CHƯƠNG I THỜI ĐẠI LÝ - TRAN VÀ PHẬT GIÁO THIÊN TONG THƠÌ LÝ - TRAN 1. Thời đại Lý - Trần : Nam quốc sơn hà Nam để cư Tiệt nhiên định phận tại thiên tut Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng lành khan thi bại hit Tiếng thd bên đòng sông Như Nguyệt ngày đó không chỉ là một ban tuyên ngôn độc lập ngoan cường góp phần làm nên chiến thắng ngoại xâm vào nim 1077 mà còn vang vọng mãi như một lời khẳng định, thách thức của một dân tộc đã nhiều lin phải “phat cờ khởi nghĩa" chống ngoại xâm. Đó còn là tiếng nói chủ quyền của một thời đại giữ nước và dựng nước hào hùng _ thời đại Lý - Trin. Năm 938, chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bach Dang đã thực sự mở ra một kỷ nguyên tự chủ cho nước nhà.
Thời gian này, chế độ phong kiến nước ta đã nhanh chóng củng cố, tập trung quyển kiểm soát vào tay triểu đình, kiện toần bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương. Trải qua liên tiếp mấy triểu Ngõ. Dinh, Tiên Lê, đến thời nhà Lý (1010), nước Đại Việt ta đã thực sự trở nên hùng mạnh vé mọi mặt. > Về chính trị - quân sự : Từ chiến thắng vẻ vang năm 938 đến những cuộc kháng chiến giữ nước của Lê Đại Hành, Lý Thường Kiệt, đặc biệt là ba lần đánh tan quân Nguyên — Mông của quan dân Đại Việt thời Tran đã chứng tỏ sức mạnh thực lực của nước ta, tạo uy thế lớn khiến các nước lân bang phải kiêng nể.
Những chiến thắng lẫy lừng đó đã giữ cho việc ngoại giao giữa hước ta và phong kiến phương Bắc ở thế ngàng bằng nhau : ta từ chối những yêu sách bất bình đẳng và đặt vấn để đòi lại đất đai bị lấn chiếm ở vùng biên giới.Những chiến thắng đó còn tạo nên một sinh khí sôi động, hào hùng trong nhân din, đẩy nền kinh tế, văn hod, piáo dục phát triển với tốc độ mau le nhất. > Vẻ kinh tế : Các nghề thủ công truyền thống như dệt, làm giấy, in, luyện sắt, đúc đồng, làm gốm. bị mai một trong thời Bắc thuộc đã được khôi phục lại và phát triển ngày một tỉnh xảo hea. Đặc biệt nghề chăn Uhm dét lụa ở đời Lý phát triển rất manh Kinh tế nông nghiệp phát triển nhờ vào những chính sách phù hợp của iriéu đình như : giảm thuế, đắp đê điều, tục cay tịch điển.
Nhiều công trình kiến trúc. điêu khắc ra đời với nghệ thuật tinh tế thể hiện được bản sắc dân tộc và bản lĩnh của thời đại. Biểu tượng réng thời Lý được khấc hoa kết hợp với nguyên mẫu rấn , thân đài uốn lượn nhịp nhàng tượng trưng cho sự ổn định của xã hội và toát lên nét mềm mại , hiển từ. Rồng thời Trần có phan uốn lượn thoải mái biểu trưng cho tính năng động của thời đại.
Đặc biệt vào thời này , nước ta có "An Nam tứ đại khí" : Tháp Báo Thiên , chuông Quy Điển , tượng Phật chùa Quỳnh Lim và vạc Phổ Minh là bốn công trình lớn. > VỀ giáo dục : Năm 1070, lập Văn miếu thờ Khổng Tử và các tién hiển của nho gia. Năm 1075 , nhà Lý mở khoa thi Nho dau tiên. Nho học bất đầu phát triển ở thời kỳ này.
Mặc dù thế , chế độ giáo dục - thi cử đòi hỏi người học phải có vốn tri thức sâu rộng, thiết thực và một bản lĩnh độc lập , sáng tạo, không dựa vào sách vở, không rập theo khuôn mẫu, giáo điểu. Tinh thần cởi mở táo bao nay không những đã đào tạo ra những người trí thức uyên thâm mà còn rèn luyện tính nang động của sĩ tử. Thời Trần, chữ Nôm bắt đầu được dùng để sáng tác, tiến tới giai đoạn chữ viết văn học. > Vẻ văn hóa - tư tưởng : Vào thời này , Văn hóa Văn nghệ dân gian được ưa chuộng từ déng ruộng đến nơi cung đình.
Theo Đại Việt Sử kí toàn thư , trong cung mỗi khi có yến tiệc , các vua quan ăn uống xong thường đứng lên múa hát theo những điệu dân gian , tay người nọ đặt lên vai người kia , chân người nọ dim lên chân người kia. không còn phân biệt ngôi thứ , phẩm cấp. Đó là những hình ảnh sinh động. hiếm thấy trong lịch sử phong kiến Đại Việt.
Vào những dịp lễ hội dân gian. các vua quan còn tham gia xem bơi chải, thi đấu vật, đá cầu. Chính điểu đó đã tạo nên một không khí thân dân, chan hòa mà không một triểu đại nào về sau có thể làm được. Điều này cũng góp phần lý giải vì sao nước ta trong thời Lý - Trần đã liên tiếp đánh thắng giặc ngoại xâm , đó chính là nhờ sức mạnh doin kết, trên dưới một lòng.
Thời Lý - Trấn , ngoài tin ngưỡng dân gian , đạo Phat , đạo Nho , đạo Lão. đều được tiếp nhận và tinh lọc với tinh thin cởi mở , sáng tao của con người thời đại. Đặc biệt thời kì này , Phật giáo đóng vai trò tích cực trong công cuộc xây dựng và bio vệ đất nước. Giáo lý Phật giáo khi vào Dai Việt đã được hòa quyện với tín ngưỡng dân gian , chịu ảnh hưởng của Nho giáo cũng như đạo Lão - Trang, trở thành một trong những nhân tế cơ bin ảnh hưởng sâu sắc đến hệ tư tưởng dân tộc.
Chính sách “Tam giáo đồng nguyên" là cơ sở làm nên hào khí của thời đại Lý - Trần : môi thời đại tip trung tất cả những tinh hoa trong tư tưởng con người Dai Việt : đức độ - trí tuệ - tình cảm. Nhữ vào hào khí đó, học phong đó và đựa trên nền kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục tiến bộ, hợp thời mà triểu đại Lý — Tran phát triển rực rỡ , vươn tới đỉnh cao của sự phén thịnh, để lại dấu ấn hoàng kim trong lịch sử phong kiến Đại Viet. Trong đó quan trọng nhất là tinh than của thời đại và bản lĩnh của mỗi con người. Đó là những con người vừa có thể làm vua, đồng thời là triết gía; vừa là chiến sĩ, vừa là thí sĩ ( Trần Nhân Tông) , Đó là những con người mặc áo cà sa” trụ tích trấn vương kì” (Thiền Sư Vạn Hạnh) , những vị võ tướng sử ý (Tue Trung Thượng Si).
Những con người làm bể tôi thì lấy trung làm dau, lấy nghĩa làm gốc. không vì hiểm khích riêng tư mà làm hỏng việc lớn (Trần Quốc Tuấn). Là Phil tử mà không cần theo giáo lý nhà Phật , gạt bỏ hết những giáo điều , ràng buộc. Những mối quan hệ xã hội đẩy nhân bản ấy đã tổng hòa nên nhân cách con người Đại Việt.
Đây là thời đại của chủ nghĩa nhân văn cao đẹp _ thời đại đã để lại cho đân tộc nhiều di san văn hóa có giá trị , đặc biệt là về hệ tư tưởng. Trong đó Phật giáo là một trong những yếu tố căn bản tạo thành tinh hoa và ban linh của dân tộc. Phật giáo Thiển Tông thời Ly - Tran: 3.Sơ lược về lịch sử Phật giáo và các tuyến du nhập vào nước ta : 2. Sơ lược : Phật giáo xuất hiện ở Ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ VI trước Công Nguyên.
Người sáng lập ra là thái tử Siddharta Gotama. Ngài đã từ bỏ ngai vàng và cuộc sông gidu sang trong cung điện để đi tìm con đường giải thoát cho người dân An Độ. Phật giáo khởi nguồn từ một đất nude có điểu kiện tự nhiên khắc nghiệt và có chế đỏ phân biệt đẳng cấp tàn nhẫn nhất. Chế độ đẳng cấp này như một mon nợ không bao giờ trả nổi đối với những người nô lệ từ thế hệ này sang thế hé khác.
Những nỗi đau khổ của người dân A n_Độ đã thôi thúc Siddharta xuất pia câu đạo. Sau bay năm lang thang , ngài đã giác ngộ được con đường giải thoát trong lúc dang ngồi suy tư dưới gốc cây bổ dé. “Con đường giải thoát” được ngài gọi là "con đường đi giữa” (trung dao) vì nó tránh được hai cực đoan : luc thú và khổ hạnh. Siddharta đã bác bỏ quan niệm về linh hồn bất tử , coi con người chỉ là sự tập hợp của các yếu tổ vật chất và không ngừng biến động , chuyển hóa.
Sau khi Siddharta mất , Phật giáo dấn chia thành nhiều tông phái. Nổi bat là hai tổng phát hin: Dai Thừa và Tiểu Thừa. Tông phái Tiểu Thừa phat triển ở miền Nam A n DG, truyền sang các nước SriLanKa, Miến Điện, Thái Lan, Campuchia, Lào. Tông phái Đại Thừa phát triển ở miền Bắc An Độ truyền sang các nước Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật Bản.
Các tuyến du nhập của Phật giáo vào nước ta : Nước ta nim trong bán đảo Đông Duong , giữa chiếc nôi của hai nền văn mình cổ đại xưa nhất Châu Á là Ấ n Độ và Trung Quốc nên tất nhiên sẽ chịu ảnh hưởng cả từ hai phía. Tuy nhiên rất nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Phật giáo truyền vào nước ta khoảng đầu Công Nguyên là bằng con đường tiếp nhận tự nguyện từ các thương buôn và các Giáo sĩ người A n trước khi Trung Quốc áp dung chính sách đồng hóa trong thời Bắc thuộc. Có hai con đường du nhập từ Ấn Độ : -Đường biển : Các thủy thủ và thương nhân Ấn Độ trên con đường đi tìm hương liệu , châu báu , quế tram. đã giong buém theo gió mùa Tây Nam đi vé vùng Đông Nam A , đến Mã Lai và quân đảo Nam Dương , qua eo biển Malanca vào biển Đông đến Việt Nam rồi lên Trung Hoa , Nhật Bản.
Trong thời gian chờ gió mùa Đông Bắc để trở về , họ đã ở lại sinh sống và buôn bán trên các địa phương này. Và quá trình giao lưu văn hóa đã diễn ra giữa họ và người dân bản dia. Đường bộ : Các thương nhân Ấn Độ có thể chuyển hàng qua eo đất Kra và bán đảo Mã Lai, đi theo các tuyến đường bộ nối lién biển nọ với biển kia. Các thương nhân Trung Ấn thì theo đường bộ ngang qua đèo Ba Chuà , giong huồm theo sông Kanburi xuống châu thổ Ménam.
Những điểu kiện địa lý trên cho phép kết luận Phật giáo buổi đầu được truyền trực tiếp từ Ấn Độ sang nước ta bằng con đường tiếp nhận tự nguyện thông qua quá trình giao lưu văn hóa từ những thủy thủ và các thương nhân Ấn .