Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Phật giáo Quảng Nam thế kỉ XVII – XIX" do nghiên cứu sinh Lê Xuân Thông thực hiện tại Trường Đại học Khoa học – Đại học Huế (năm 2018), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Bùi Thị Tân, thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 66 22 03 13).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Phật giáo truyền vào Việt Nam khoảng hai ngàn năm, gắn bó mật thiết với tiến trình lịch sử và văn hóa dân tộc. Tại xứ Quảng, từ nửa đầu thế kỉ XVII đã ghi nhận sự hiện diện của nhiều thiền sư người Việt đến hoằng hóa (tiêu biểu như Huệ Đạo Minh, Minh Châu Hương Hải). Đến cuối thế kỉ XVII – đầu thế kỉ XVIII, thương cảng Hội An và danh thắng Ngũ Hành Sơn trở thành nơi tiếp nhận các thiền sư Trung Hoa thuộc hai phái Lâm Tế và Tào Động sang lập đạo tràng, tiêu biểu là sự hình thành dòng thiền nội sinh Lâm Tế Chúc Thánh do thiền sư Minh Hải Pháp Bảo sáng lập tại chùa Chúc Thánh (Hội An), sau đó lan tỏa ra khắp vùng Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Cùng với hệ thống tự viện của tăng ni, các ngôi chùa dân gian tại làng xã chiếm giữ vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh, xã hội của cư dân.

Mặc dù có vị trí quan trọng, trước thời điểm luận án thực hiện, các công trình nghiên cứu về Phật giáo Quảng Nam chủ yếu dừng lại ở diện mạo tản mát, khảo cứu cục bộ từng nhân vật, ngôi chùa hoặc phân tích một vài khía cạnh rời rạc. Chưa có công trình khoa học nào khảo cứu một cách cơ bản, toàn diện và có hệ thống về tiến trình lịch sử, diện mạo, đặc điểm và vai trò của Phật giáo trên vùng đất Quảng Nam suốt ba thế kỉ (XVII – XIX). Luận án được triển khai nhằm giải quyết khoảng trống học thuật này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là dựng lại bức tranh toàn cảnh về quá trình truyền nhập, vận động, biến đổi và phát triển của Phật giáo trên vùng đất Quảng Nam từ thế kỉ XVII đến thế kỉ XIX trong tính hệ thống và toàn diện.

Để hoàn thành mục tiêu trên, tác giả xác định 4 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Nghiên cứu quá trình truyền nhập, vận động biến đổi và phát triển của các thiền phái.
  2. Nghiên cứu vấn đề tổ chức, hoạt động Phật sự, nghi lễ và sinh hoạt của đội ngũ tăng ni.
  3. Nghiên cứu hệ thống chùa chiền với các nội dung về xây dựng, kiến trúc và thờ tự.
  4. Nghiên cứu đánh giá đặc điểm, vai trò của Phật giáo Quảng Nam từ thế kỉ XVII đến thế kỉ XIX, trong đó chú trọng so sánh điểm chung - riêng và làm rõ tác động xã hội.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Phật giáo Quảng Nam, trọng tâm là sự biến đổi của các phái thiền, hoạt động hoằng pháp, sinh hoạt sơn môn của tăng ni, cùng hệ thống chùa chiền (phân định giữa chùa chính thống và chùa dân gian).
  • Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng hiện nay. Không gian này bắt nguồn từ thực tế lịch sử: suốt các thế kỉ XVII, XVIII và XIX, hai địa phương này thuộc cùng một đơn vị hành chính cấp dinh/trấn/tỉnh có tên gọi Quảng Nam (năm 1803 tách Quảng Ngãi, Bình Định; năm 1888 Pháp lập khu nhượng địa Đà Nẵng diện tích khoảng 10.000 ha gồm 5 xã). Về mặt địa - sử - văn hóa, đây là một thực thể thống nhất (xứ Quảng).
  • Phạm vi thời gian: Từ đầu thế kỉ XVII (mốc xây dựng hai chùa Long Hưng năm 1602 và Bảo Châu năm 1607 thời chúa Nguyễn Hoàng) đến cuối thế kỉ XIX (thời điểm chuyển giao trước khi phong trào chấn hưng Phật giáo đầu thế kỉ XX xuất hiện).
  • Phạm vi chủ thể: Tập trung vào Phật giáo của cộng đồng người Việt – chủ thể chiếm tuyệt đại đa số cư dân trên vùng đất Quảng Nam.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Lịch sử nghiên cứu Phật giáo Quảng Nam được tác giả tổng thuật theo hai giai đoạn:

Giai đoạn trước năm 1975:

  • Ngũ Hành Sơn lục (1916) của Hồ Thăng Doanh, thiền sư Ấn Lan Tổ Huệ Từ Trí và cộng sự: Tài liệu chữ Hán ghi chép khái lược về danh lam, thiền tăng, nghi lễ và thờ tự tại Ngũ Hành Sơn thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX.
  • Các bài viết trên Tạp chí Những người bạn cố đô Huế (B.A.V.H) của học giả người Pháp: Henri Cosserat với Chùa Long Thủ ở Tourane (1920) khảo cứu văn bia chùa Thủ Long; Albert Sallet với Núi đá hoa cương (Ngũ Hành Sơn) (1924) ghi nhận diện mạo chùa chiền, sư tăng và nghi lễ.
  • Thích Chơn Phát với Sử liệu danh tăng - Tự viện - Thắng cảnh Phật giáo Quảng Nam (1970) và Thích Hương Sơn với Lịch sử Ngũ Hành Sơn - chùa Non Nước (1972): Cung cấp các thông tin sơ lược về chùa chiền, phổ hệ truyền thừa tại Ngũ Hành Sơn.

Giai đoạn từ năm 1975 đến đầu năm 2017:

  • Các bộ thông sử Phật giáo: Việt Nam Phật giáo sử luận (tập II, 1978) của Nguyễn Lang; Lịch sử Phật giáo Việt Nam (1988) của Viện Triết học; Lịch sử Phật giáo Đàng Trong (1993) của Nguyễn Hiền Đức (dành riêng chương VII khảo sát dòng Lâm Tế Chúc Thánh).
  • Nghiên cứu nhân vật Phật giáo: Lê Mạnh Thát với Toàn tập Minh Châu Hương Hải (2000) khảo cứu văn bản học về hành trạng và tác phẩm của thiền sư Hương Hải; Thích Như Tịnh với Hành trạng chư thiền đức xứ Quảng (2008), Lịch sử truyền thừa thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh (2009), Danh tăng núi Ngũ Hành (2017).
  • Khảo cứu văn bia, tư liệu địa phương: Các luận văn của Trương Văn Bá (1995), Thích Hạnh Thiện (2001), Thích Giải Nghiêm (2005); các sách địa phương của Nguyên Lam Chân Tuệ Định (2008), Thích Đức Trí (2013); các bài nghiên cứu văn bia của Ngô Quốc Trưởng (Đại đức Thích Đồng Dưỡng) từ 2009 về bia chùa Phú Thuận, Minh Giác, Thái Bình tự, Thiên Đức, Hội Phước; nghiên cứu của Phạm Văn Tuấn (2017) và luận án tiến sĩ của Nguyễn Hoàng Thân (2014) về văn bia Hán Nôm Quảng Nam.

Khoảng trống luận án giải quyết

Kế thừa các thành tựu trên, luận án tập trung giải quyết 5 vấn đề còn tồn tại:

  1. Xác định mạch nguồn Phật giáo Đại Việt nửa đầu thế kỉ XVII qua tư liệu văn bia về thiền sư Huệ Đạo Minh và các thiền sư cùng thời, gắn kết với sự nghiệp của thiền sư Minh Châu Hương Hải.
  2. Khảo đính sự truyền nhập của các thiền phái Trung Hoa cuối thế kỉ XVII – đầu thế kỉ XVIII, làm rõ vai trò của Quốc sư Hưng Liên (Tào Động), hành trạng thiền sư Đương Cơ Chân Dĩnh, thời điểm sang Đàng Trong của thiền sư Minh Hải Pháp Bảo và Minh Lượng Thành Đẳng (Lâm Tế), đính chính sai sót trong thư tịch cổ về chuyến đi của Thạch Liêm (1695).
  3. Làm rõ tổ chức sơn môn, đời sống tu học và nghi lễ Phật sự của tăng ni thế kỉ XIX.
  4. Phân loại, khảo sát có hệ thống kiến trúc, điền sản, quy cách thờ tự của hệ thống chùa chính thống và chùa dân gian.
  5. Đúc kết hệ thống đặc điểm và vai trò xã hội của Phật giáo Quảng Nam giai đoạn XVII – XIX.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung khái niệm và phân loại

Luận án tiếp cận ngôi chùa từ bản chất là một thiết chế tín ngưỡng - tôn giáo, lấy đối tượng sử dụng trực tiếp làm tiêu chí phân loại chính:

  • Chùa chính thống: Cơ sở tôn giáo do tăng ni trực tiếp sử dụng tu trì, hoằng pháp; thường do tăng ni khai sơn hoặc tiếp nhận quản lý (gồm tổ đình, chùa công, quan tự).
  • Chùa dân gian: Cơ sở do dân chúng làng xã xây dựng, quản lý và sử dụng; gắn liền với đơn vị làng xã cụ thể, dung hợp giữa phụng thờ Phật giáo với tín ngưỡng dân gian và văn hóa làng.
Tiêu chí phân biệt Chùa chính thống Chùa dân gian
Chủ thể sử dụng Tăng ni tu hành Dân chúng làng xã
Chủ thể xây dựng / quản lý Tăng ni, nhà nước hoặc tín đồ cúng giao Dân làng tự quyên góp, bầu ban trị sự/hương lý quản lý
Không gian phân bố Đô thị, làng quê, trên núi cao, nơi hẻo lánh Nằm trong khuôn viên không gian cư trú của làng xã
Chức năng chủ đạo Tu trì giới luật, hành đạo, đào tạo tăng đồ Cầu an, cầu phúc, tế tự tiền hiền, sinh hoạt cộng đồng

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp lịch sử và phương pháp logic: Hai phương pháp chủ đạo của khoa học lịch sử, được dùng đan xen để phác dựng tiến trình khách quan và khái quát hóa bản chất của Phật giáo xứ Quảng.
  • Phương pháp so sánh: So sánh lịch đại (giữa các thế kỉ XVII, XVIII và XIX) và đồng đại (giữa Phật giáo xứ Quảng với Đàng Ngoài, Thuận Hóa, Nam Bộ).
  • Phương pháp mô hình hóa: Ứng dụng trong việc tái hiện sơ đồ mặt bằng kiến trúc vì kèo, vì chồng rường và cách bài trí ban thờ tại các tự viện (Tam Thai, Linh Ứng, Phước Lâm, Hải Tạng, Phổ Khánh).
  • Phương pháp định lượng: Khảo sát số lượng văn bia, thống kê làng xã, điền sản tam bảo, khối lượng hiện vật cúng dường.
  • Phương pháp liên ngành: Khảo cổ học, nghệ thuật học (giám định phong cách tượng thờ, văn khắc chuông đồng, hoa văn trang trí), tôn giáo học và văn bản học Hán Nôm.
  • Phương pháp điền dã: Thực hiện trong các năm 2013, 2014, 2015 tại các di tích, chùa tháp trên địa bàn Quảng Nam và Đà Nẵng để đối chiếu văn bản với hiện trường.

Nguồn tư liệu

  • Thư tịch cổ: Chính sử triều Nguyễn (Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Đại Nam liệt truyện, Đại Nam nhất thống chí, Châu bản triều Nguyễn); sách của tác giả đương thời (Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán, Kiến văn tiểu lục, Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, Ô châu cận lục của Dương Văn An); thư tịch Phật giáo (Hương Hải thiền sư ngữ lục, Ngũ Hành Sơn lục, các điệp thế độ, pháp quyển, phái quy y, bản kê khai tự viện).
  • Tư liệu văn khắc cổ: Hơn 50 đơn vị văn bia Hán Nôm từ thời chúa Nguyễn đến triều Nguyễn (tiêu biểu: bia Phổ Đà 1640, bia Ngũ Uẩn 1631, bia Linh Sơn 1643/1654, bia Minh Giác 1672, bia Bảo Khánh 1696/1721...); minh văn chuông đồng (chùa Hải Tạng, Tây Linh, Phúc Hải, Thanh Khê, Từ Vân); hoành phi, câu đối, văn khắc xà cò.
  • Tư liệu vật chất: Kiến trúc gỗ cổ truyền, tháp mộ thiền sư, tượng Phật, đồ thờ tự.
  • Tư liệu dân gian và điền dã: Địa bạ, hương ước làng xã thời Nguyễn, gia phả dòng họ (như gia phả tộc Trang ở Hải Châu), truyền thuyết, giai thoại dân gian thu thập trực tiếp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và nguồn tài liệu

Chương này đánh giá toàn diện lịch sử nghiên cứu vấn đề qua các giai đoạn trước 1975 và từ 1975 đến đầu năm 2017. Tác giả chỉ ra các thành quả đã đạt được trong việc nghiên cứu dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh và danh tăng Ngũ Hành Sơn, đồng thời xác lập 5 nhóm vấn đề còn bỏ ngỏ cần luận án giải quyết. Tiếp đó, chương 1 phân tích giá trị, phương pháp tiếp cận và mức độ tin cậy của 5 nhóm tư liệu: thư tịch cổ, văn khắc Hán Nôm (văn bia, minh chuông), di tích kiến trúc và tượng thờ vật chất, công trình khoa học của người đi trước, cùng dữ liệu điền dã thực địa qua 3 năm (2013–2015).

Chương 2: Phật giáo Quảng Nam thế kỉ XVII – XVIII

Nội dung chương 2 làm sáng tỏ các chặng đường phát triển của Phật giáo xứ Quảng qua các luận điểm chính:

  • Bối cảnh lịch sử: Quá trình xác lập lãnh thổ từ năm 1471 dưới thời Lê Thánh Tông tạo tiền đề cho sự hình thành làng xã. Đến nửa sau thế kỉ XVIII, hai phủ Điện Bàn và Thăng Hoa có 8 huyện với 779 xã, thôn, phường, giáp (tăng mạnh so với 66 làng thời Dương Văn An thế kỉ XVI). Trong bối cảnh Nho giáo phát triển yếu ớt, Ki Tô giáo bị cấm đoán (từ thời chúa Nguyễn Phúc Lan sau năm 1635), các chúa Nguyễn chủ động tín mộ và bảo trợ Phật giáo nhằm ổn định nhân tâm, quy tụ lưu dân.
  • Mạch nguồn Phật giáo thiền Đại Việt: Dựa trên văn bia Ngũ Uẩn (1631) và bia Phổ Đà (1640), luận án xác định thiền sư Huệ Đạo Minh tu trì tại Ngũ Hành Sơn thuộc truyền thống thiền Trúc Lâm Yên Tử, hành trì kết hợp yếu tố Tịnh Độ tông (qua bài văn phát nguyện Nhất tâm quy mạng của Từ Vân Tuân Thức). Văn bia Phổ Đà ghi nhận danh sách 81 tín hữu cúng dường lượng tài sản lớn (1.915 quan tiền đồng, 65 lạng bạc nén, 570 cân đồng), trong đó có 10 người Nhật Bản và 3 người Trung Hoa, phản ánh tính chất mở và quan hệ mật thiết giữa Phật giáo Ngũ Hành Sơn với thương cảng Hội An. Các thiền sư Tuệ Lâm Đức, Tuệ Minh Quan (bia chùa Linh Sơn 1643, 1654), Huệ Quang Minh (bia chùa Minh Giác 1672) tiếp tục khẳng định sự hiện diện của mạch thiền Đại Việt.
Dữ kiện văn bia Phổ Đà (Năm Canh Thìn - 1640) Số lượng / Nội dung chi tiết
Tổng số tín thí cúng dường 81 người
Tín thí người Việt 68 người (thuộc các huyện Hòa Vang, Điện Bàn, Hội An...)
Tín thí người nước ngoài 13 người (10 người Nhật Bản, 3 người Trung Hoa)
Tiền đồng quyên góp 1.915 quan tiền đồng
Bạc nén cúng dường 65 lạng bạc
Đồng đúc tượng/khí cụ 570 cân đồng
  • Thiền sư Minh Châu Hương Hải (1628 – 1715): Sinh tại Thăng Hoa (Quảng Nam), đỗ hương tiến, xuất gia năm 1652. Trong 8 năm tu hành tại đảo Tiêm Bút La (Cù Lao Chàm), sư kết hợp Thiền với Mật giáo (trì chú, quán tưởng lửa tam muội) và Tịnh Độ để hoằng hóa, chữa bệnh cứu dân. Dù nhận truyền thừa theo kệ phái Lâm Tế (dòng Trí Bản Đột Không), thực chất tư tưởng của Hương Hải mang đậm bản sắc thiền Trúc Lâm Yên Tử.
  • Các thiền phái Trung Hoa du nhập:
    • Tào Động: Thiền sư Hưng Liên Quả Hoằng đến trụ trì chùa Tam Thai, được phong Quốc sư; thầy của ngài là Thạch Liêm sang Đàng Trong năm 1695 theo lời thỉnh cầu của chúa Nguyễn Phúc Chu và thư riêng của Hưng Liên (luận án đính chính nhận định sai của Quốc sử quán triều Nguyễn cho rằng Thạch Liêm sang cùng Nguyên Thiều thời chúa Nguyễn Phúc Thái).
    • Lâm Tế: Các thiền sư Minh Hải Pháp Bảo, Minh Lượng Thành Đẳng, Đương Cơ Chân Dĩnh truyền bá giáo lý tại Hội An và vùng phụ cận.
  • Dòng thiền nội sinh Lâm Tế Chúc Thánh: Do Sơ tổ Minh Hải Pháp Bảo sáng lập tại chùa Chúc Thánh (Hội An) với bài kệ truyền phái riêng biệt (Minh thiệt pháp toàn chương...), nhanh chóng phát triển mạnh mẽ và trở thành tông phái chủ đạo tại xứ Quảng suốt thế kỉ XVIII.
  • Chùa dân gian thế kỉ XVII – XVIII: Được dựng lên khắp các làng xã, gắn liền với thiết chế văn hóa nông thôn, bài trí thờ Phật kết hợp thờ thần linh bản địa và tiền hiền khai khẩn.

Chương 3: Phật giáo Quảng Nam thế kỉ XIX

  • Chính sách của triều Nguyễn: Sau khi thống nhất đất nước, nhà Nguyễn định đô tại Phú Xuân, lấy Nho giáo làm hệ tư tưởng chính thống nhưng vẫn quản lý và bảo trợ Phật giáo có chọn lọc. Triều đình sắc phong "quan tự", cấp kinh phí trùng tu các danh lam như chùa Tam Thai, Linh Ứng (Ngũ Hành Sơn), ban hành chế độ "giới đao độ điệp" để kiểm soát số lượng tăng đồ xuất gia.
  • Sinh hoạt sơn môn và nghi lễ: Tổ chức sơn môn hình thành chặt chẽ theo tông phái Chúc Thánh và Liễu Quán; tổ chức các đại giới đàn truyền giới, trai đàn chẩn tế cầu siêu, đáp ứng nhu cầu tâm linh xã hội sau thời gian chiến tranh loạn lạc.
  • Các danh tăng tiêu biểu: Khảo cứu tiểu sử, hành trạng và đóng góp của 4 cao tăng: Tiên Thường Viên Trừng (1777 – 1853), Toàn Nhâm Vi Ý Quán Thông (1798 – 1883), Ấn Bổn Tổ Nguyên Vĩnh Gia (1840 – 1918), Ấn Lan Tổ Huệ Từ Trí (1852 – 1921).
  • Diện mạo chùa chiền thế kỉ XIX:
    • Chùa chính thống: Hệ thống quan tự và tổ đình được mở rộng quy mô.
    • Chùa dân gian: Phong trào trùng tu, đúc chuông, dựng bia diễn ra sôi nổi tại hầu khắp các làng xã nông thôn.
    • Kiến trúc và thờ tự: Phổ biến hệ kết cấu khung gỗ vì chồng rường (như chùa Hải Tạng trên Cù Lao Chàm) và vì kèo (như chùa Phổ Khánh). Sơ đồ thiết trí chính điện phân bổ theo trục dọc: Tiền Phật hậu Tổ, phối thờ Bồ Tát, Hộ Pháp, Thập Điện Diêm Vương và Tiền hiền, Hậu hiền của làng.

Chương 4: Đặc điểm, vai trò Phật giáo Quảng Nam thế kỉ XVII - XIX

  • Bốn đặc điểm cơ bản:
    1. Tính cởi mở, bình dân và gần gũi: Phật giáo hòa nhập vào lối sống mộc mạc của cư dân nông nghiệp và thương nhân xứ Quảng.
    2. Sự hòa quyện nhiều thiền phái và yếu tố Phật giáo: Đan xen giữa Trúc Lâm Yên Tử, Tào Động, Lâm Tế và Lâm Tế Chúc Thánh; dung hợp chặt chẽ ba yếu tố Thiền tông, Tịnh Độ tông và Mật tông.
    3. Sự dung hợp tôn giáo và văn hóa: Tiếp biến hài hòa tư tưởng Tam giáo đồng nguyên (Nho - Phật - Đạo), dung hợp tín ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng dân gian của người Việt và tiếp thu yếu tố văn hóa Chămpa bản địa.
    4. Tính phổ quát song hành với sắc thái địa phương: Vừa mang đầy đủ giá trị cốt lõi của Phật giáo dân tộc, vừa mang tính năng động, khai phóng của vùng đất mới Đàng Trong.
  • Bốn vai trò xã hội:
    1. Góp phần ổn định nhân tâm, tạo điểm tựa tinh thần vững chắc cho các thế hệ lưu dân trong công cuộc khai hoang lập ấp.
    2. Góp phần xây dựng chuẩn mực đạo đức xã hội nhân văn, hướng thiện và vị tha.
    3. Cố kết cộng đồng làng xã thông qua các lễ hội và sinh hoạt tâm linh chung.
    4. Làm giàu và đa dạng hóa các giá trị di sản văn hóa vật thể (chùa, tháp, tượng, bia ký) và phi vật thể của xứ Quảng.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học và lý luận

  • Hệ thống hóa toàn diện: Phác dựng hoàn chỉnh tiến trình lịch sử 300 năm của Phật giáo xứ Quảng từ đầu thế kỉ XVII đến cuối thế kỉ XIX.
  • Đính chính và làm rõ tư liệu lịch sử:
    • Giám định niên đại năm Tân Mùi trên bia Ngũ Uẩn là năm 1631 (không phải 1571 hay 1691), xác định thiền sư Huệ Đạo Minh hành đạo tại Ngũ Hành Sơn theo truyền thống Trúc Lâm Yên Tử.
    • Khẳng định chuyến sang Đàng Trong của Thạch Liêm diễn ra năm 1695 theo lời mời của Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu và Quốc sư Hưng Liên, đính chính sai lệch trong Đại Nam liệt truyện và công trình của Mật Thể.
    • Làm sáng tỏ hành trạng, vai trò của các danh tăng: Minh Hải Pháp Bảo, Minh Lượng Thành Đẳng, Đương Cơ Chân Dĩnh, Toàn Nhâm Quán Thông.
  • Đổi mới phân loại: Đưa ra tiêu chí phân định khoa học giữa hai loại hình chùa chính thống và chùa dân gian dựa trên đối tượng sử dụng trực tiếp.

Đóng góp thực tiễn và giải pháp đề xuất

  • Cung cấp cơ sở khoa học lịch sử cho các cơ quan quản lý văn hóa và chính quyền địa phương (Quảng Nam, Đà Nẵng) trong việc hoạch định chính sách tôn giáo.
  • Cung cấp luận cứ phục vụ công tác bảo tồn, trùng tu di tích kiến trúc chùa cổ, văn bia, chuông đồng và phát huy giá trị di sản văn hóa Phật giáo trong phát triển du lịch bền vững.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nguồn tư liệu: Do điều kiện khí hậu khắc nghiệt và chiến tranh tàn phá, các công trình kiến trúc và tượng thờ gỗ có niên đại thế kỉ XVII – XVIII hầu như không còn nguyên vẹn, việc xác định niên đại tượng cổ chủ yếu dựa trên đối chiếu phong cách nghệ thuật. Nguồn tư liệu Châu bản triều Nguyễn về Phật giáo địa phương mới được tiếp cận ở mức độ giới hạn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục khảo sát, sưu tầm các văn bản Hán Nôm tản mát trong dân gian (địa bạ, hương ước, gia phả dòng họ); mở rộng nghiên cứu không gian ảnh hưởng của dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh từ Quảng Nam vào các tỉnh Nam Trung Bộ và Nam Bộ.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cho nhiều đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên: Thuộc các chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Phật giáo, Văn hóa học, Tôn giáo học và Hán Nôm học.
  • Nhà nghiên cứu Phật học và tăng ni: Tìm hiểu về nguồn gốc, phổ hệ truyền thừa dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh và hành trạng chư vị danh tăng xứ Quảng.
  • Cơ quan quản lý di sản và văn hóa: Tham khảo danh mục văn bia, bản vẽ kỹ thuật kết cấu vì kèo, vì chồng rường (chùa Hải Tạng, Phổ Khánh) và sơ đồ thờ tự chính điện (chùa Phước Lâm, Tam Thai, Linh Ứng) phục vụ công tác quy hoạch, trùng tu di tích tôn giáo.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án căn cứ vào đâu để xác định thiền sư Huệ Đạo Minh tu hành tại Ngũ Hành Sơn theo truyền thống thiền Trúc Lâm Yên Tử?
Luận án căn cứ vào cách đặt pháp tự "Huệ Đạo Minh" (không thuộc bài kệ truyền thừa của Tào Động hay Lâm Tế truyền từ Trung Hoa vốn chỉ xuất hiện từ cuối thế kỉ XVII) cùng nội dung bài văn phát nguyện Nhất tâm quy mạng trên bia Ngũ Uẩn (1631). Bài văn này thể hiện sự kết hợp giữa Thiền và Tịnh Độ tông – nét đặc trưng của Phật giáo Đại Việt thời Trần.

2. Tiêu chí cốt lõi để phân biệt chùa chính thống và chùa dân gian trong luận án là gì?
Tác giả lấy đối tượng sử dụng trực tiếp làm căn cứ phân loại. Chùa chính thống là cơ sở do tăng ni trực tiếp sử dụng để tu trì giới luật và hoằng pháp. Chùa dân gian là cơ sở do dân chúng làng xã xây dựng, quản lý và sử dụng cho các sinh hoạt tín ngưỡng, cầu an và tế tự cộng đồng làng.

3. Vì sao nói tư tưởng của thiền sư Minh Châu Hương Hải mang đậm bản sắc Trúc Lâm dù ngài thuộc truyền thừa Lâm Tế?
Dù mang pháp tự theo bài kệ dòng Trí Bản Đột Không của phái Lâm Tế, thực tế tu trì của Hương Hải trong 8 năm tại Cù Lao Chàm và sau này ở Đàng Ngoài là sự dung hợp Thiền - Tịnh - Mật (dùng Mật chú trừ tà, lập Thiền Tịnh viện, lập Đàn Chuẩn Đề, dịch kinh giải nghĩa ra quốc ngữ), vốn là cấu trúc tu tập đặc trưng của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

4. Dữ kiện lịch sử nào chứng minh Phật giáo Ngũ Hành Sơn thế kỉ XVII có tính giao lưu quốc tế?
Nội dung văn bia chùa Phổ Đà khắc năm 1640 ghi nhận trong số 81 thiện nam tín nữ quyên góp tiền bạc, đồng đúc tượng tu sửa chùa, có 10 người Nhật Bản (3 thương nhân, 7 người sống tại phố Nhật ở Hội An) và 3 người Trung Hoa, bên cạnh các tín đồ người Việt.

5. Luận án đính chính điểm sai sót nào trong chính sử triều Nguyễn về thiền sư Thạch Liêm?
Đại Nam liệt truyện chép thiền sư Nguyên Thiều sang Trung Hoa thỉnh Thạch Liêm sang Đàng Trong thời chúa Nguyễn Phúc Thái (1687 – 1691). Luận án đối chiếu Hải ngoại kỷ sự và xác định Thạch Liêm sang Đại Việt vào đầu năm 1695 theo lời mời của Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu và thư riêng của đệ tử là Quốc sư Hưng Liên, không đi cùng thiền sư Nguyên Thiều.


Kết luận

Luận án "Phật giáo Quảng Nam thế kỉ XVII – XIX" của tác giả Lê Xuân Thông là công trình sử học được thực hiện nghiêm túc, dựa trên hệ thống tư liệu thư tịch cổ, văn khắc Hán Nôm và khảo sát điền dã phong phú. Tác giả đã phục dựng thành công bức tranh toàn diện về tiến trình truyền thừa của các dòng thiền, hệ thống chùa chiền và sinh hoạt tăng ni xứ Quảng suốt ba thế kỉ. Công trình làm rõ các đặc điểm dung hợp, cởi mở và vai trò quan trọng của Phật giáo đối với đời sống văn hóa, xã hội Quảng Nam thời phong kiến. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học tin cậy cho công tác nghiên cứu lịch sử tôn giáo và bảo tồn di sản văn hóa truyền thống tại địa phương.