.
Tuy nhiên, như tác giả đã tự nhận xét, tiếp cận “Truyện Kiều” từ góc nhìn văn hóa là một vấn đề lớn, hàm chứa nhiều khó khăn, không dễ giải quyết trọn vẹn ngay một lúc, một thời. Công trình của chúng tôi cũng chỉ dừng ở mức độ khởi đầu với những thu hoạch qua sự cảm nhận bước đầu về tác phẩm nổi tiếng này. Bảo vệ văn hóa dân tộc trong quá trình hội nhập là một việc làm không đơn giản.